UNG THƯ VÚ: Nguyên nhân và cách điều trị

17 Tháng Tám, 2017
163

Ung thư vú là một căn bệnh hay gặp và chiếm tỷ lệ tử vong hàng đầu trong số các ung thư của nữ giới ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam tỷ lệ mắc ước tính là 17,4/100.000 dân, tại phía Bắc, ung thư vú chiếm hàng đầu trong số các ung thư ở nữ, còn Ở phía Nam, căn bệnh này đứng sau ung thư cổ tử cung.

Ung thư vú là một trong số các bệnh ung thư phổ biến nhất

Cho đến nay y học đã đạt được rất nhiều tiến bộ trong nghiên cứu cơ chế sinh bệnh học ung thư vú cũng như các biện pháp điều trị bệnh. Điều trị ung thư vú hiện nay là sự kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp điều trị tại chỗ, tại vùng bằng phẫu thuật, tia xạ với các phương pháp toàn thân bằng hóa chất, nội tiết và sinh học. Đặc biệt là phải có một chế độ dinh dưỡng tốt để nâng cao thể trạng bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị

I, UNG THƯ VÚ LÀ GÌ?

Bệnh Ung Thư Vú là loại bệnh xuất hiện khi các tế bào (ung thư) ác tính bị phát hiện trong các mô của vú. Các tế bào ung thư này sau đó phát tán trong các mô hoặc cơ quan và di căn sang các phần khác của cơ thể.

II, NGUYÊN NHÂN

Theo Hội Liên Hiệp Kiểm Soát Ung Thư Quốc Tế thì tỷ lệ ung thư vú ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ. Sau nhiều nghiên cứu, các nhà khoa học đã tìm ra các nguyên nhân chủ yếu làm tăng nguy cơ mắc bệnh này là:

  •  Tiền sử gia đình bị ung thư vú
  •  Có vài xáo trộn trong tuyến vú
  •  Sự đột biến của một số gene
  •  Chịu tác động lâu dài của oestrogen (phụ nữ có kinh trước 12 tuổi và mãn kinh sau 55 tuổi) 
  •  Dùng thuốc nội tiết trong thời gian dài; không sinh con hoặc có con đầu lòng sau 30 tuổi
  •  Không cho con bú mẹ
  •  Hút thuốc lá và uống rượu
  •  Ăn nhiều thịt, chất béo
  •  Cơ địa béo phì.

Phụ nữ thừa cân thuộc dạng nội hình (hình quả táo) tích trữ mỡ thừa ở vùng bụng và các cơ quan nội tạng, có nguy cơ ung thư vú cao hơn những phụ nữ thừa cân dạng trung bình (hình quả lê) trữ mỡ thừa ở hông và đùi, hoặc dạng ngoại thái (hình cọng giá).

Các yếu tố gia tăng nguy vơ mắc bệnh Ung Thư Vú :

