Xem Nhiều 12/2022 #️ Những Rào Cản Đối Với Quyền Giáo Dục Của Thanh Thiếu Niên Lgbt Ở Việt Nam / 2023 # Top 12 Trend | Uplusgold.com

Xem Nhiều 12/2022 # Những Rào Cản Đối Với Quyền Giáo Dục Của Thanh Thiếu Niên Lgbt Ở Việt Nam / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Rào Cản Đối Với Quyền Giáo Dục Của Thanh Thiếu Niên Lgbt Ở Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Uplusgold.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt

Thanh thiếu niên thuộc các nhóm thiểu số về tính dục và giới ở Việt Nam phải đối mặt với nạn kỳ thị và hắt hủi ở nhà cũng như ở trường. Dù trong những năm gần đây chính phủ Việt Nam đã có những cam kết đáng kể nhằm công nhận các quyền của những người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới (LGBT) nhưng các tiến bộ hữu hình vẫn ít hơn nhiều so với lời hứa, và khoảng cách giữa chính sách và thực tế nói trên làm nhức nhối những người trẻ tuổi.

Có lẽ thay đổi pháp lý có tác động lớn nhất bao gồm việc sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình vào năm 2014, và Luật Dân sự vào năm 2015. Trong năm 2014, Quốc hội Việt Nam loại bỏ hôn nhân đồng tính ra khỏi danh sách các quan hệ hôn phối bị cấm; tuy nhiên, việc sửa đổi này chưa dẫn đến sự công nhận pháp lý đối với các mối quan hệ cùng giới. Năm 2015, Quốc hội Việt Nam sửa đổi Luật Dân sự để loại bỏ điều khoản cấm người chuyển giới được thay đổi giới tính trên giấy tờ pháp lý; tuy nhiên, nội dung luật sửa đổi chưa đưa ra được một quy trình minh bạch và thuận lợi đối với việc thay đổi giới tính trên giấy tờ pháp lý.

Và dù các lời tuyên bố và các thay đổi nói trên là chỉ dấu cho một tương lai nhiều hứa hẹn cho những người LGBT ở Việt Nam, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức đáng kể. Chính phủ Việt Nam vừa có vị thế vừa có trách nhiệm phải giải quyết các vấn đề này.

Có bằng chứng cho thấy sự thiếu hụt đó đã gây ra hậu quả tai hại. Như được ghi nhận trong bản phúc trình này, thanh thiếu niên nhận thức rõ ràng về niềm tin phổ biến rằng sự hấp dẫn đồng tính là một chứng bệnh tâm lý có thể chẩn đoán được. Thất bại của chính phủ Việt Nam trong việc khắc phục thông tin sai lệch này khiến luận điểm đó tiếp tục lan truyền vô tội vạ. Niềm tin phổ biến nói trên đã có những tác động đáng kể đến cuộc sống của những thanh thiếu niên LGBT được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phỏng vấn, từ trở thành nguyên nhân chính của tình trạng kỳ thị và sách nhiễu, đến việc các bậc cha mẹ đưa con là người đa dạng tính dục đến gặp các chuyên gia sức khỏe tâm lý để tìm cách chữa trị. Ngay cả những thanh thiếu niên sau này xác định họ là người đa dạng tính dục cũng ghi nhận rằng họ lớn lên cùng các định khuôn và thông tin sai lệch về bản thân và về những người khác. Trong một số trường hợp, những kiến thức sai lầm đó đã nuôi dưỡng sự thù ghét, thậm chí bạo lực đối với những người LGBT.

Do thiếu vắng thông tin từ các nguồn chính thức, thanh thiếu niên Việt Nam phải đi tìm những thông tin chính xác và tích cực về xu hướng tính dục và bản dạng giới ở những nơi khác. Một số sinh viên kể lại việc họ tìm kiếm thông tin từ các nguồn không chính thức – đặc biệt là tìm kiếm và tra cứu trên mạng internet. Dù việc tìm ra được thông tin tích cực bằng các cách nói trên cũng đáng khích lệ, nhưng các thông tin đó không thể đầy đủ và thậm chí không tiếp cận được đối với rất nhiều thanh thiếu niên Việt Nam.