  • Tuổi tác : Càng lớn tuổi thì nguy cơ ung thư vú càng cao. Phần lớn phụ nữ da trắng mắc bệnh ung thư vú ở tuổi 50 đến 60. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ gốc Việt tại Hoa Kỳ mắc bệnh ung thư vú ở số tuổi trung bình là 40 đến 50, tức là trẻ hơn 10 năm so với phụ nữ da trắng. Lý do của sự khác biệt này chưa làm sáng tỏ và sẽ là đề tài cho những cuộc nghiên cứu sau này về ảnh hưởng di truyền cũng như môi sinh trên nguy cơ mắc bệnh ung thư của các sắc dân khác nhau.
  • Tiểu sử bệnh lý gia đình: Những phụ nữ có mẹ, chị, em, hay con gái đã mắc bệnh ung thư vú thì nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Càng có nhiều thân nhân mắc bệnh ung thư vú thì nguy cơ càng gia tăng.
    – Hết kinh sau tuổi 55 .
    – Có kinh trước tuổi 12
  • Dinh dưỡng và rượu: Ăn thức ăn nhiều mỡ, cũng như rượu có thể làm gia tăng cơ hội mắc bệnh ung thư vú. National Cancer Institute (Viện Ung Thư Hoa Kỳ) khuyến khích phụ nữ nên dùng thức ăn ít mỡ, tập thể dục đều đặn, và chỉ nên dùng rượu có chừng mực
  • Sử dụng kích thích tố nữ sau khi tắt kinh trên năm năm: Những cuộc nghiên cứu mới nhất cho thấy phụ nữ dùng các loại thuốc như Prempro, Provera hay Premarin sau khi tắt kinh có thể làm gia tăng cơ hội mắc bệnh ung thư vú. Ngoài ra, những loại thuốc này còn có thể gia tăng cơ hội bị tai biến mạch máu não và nghẹt động mạch vành tim gây ra chứng máu nhồi cơ tim. Những loại thuốc này thường được dùng để giúp các bệnh nhân sau khi tắt kinh đỡ bị cáu kỉnh, buồn chán, nóng bừng, khi nóng khi lạnh, và đổ mồ hôi vào ban đêm. Nếu phụ nữ nào bị những chứng này thì có thể sử dụng những loại thuốc vừa nêu trên trong một thời kỳ ngắn, rồi từ từ ngưng lại khi cơ thể đã quen với sự tắt kinh. Nếu chỉ dùng thuốc trong thời gian ngắn, thì ta có thể giảm thiểu những triệu chứng trong những ngày tháng đầu của tắt kinh, mà cũng tránh gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú
  • Yếu tố di truyền ( BRCA – tức là chữ tắt của BReast CAncer gene): Phần lớn phụ nữ mắc bệnh ung thư vú không có yếu tố di truyền, và bệnh sử gia đình cũng không có ai mắc bất cứ loại ung thư nào cả. Tuy nhiên, có khoảng 15% phụ nữ mắc bệnh ung thư vú mang những yếu tố di truyền về ung thư gọi là BRCA 1 hay BRCA 2. Những phụ nữ này có những vấn đề đặc biệt riêng trong việc truy tầm, phòng ngừa, cũng như chữa trị ung thư vú.

III, CHUẨN ĐOÁN XÁC ĐỊNH UNG THƯ VÚ

1. Lâm sàng: 

khối u vú thường không gây đau, một số trường hợp có chảy dịch đầu vú (dịch máu hoặc dịch vàng chanh) u có mật độ cứng rắn, mặt gồ ghề, ranh giới có thể rõ hoặc không. Trong những trường hợp đến muộn, u có thể xâm lấn vào thành ngực làm hạn chế di động hoặc xâm nhiễm da tạo hình ảnh “sần da cam” hoặc vỡ loét, đôi khi ung thư vú cũng biểu hiện như một viêm tấy lan toả vùng vú (ung thư vú thể viêm).
Trong nhiều trường hợp bệnh nhân thường có hạch nách cùng bên, hạch có thể có các mức độ tổn thương từ mềm đến cứng hoặc xâm nhiễm dính vào xung quanh tuỳ theo mức độ tiến triển bệnh. Trong mọi trường hợp đều phải lưu ý khám hạch thượng đòn và tuyến vú đối bên.

2. Chụp X quang tuyến vú: 

Các cách chuẩn đoán ung thư vú

Tổn thương điển hình có dạng hình sao nhiều chân, co kéo tổ chức tuyến vú, có nhiều chấm vi can xi hoá tập hợp thành đám.

3. Xét nghiệm tế bào học: 

Thường thấy các tế bào ung thư mất sự kết dính, đa hình thái, tỷ lệ nhân/nguyên sinh chất tăng, nhiều nhân quái nhân chia, bào tương kiềm tính.
Khi cả ba phương pháp trong bộ ba kinh điển đều cho kết quả dương tính thì có thể đi đến chẩn đoán xác định. Nếu một trong ba phương pháp này nghi ngờ, bác sỹ lâm sàng có thể chỉ định sinh thiết kim, sinh thiết tức thì hoặc sinh thiết mở thường quy để khẳng định chẩn đoán.