Trong các trường học Việt Nam, tình trạng sách nhiễu bằng lời nói đối với học sinh LGBT rất phổ biến. Học sinh từ nhiều loại trường học khác nhau – ở đô thị và nông thôn, công lập cũng như tư thục – kể với chúng tôi rằng nhiều học sinh và giáo viên sử dụng những từ ngữ miệt thị để nói về những người LGBT, đôi khi nhằm vào chính họ, kèm theo những lời đe dọa bạo lực. Các nghiên cứu khác, trong đó có nghiên cứu của các cơ quan Liên hiệp quốc và của một số nhóm người Việt, cũng xác thực ý kiến này.

Dù ít xảy ra hơn, một số thanh thiếu niên LGBT cũng cho biết đã bị bạo hành thân thể. Ví dụ như, một người trả lời phỏng vấn nói: “[Việc bắt nạt] đa phần là bằng lời, nhưng có một lần cháu bị năm sáu thằng đánh hồi cháu học lớp tám – chỉ vì chúng không ưa ngoại hình của cháu.” Điểm tương đồng giữa các vụ xâm hại bằng lời nói và bạo hành cơ thể là sự thiếu vắng phản ứng nhất quán từ phía nhân viên nhà trường, và tình trạng thiếu niềm tin của học sinh vào sự hiện diện của cơ chế giải quyết các vụ bạo hành và kỳ thị.

Đa số các thanh thiếu niên LGBT là những người đã trải nghiệm tình trạng bị bắt nạt ở học đường được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phỏng vấn nói rằng các em không thấy yên tâm khi báo cáo những vụ việc đó với nhân viên nhà trường. Nguyên nhân của việc đó, trong một số trường hợp, là cách hành xử đầy định kiến, công khai của nhân viên; trong nhiều trường hợp khác, là do học sinh có ý nghĩ rằng việc phải nhờ cậy những người lớn can thiệp sẽ không an toàn.

Và ngay cả trong những trường hợp học sinh không bị xâm hại bằng lời nói hay bạo hành thân thể, nhiều em cho biết rằng gia đình, bạn bè và thầy cô giáo, vừa trực tiếp lẫn gián tiếp, áp đặt các thông lệ xã hội về dị tính luyến ái và người hợp giới. Việc này xảy ra trong lớp học khi các giáo viên gọi những quan hệ không phải là luyến ái dị giới hướng tới sinh đẻ là “phi tự nhiên” hay khi cha mẹ dọa con mình bằng bạo lực, ruồng bỏ hay đưa đi chữa trị nếu đứa con thể hiện là đồng tính nam hay đồng tính nữ.

Thanh thiếu niên LGBT bị bắt nạt hay cô lập ở học đường phải chịu hàng loạt tác động tiêu cực. Như bản phúc trình này ghi nhận, các em cảm thấy căng thẳng vì bị bắt nạt và sách nhiễu, và tình trạng căng thẳng đó ảnh hưởng tới khả năng học tập. Một số học sinh nói rằng do bị bắt nạt vì xu hướng tính dục hay bản dạng giới của mình khiến các em trốn lớp hoặc nghỉ hẳn ở nhà.

Các thanh thiếu niên LGBT không đơn độc trong việc nhận biết và đẩy lùi tình trạng ngược đãi nhằm vào họ. Nhiều bậc cha mẹ có con là thanh thiếu niên LGBT cũng bắt đầu nhận lấy vai trò phải hành động vì sự đa dạng và dung hợp, và đứng ra tổ chức các hội thảo phổ biến thông tin khắp đất nước, và tình nguyện tư vấn cho các bậc phụ huynh đồng cảnh, những người lớn lên và được dạy dỗ trong một hệ thống giáo dục coi đồng tính luyến ái là một căn bệnh.