4. Các phương pháp chuẩn đoán khác

+ Sinh thiết kim: cho phép lấy mảnh tổ chức làm xét nghiệm giải phẫu bệnh định typ mô bệnh học và các xét nghiệm cao cấp khác.
+ Sinh thiết tức thì: cho phép chẩn đoán xác định ung thư ngay khi bệnh nhân ở trên bàn mổ.
+ Sinh thiết mở: trong nhiều trường hợp chỉ phát hiện được ung thư sau khi đã phẫu thuật lấy u. Vì vậy, mọi trường hợp mổ u vú đấu bắt buộc phải kiểm tra giải phẫu bệnh khối u, đặc biệt là đối với các bệnh nhân trên 35 tuổi.
+ MRI ( Magnetic Resonance Imaging ) : Sử dụng những chấn động từ tính để chụp hình ba chiều các bộ phận trong cơ thể: MRI có thể được sử dụng để chụp hình vú nếu cần trong những trường hợp đặc biệt, khi mammogram hay siêu âm không có kết quả, MRI cũng có thể được dùng để truy tầm xem bệnh đã lây lan tới các cơ phận khác hay chưa.
+ PET Scan ( Positron Emission Tomography ) :
Sử dụng năng lượng phát ra từ hạt nhân positron hay hạt nhân dương tính để chụp hình: Một lượng đường có gắn chất phóng xạ rất nhỏ sẽ được chích vào cơ thể. Những tế bào cơ thể sẽ dùng chất đường này để hoạt động.
+ Các xét nghiệm đánh giá bilan chung và đánh giá tình trạng di căn xa: xét nghiệm máu, sinh hoá, siêu âm, X-quang…

IV, CÁC GIAI ĐOẠN CỦA UNG THƯ VÚ

Ung thư vú khó xác định sớm

  • Thời kỳ 0 :

Khi ung thư còn bị giới hạn trong ống dẫn sữa (ductal in situ) mà chưa ăn vào nhũng mô vú hay mô nâng bỡ bên ngoài ống dẫn sữa. Cơ hội có thể chữa lành của thời kỳ này từ 90% đến 100% bằng giải phẫu toàn phần vú, hay một phần vú cộng với xạ trị (radiation). Có nhiều trường hợp, bác sĩ còn cho bệnh nhân dùng thêm thuốc loại kích thích tố như tamoxifen.

  • Thời kỳ I :

Khi ung thư còn nhỏ hơn 2 cm và chưa lan vào hạch nách. Cơ hội sống còn sau mười năm là khoảng 80% đến 90%. Cách chữa cũng tương tự như thời kỳ 0, nhưng một số bệnh nhân có thể được khuyên nên sử dụng thêm hóa chất trị liệu (chemotherapy). Ngoài ra, các phụ nữ đã tắt kinh còn có thể được dùng một loại thuốc gọi là Aromatase Inhibitor như Arimidex, Letrozole, hay Aromasin thay vì tamoxifen. Đây cũng là thuốc loại kích thích tố.

  • Thời kỳ II :

Khi ung thư từ 2 cm đến 5 cm và chưa lan vào hạch nách, hay nhỏ hơn hơn 5 cm và đã lan vào một số hạch nách. Cơ hội sống còn sau mười năm tùy thuộc vào kích thước của ung thư và bao nhiêu hạch bị lây lan. Cách chữa cũng tương tự như thời kỳ I, nhưng phần lớn bệnh nhân được khuyên nên sử dụng thêm hóa chất trị liệu (chemotherapy), nhất là những ung thư lớn hay đã vào hạch nách.

  • Thời kỳ III :

Khi ung thư lớn hơn 5cm hay đã lan vào nhiều hạch nách nhưng chưa lây lan đi xa. Cơ hội sống còn sau mười năm tùy thuộc vào kích thước của ung thư và bao nhiêu hạch bị lây lan. Đây là thời kỳ khá trễ và có cơ hội mắc bệnh ung thư vú trở lại hay lây lan qua các bộ phận khác rất cao. Cách chữa thường bắt đầu bằng hóa chất trị liệu (chemotherapy), sau đó là giải phẫu và xạ trị.

  • Thời kỳ IV :

Ung thư đã lây lan ra tới các bộ phận như gan, phổi, xương, não, v.v. Ở thời kỳ này, trừ những trường hợp rất đặc biệt, bệnh nhân có nguy cơ mất mạng vì bệnh trong vòng năm năm rất cao. Cách chữa thường là với hóa chất hay thuốc loại kích thích tố.

Như ta thấy trên đây, ung thư vú được khám phá càng sớm bao nhiêu thì cơ hội sống còn càng cao bấy nhiêu. Do đó, tất cả phụ nữ nên quan tâm đến vấn đề truy tầm ung thư vú và theo lời khuyên truy tầm ung thư vú như trên

V, CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UNG THƯ VÚ

1. Giải phẫu

  •  Lumpectomy :
    Cách giải phẫu này chỉ lấy cục u ở vú ra với một vòng mô bình thường chung quanh. Thường thì sau đó bệnh nhân cần được trị xạ trị để giảm bớt cơ nguy bệnh trở lại, tùy trường hợp, bệnh nhân cũng có thể cùng lúc cần cắt bỏ rồi thử nghiệm hạch (bạch huyết) dưới nách để xem xét coi ung thư có lan vào hạch hay chưa
  •  Partial Mastectomy hay Segmental Mastectomy :
    Cách giải phẫu này chỉ cắt bỏ khối u cùng với màng mô bình thường chung quanh nó, có khi kể cả một ít da, mô lót của bắp thịt ngực ngay dưới khối u. Cách này cũng tương tự như Lumpectomy nhưng có thể phải lấy ra nhiều mô hơn. Nhiều bác sĩ giải phẫu cũng lấy ra một phần hoặc là hết cả hạch dưới nách để kiểm lại vì nguy cơ ung thư có thể lan vào những hạch này.
  •  Total Mastectomy hay Simple Mastectomy :
    Loại giải phẫu này cắt bỏ toàn thể vú. Thường thì các hạch ở dưới nách không bị cắt bỏ. Tuy nhiên, nếu có một số nhỏ ở gần sát vú, những hạch này có thể bị lấy ra khi cắt bỏ vú. Thường thì loại giải phẫu này được dùng trị ung thư vú tại vị, tức là ung thư vú chưa có tính xâm lấn.
  •  Modified Radical Mastectomy :
    Cách giải phẫu này cắt bỏ toàn thể vú, các hạch dưới nách và phần mô lót quanh bắp thịt ngực.
  •  Lymph Node Dissection ( giải phẫu hạch bạch huyết ) :
    Là cắt bỏ các hạch bạch huyết ở dưới nách: Số hạch bạch huyết lấy ra ở mỗi phụ nữ khác nhau. Những hạch bạch huyết ở dưới nách thường bị phủ bởi lớp mỡ khiến bác sĩ giải phẫu khó thấy có bao nhiêu hạch bạch huyết cắt bỏ khi giải phẫu. Càng lấy nhiều hạch dưới nách ra, nguy cơ bị sưng cánh tay càng cao. Bởi vì sự lưu thông của các mạch bạch huyết đi từ bàn tay, cánh tay, qua nách vào đến mạch máu trong lồng ngực để được bài tiết qua thận, bị cắt đứt.
  •  Sentinel Node Biopsy ( cắt bỏ hạch giữ cửa ) :
    Rất nhiều bác sĩ giải phẫu hiện nay dùng kỹ thuật này để tránh cho bệnh nhân tình trạng bị sưng tay như trên. Trong phương pháp này, bác sĩ giải phẫu phải định xem hạch giữ cửa là hạch nào trước khi cắt bỏ. Để thực hiện điều này, bác sĩ chích một loại phẩm xanh, hay chất phóng xa, hay cả hai, vào khu vực chung quanh cục bướu ung thư. Hạch bạch huyết nào nhuộm phẩm xanh hay tích tụ chất phóng xạ nhiều nhất sẽ được cắt ra xem xét. Nếu không có tế bào ung thư trong hạch thì các hạch còn lại không cần phải cắt bỏ, nhưng nếu có, thì các hạch còn lại phải được lấy ra để thử nghiệm. Cách này chỉ lấy ra rất ít hạch, do đó cánh tay đỡ bị sưng phù sau khi mổ.
  •  Reconstruction Surgery ( giải phẫu tạo hình ) :
    Tạo lại hình dáng của vú sau khi vú thật bị cắt bỏ hoàn toàn hay một phần và gây ra sự dị dạng của vú: Có nhiều cách tạo hình khác nhau: dùng chất độn silicone, hay chính mô tế bào của người bệnh để tái tạo vú. Quý vị nào muốn tái tạo ngực sau khi giải phẫu, xin nói chuyện với bác sĩ mổ trước khi mổ bỏ vú. Để việc tái tạo vú được hoàn hảo, các bác sĩ tạo hình cần gặp bệnh nhân và thảo luận với bác sĩ mổ vú trước khi bệnh nhân mổ bỏ vú.