Trong một sự kiện nghệ thuật, là một phần của ngày hội của người đồng tính Hanoi Pride năm 2019, một nhóm các nhà hoạt động và nghệ sĩ đã trưng bày một cuộc triển lãm tìm hiểu về lịch sử đa dạng tính dục ở Việt Nam qua nhiều từ ngữ miệt thị đã được cộng đồng LGBT cải tạo trong những năm gần đây. Những người tổ chức hy vọng rằng “xã hội sẽ có hiểu biết tốt hơn để, khi chúng ta sử dụng những từ này, chúng ta hiểu rõ định nghĩa của chúng.” Cuộc triển lãm đề cao một mục tiêu đơn giản mà quan trọng: phá bỏ một số hiểu biết sai lệch cơ bản, dẫn đến tình trạng vi phạm nhân quyền của những người LGBT – nhất là thanh thiếu niên – ở Việt Nam ngày nay.

Chính phủ Việt Nam có một số điều luật cấm kỳ thị và bảo đảm quyền giáo dục đối với tất cả trẻ em. Chính phủ cũng đưa ra tuyên bố sẽ theo xu hướng toàn cầu về tôn trọng quyền của những người LGBT, là các tín hiệu về ý chí chính trị nhằm thực hiện những thay đổi cần thiết để thực sự bao gồm tất cả mọi người, không phân biệt xu hướng tính dục hay bản dạng giới, tại các cơ sở giáo dục cũng như trong toàn xã hội. Những bước đi đầu tiên phải có cả việc sửa đổi lại quan niệm cố hữu phổ biến rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh và cần được chữa trị.

Khuyến nghị

Đối với Quốc hội Việt Nam

Sửa đổi lại Luật Bình đẳng Giới năm 2006 để có các điều khoản cụ thể nhằm bảo vệ bản dạng giới và thể hiện giới tính

Sửa đổi lại Luật Hôn nhân và Gia đình để cho phép các cặp vợ chồng đồng tính được công nhận đầy đủ về pháp lý.

Phê chuẩn Công ước Chống Kỳ thị trong Giáo dục của UNESCO.

Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo

Đề xướng và thực thi các tài liệu hướng dẫn về giảng dạy giáo dục giới tính toàn diện, cho phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế.

Ký kết Bản Kêu gọi của UNESCO về Hành động đối với bạo lực nhằm vào người đồng tính và chuyển giới, để thể hiện cam kết của Bộ về cải cách chính sách nhằm bảo vệ học sinh, sinh viên LGBT.

Minh xác rằng Quyết định 2018 về tư vấn tâm lý tại học đường do Bộ GD-ĐT ban hành có đối tượng áp dụng bao gồm cả các học sinh, sinh viên LGBT và chỉ thị việc thực hiện quyết định nói trên có bao gồm giảng dạy về xu hướng tính dục và bản dạng giới.

Ngay lập tức tổ chức các khóa tập huấn ngắn hạn bắt buộc cho tất cả các giáo viên về giới tính và tính dục, bao gồm cả nội dung về sức khỏe tình dục, và các thông tin chính xác về xu hướng tính dục và bản dạng giới.

Ban hành một văn bản hướng dẫn các cơ sở giáo dục về các biện pháp cụ thể cần thực hiện nhằm phòng chống sách nhiễu và kỳ thị tại học đường.

Đưa các học phần về xu hướng tính dục, bản dạng giới và nhân quyền vào các chương trình giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại học sư phạm.

Đối với Bộ Y tế

Chính thức công bố, theo chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới, rằng có ham muốn tính dục với người đồng giới không phải là một chứng bệnh tâm thần chẩn đoán được.

Ban hành một văn bản hướng dẫn rằng tất cả các tài liệu giảng dạy về y khoa ở tất cả các cấp, bao gồm cả cho các chuyên gia về sức khỏe tâm thần, phải điều chỉnh lại để ghi nhận rằng việc thấy hấp dẫn tính dục đồng giới là một biến thể tự nhiên trong các hành vi của con người.