2. Xạ trị ( Radiation Therapy ) 

Đây là phương pháp trị liệu bằng năng lực quang tuyến X cao độ để giết chết tế bào ung thư. Cách trị liệu này được dùng để ngăn chặn ung thư tăng trưởng trước khi giải phẫu, hay tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại sau cuộc giải phẫu. Xạ trị thường được sử dụng sau giải phẫu Lumpectomy hay Partial mastectomy, nhưng đôi khi cũng được dùng sau khi làm giải phẫu Total masectomy hay Modified radical mastectomy nếu ung thư quá lớn hay có nhiều hạch ở nách bị ung thư. Xạ trị thường được chia ra làm nhiều ngày. Mỗi ngày, một phần nhỏ của tổng số quang tuyến sẽ được chiếu vào cơ phận bị bệnh. Đối với ung thư vú, bệnh nhân thường được chiếu quang tuyến khoảng từ sáu đến bảy tuần.

Các bệnh nhân thường chịu đựng được một cách dễ dàng các phản ứng phụ của xạ trị ung thư vú. Các phản ứng thông thường nhất là bị phỏng nhẹ, lột da, đau ran. Đôi khi, nếu bị phản ứng phụ quá nặng, bệnh nhân cần phải nghỉ một thời gian ngắn trước khi điều trị lại.

3.Hoá chất trị liệu ( Chemotherapy ) 

Hóa chất là những dược liệu đặc biệt được dùng để tiêu diệt những tế bào ung thư. Hóa chất trị liệu (chemotherapy) thường được dùng thêm với việc giải phẫu, xạ trị (radiation therapy) hay dùng để chống ung thư khi nó tái phát hay lây lan. Hóa chất trị liệu được dùng sau hay trước khi mổ sạch ung thư thuộc thời kỳ I, II, hay III, đã được chứng minh là có thể gia tăng cơ hội chữa lành bệnh cho nhiều bệnh nhân.

Khi hóa chất trị liệu được dùng sau khi mổ để giảm nguy cơ bị bệnh trở lại, nó được gọi là “adjuvant chemotherapy” hay “trị liệu bổ sung bằng hóa chất”. Bệnh nhân thường được bắt đầu nhận hóa chất trong vòng sáu tuần sau khi mổ. Thuốc được cho vào mỗi hai hay ba tuần, và thường hoàn tất trong vòng ba đến sáu tháng. Nhiều trường hợp hóa chất được cho trước khi giải phẫu để việc giải phẫu được dễ dàng hơn nếu bướu ung thư quá lớn, hay nếu cho thuốc trước giúp bệnh nhân giữ được ngực bằng cách mổ một phần thay vì toàn phần.

Hóa chất trị liệu có nhiều phản ứng phụ. Tuy nhiên, những phản ứng này thường được làm giảm bởi nhiều cách khác nhau với phương pháp mới chống lại phản ứng phụ của hóa chất rất có hiệu quả; và phần lớn bệnh nhân có thể chịu đựng được dễ dàng.

Có nhiều loại hóa chất được dùng trị ung thư vú, thông thường nhất là các chất adriamycin, epirubucin, cytoxan, 5-FU, taxol, taxotere, xeloda, navelbine, v. v… Các chất này có thể dùng riêng rẽ hay tổng hợp. Mỗi loại hóa chất và mỗi tổng hợp hóa chất được dùng trong những trường hợp khác nhau và mang lại những phản ứng phụ khác nhau. Có nhiều thuốc rất tốt được dùng để làm giảm bớt hay loại bỏ các phản ứng phụ. Thí dụ như Zofran, Kytril, Anzamet, Compazine, Tigan, Reglan, Decadron để giảm ói mửa; Neupogen, Neulasta, Leukine để giúp gia tăng bạch huyết cầu và tránh nhiễm trùng; Procrit hay Aranesp để gia tăng hồng huyết cầu và giảm mỏi mệt.