Chính thức áp dụng Bảng Phân loại Bệnh Quốc tế phiên bản 11 của Tổ chức Y tế Thế giới, chú trọng đặc biệt tới chương mới về sức khỏe tình dục, trong đó đã cập nhật các tiêu chuẩn chẩn đoán đối với người chuyển giới.

Đối với Bộ Ngoại giao

Cố vấn cho chính phủ mời các chuyên gia độc lập của Liên hiệp quốc về bảo vệ chống kỳ thị và bạo hành có nguyên nhân từ xu hướng tính dục và bản dạng giới đến thăm Việt Nam và tư vấn về các tiến bộ của chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực quyền của người LGBT và các bước tiếp theo.

Phương pháp nghiên cứu

Các nhân viên của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền và một cố vấn đã tiến hành nghiên cứu cho bản phúc trình này trong giai đoạn từ tháng Năm năm 2018 đến tháng Ba năm 2019 tại Việt Nam.

Các nghiên cứu viên đã thực hiện 59 cuộc phỏng vấn, bao gồm 12 cuộc với trẻ em dưới 18 tuổi được xác định là thuộc các nhóm thiểu số về tính dục và giới tính; 40 cuộc với những người thuộc các nhóm thiểu số về tính dục và giới tính trong độ tuổi từ 18 đến 23 về các trải nghiệm thời niên thiếu của họ; và 7 cuộc với các giáo viên, cán bộ nhân viên nhà trường và phụ huynh.

Theo luật Việt Nam, một người được coi là trưởng thành khi đủ 16 tuổi. Tuy nhiên, trong phạm vi bản phúc trình này, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền coi tất cả những người dưới 18 tuổi là trẻ em, theo định nghĩa “trẻ em” trong Công ước Liên hiệp quốc về Quyền Trẻ em. Ủy ban về Quyền Trẻ em, cơ quan thẩm quyền của Liên hiệp quốc có chức năng giám sát việc thực hiện công ước nói trên của các quốc gia, đã kêu gọi Việt Nam sửa đổi luật pháp cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

Những người trả lời phỏng vấn không được trả tiền thù lao. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền có thanh toán chi phí di chuyển bằng phương tiện công cộng cho những người trả lời phỏng vấn để đến gặp những người trong nhóm nghiên cứu tại các địa điểm an toàn, kín đáo. Một số cuộc phỏng vấn được thực hiện bằng tiếng Việt có phiên dịch trực tiếp, tại chỗ sang tiếng Anh; một số cuộc khác được thực hiện bằng tiếng Anh; và một số cuộc do một người nói tiếng Việt thực hiện, sau đó được đánh máy lại và dịch ra tiếng Anh. Tất cả các cuộc phỏng vấn với những người đã trải nghiệm tình trạng bị bắt nạt tại học đường được tiến hành riêng, mỗi lần chỉ thực hiện với một người trả lời phỏng vấn.

Trong phúc trình này, chúng tôi không sử dụng tên thật của những người trả lời phỏng vấn. Tất cả những thông tin xác định cá nhân của những người trả lời phỏng vấn như nơi sinh sống và học tập, tên trường học, đã được chủ động tránh đề cập nhằm bảo vệ sự riêng tư của những người trả lời phỏng vấn. Những người tham gia đã học tập ở cả hai loại trường công và trường tư, có một số người đã chuyển trường qua lại giữa cả hai hệ thống. Dù đa số các thanh thiếu niên tham gia trả lời phỏng vấn lớn lên và đi học tại các trung tâm đô thị như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Cần Thơ hay Đà Nẵng, có 16 em tham gia trả lời phỏng vấn cho dự án này đã đi học ít nhất là một phần của chương trình cấp hai hay trung học ở các tỉnh, vùng nông thôn, trong đó có Bắc Giang, Hải Dương, Đồng Nai, Hà Giang, Vũng Tàu, Thanh Hóa, Lào Cai, Nam Định, Quảng Ninh, Hưng Yên, Quảng Ngãi, Kiên Giang, và Thái Bình.