4. Trị liệu bằng phương pháp chế ngự mục tiêu ( TARGETED THERAPY )

Những yếu tố di truyền hay kết quả của những yếu tố di truyền trong cơ thể như những yếu tố gây ra bệnh ung thư có thể trở thành mục tiêu trị liệu. Chẳng hạn như yếu tố di truyền Her 2 neu (hay erbB2) là yếu tố tăng trưởng các tế bào biểu bì, trong đó có các tế bào ung thư vú. Ngoài yếu tố Her 2 neu, còn có yếu tố Her 1 hay erbB cũng có ảnh hưởng trên sự tăng trưởng biểu bì. Những tế bào ung thư vú có sự phát triển bất thường của Her 2 neu là những loại ung thư vú nguy hiểm nhất. Thuốc Herceptin (trastuzumab) là một loại thuốc mới đặc biệt được dùng cho những bệnh nhân bị loại ung thư vú có sự phát triển bất thường của yếu tố Her 2 neu ( khoảng 25% tất cả bệnh nhân ung thư vú) . Thuốc Herceptin là một chất kháng thể chống lại những sản phẩm của Her 2 neu, và tiêu diệt những tế bào ung thư có yếu tố Her 2 neu. Khi sử dụng thuốc này, cơ hội sống còn của bệnh nhân sẽ tăng lên, nhất là khi được sử dụng vào trường hợp ung thư đã vào hạch nách hay đã lây lan đến các cơ phận khác. Herceptin là thuốc được truyền vào tĩnh mạch. Một trong những phản ứng phụ là có thể làm bắp thịt tim yếu đi; do đó, chức năng tim của bệnh nhân phải được theo dõi kỹ càng trong khi trị liệu với thuốc này.

Thuốc Tykerb (lapatinib) vừa mới được nghiên cứu và cho thấy có kết quả tốt cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư vú lọai có yếu tố Her 2 neu nhưng khi dùng thuốc Herceptin lại không có hiệu quả hay đã mất hiệu quả sau một thời gian dùng thuốc. Thuốc Tykerb chống lại cả hai yếu tố Her 2 và Her 1. Đây là loại thuốc uống, tiện lợi hơn cho bệnh nhân, và có ít phản ứng phụ về tim hơn. Phản ứng phụ thường gặp là tiêu chảy và bị các thay đổi về da.

VI, CÁCH PHÒNG NGỪA UNG THƯ VÚ

1. Duy trì trọng lượng cơ thể khỏe mạnh (BMI < 25)
Trọng lượng đạt được ở tuổi trung niên, độc lập của BMI, đã được thể hiện ung thư vú tăng lên đáng kể.

2. Tránh uống rượu và hút thuốc
Phụ nữ uống nhiều chất cồn mỗi ngày có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú đến 20-25%. Cũng như vậy, hút thuốc làm tăng nguy cơ ung thư phổi hơn là ung thư vú nhưng các nghiên cứu mới đây vẫn chỉ ra rằng hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú ở phụ nữ. Vì vậy, để có một cuộc sống khỏe mạnh không bệnh tật, bạn nên tránh xa thuốc lá và tránh tiếp xúc với khói thuốc.

3. Ăn càng nhiều trái cây và rau quả càng tốt
Rau quả hàng đầu trong việc phòng tránh bệnh ung thư vú bao gồm các loại rau họ cải (bông cải xanh, bắp cải , cải bruxen, súp lơ), rau lá xanh đậm (collard, cải xoăn, rau bina), cà rốt và cà chua. Các loại trái cây bao gồm cam quýt, dâu và anh đào.
Lưu ý cách tốt nhất là ăn các loại rau họ cải sống hoặc luộc, vì các chất phytochemical giúp bảo vệ chống lại bệnh ung thư vú có trong rau cải bị mất dần đi khi đun nóng ở nhiệt độ cao.

4. Tập thể dục thường xuyên
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy thường xuyên tập thể dục giúp bảo vệ mạnh mẽ chống lại ung thư vú. Dành 30 phút hoặc nhiều hơn mỗi ngày cho các bài tập aerobic (hoặc đi bộ nhanh) là chìa khóa thành công trong việc phòng chống ung thư vú.

5. Kiểm soát chất béo trong cơ thể
Các loại chất béo trong chế độ ăn uống của bạn có thể ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú. Giảm thiểu tiêu thụ chất béo omega-6 (hướng dương, dầu cây rum, ngô và dầu hạt bông), chất béo bão hòa và chất béo trans (Chất béo trans là các chất béo không bão hòa có đồng phân trans). Chất béo dạng trans fat thường có trong :Margarin, mỡ pha với bánh cho xốp giòn, thực phẩm chế biến như bánh snack (bánh quy giòn, khoai tây chiên) bánh nướng (bánh xốp nướng, bánh quy dẹt nhỏ) với hydrogenated oil, những món đồ rán, chiên, đặc biệt các loại dầu chiên đi chiên lại hoặc trong việc trộn xa lát, mỳ gói…
Hãy tiêu thụ các chất béo omega-3, đặc biệt là từ dầu cá (cá hồi, cá ngừ, cá thu, cá mòi, cá hồi hồ và cá trích). Tiêu thụ các loại dầu không bão hòa đơn (cải dầu, dầu ôliu, hạt / hạt, bơ), là những thực phẩm có đặc tính chống ung thư.

6. Kiểm soát lượng đường huyết
Giảm thiểu tiêu thụ của các chỉ số đường huyết cao, những thực phẩm bột mì trắng, gạo trắng, khoai tây trắng, đường và các sản phẩm có chứa đường gây ra thay đổi hoóc môn thúc đẩy tăng trưởng của tế bào trong mô vú. Thay thế những những sản phẩm này bằng các loại như ngũ cốc và hạt / cây họ đậu vì chúng có nhiều chất xơ và chất lignan là một chất đặc biệt có thể giúp phụ nữ hạn chế ung thư vú.

7. Thêm các chế phẩm từ đậu nành
Thêm các chế phẩm từ đậu nànhtrong chế độ dinh dưỡng hàng ngày sẽ giúp bạn ngừa được bệnh ung thư vú, giảm cholesterol xấu và bổ sung đầy đủ dưỡng chất cho cơ thể: như đậu phụ, đậu nành nén, đậu edamame, đậu nành rang, sữa đậu nành và tương Miso. Sự liên hệ giữa việc giảm nguy cơ ung thư vú với việc ăn thực phẩm đậu nành là do chất isoflavones đậu nành có hiệu ứng estrogenic làm thay đổi các tế bào vú, dẫn đến việc giảm các các chất sinh ung thư carcinogens.

8. Cẩn thận khi bổ sung estrogen thay thế
Ðiều trị hormon thay thế là con dao hai lưỡi, có những ưu điểm như đã nêu ở trên, nên dùng đúng cho kết quả tốt; nếu dùng không đúng, theo dõi không tốt sẽ dẫn đến những hậu quả nguy hiểm: làm tăng nguy cơ quá sản nội mạc tử cung, ung thư nội mạc tử cung, các bệnh vú (như đau, cương vú, ung thư), tăng huyết áp, huyết khối. Cũng tránh các hợp chất giống như estrogen tồn tại trong môi trường, như thuốc trừ sâu và hoá chất công nghiệp.

9. Phòng ngừa bệnh ung thư vú bằng thuốc
Như đã nói ở trên, thuốc GRAVIOLA & CURCUMIN không những có thể sử dụng để điều trị ung thư, mà nó còn có thể được dùng để phòng ngừa các bệnh ung thư, vì hoạt tính kháng ung thư có trong hai loại thuốc này. Thuốc có thể sử dụng cho những ai muốn phòng tránh ung thư một cách hữu hiệu và an toàn nhất.

10. Duy trì một cuộc sống tích cực lạc quan
Luôn giữ tinh thần thoải mái, xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp và lành mạnh. Hãy ngủ đủ giấc (7-8 giờ/đêm).

11. Sử dụng các loại thực phẩm bảo vệ súc khỏe, nâng cao thể trạng để tăng cường miễn dịch, giảm độc tính hóa xạ trong quá trình điều trị

Nâng cao thể trạng là yếu tố quan trọng nhất

KẾT LUẬN:

Tóm lại, ung thư vú là một căn bệnh rất phổ biến ở phụ nữ Việt Nam cũng như trên thế giới, Ung thư vú có thể chữa lành được nếu truy tầm sớm và chữa trị đúng cách, trong điều trị ung thư vú đòi hỏi phải nắm vững những kiến thức cơ bản về sinh bệnh học và cũng rất cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa các thầy thuốc thuộc nhiều chuyên khoa sâu về ung thư học nhằm đạt được thành công ở mức độ cao nhất.

Liên hệ Hotline: 0932069739 để được chuyên gia tư vấn cụ thể về tình trạng sức khỏe của bạn và phương pháp điều trị hiệu quả nhất

>> ĐĂNG KÝ TƯ VẤN HOÀN TOÀN MIỄN PHÍ <<

Comments

comments