I. Thanh thiếu niên và người đa dạng tính dục ở Việt Nam

Tôi không thấy an toàn ở trường học. Trước khi tôi công khai giới tính, các bạn cùng lớp không biết vì tôi khéo giấu kín. Và tôi biết nếu công khai ra, tôi sẽ thường xuyên bị nhắm vào, nhưng tôi vẫn quyết định làm thế, vì sống không đúng với bản thân và giới tính thật của mình rất bức bối.

—Khanh, người chuyển giới nam 22 tuổi, tháng Giêng năm 2019

Các thanh, thiếu niên được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phỏng vấn trong phúc trình này kể lại cho chúng tôi về các nỗ lực thể hiện bản thân, giữ an toàn và tiếp cận thông tin trong thời niên thiếu, khi họ bắt đầu thấy khác biệt và nhận ra xu hướng tính dục và bản dạng giới của mình.

Gần như tất cả những người được phỏng vấn đều nói các em bắt đầu thắc mắc và khám phá về giới tính của chính mình, hay có cảm giác bị hấp dẫn tình cảm với người cùng giới từ khi còn nhỏ; một số em nói đã biết rằng mình không phải là người dị tính luyến ái hay người hợp giới ngay từ khi mới lên 4 tuổi. Đối với đa số các em, những nỗi khó khăn đầu tiên, theo lời giải thích của chính họ, không phải đến từ việc chấp nhận sự khác biệt đó của bản thân, mà là quá trình tìm kiếm thông tin về giới tính và tính dục ngược lại với dòng chính lưu đầy các định khuôn, thông tin sai lệch và diễn ngôn đối nghịch với LGBT.

iSEE, một tổ chức phi chính phủ (NGO) ở Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực quyền của người LGBT, nhận định qua một cuộc khảo sát hơn 2,300 người LGBT vào năm 2015 rằng, hai phần ba trong số những người từng đi học đã chứng kiến các phát ngôn thù nghịch với LGBT từ phía bạn bè, và một phần ba đã chứng kiến lối hành xử tương tự từ các giáo viên, nhân viên nhà trường. Một nghiên cứu năm 2012 của CCIHP, một NGO khác ở Việt Nam, cho thấy rằng hơn 40 phần trăm thanh thiếu niên LGBT tham gia nghiên cứu – có độ tuổi trung bình là 12 tuổi – đã từng bị bạo hành hay kỳ thị ở học đường.

Quyền của người LGBT ở Việt Nam

Xét cả quá trình lịch sử, xu hướng tính dục và bản dạng giới không được quan tâm mấy trong luật pháp và chính sách của Việt Nam. Cuộc vận động xã hội dân sự trong thập niên vừa qua đã mang lại những thành quả đầy ý nghĩa về sự xuất hiện công khai và những kết quả về quyền của người LGBT.

Trong những năm gần đây, chính quyền Việt Nam đã thực hiện những bước tiến đáng kể trong việc công nhận quyền của người LGBT. Trong số những thay đổi về pháp luật có tác động lớn nhất chắc phải kể đến những sửa đổi đối với Luật Hôn nhân Gia đình năm 2014 và Luật Dân sự năm 2015.

Trước những năm cuối thập niên 1990, khái niệm “vợ chồng” trong pháp luật Việt Nam không loại trừ cụ thể sự tồn tại của các cặp đồng tính. Sau khi có hai đám cưới đồng tính được công luận chú ý trong hai năm 1997 và 1998, Quốc hội Việt Nam sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình vào năm 2000 để quy định cụ thể rằng các đám cưới đồng tính là bất hợp pháp.

Tuy nhiên, dù đã có những tiến bộ hữu hình, những người trẻ tuổi vẫn nhận thấy rõ sự thiếu vắng cơ chế bảo vệ và các chương trình chủ động cho người LGBT ở Việt Nam, như được ghi nhận trong phúc trình này. Trong một bản phúc trình năm 2017 về môi trường pháp lý đối với người LGBT ở Việt Nam, iSEE ghi nhận rằng các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ pháp lý của chính phủ bị thiếu hụt, khiến người LGBT ở Việt Nam phải tìm kiếm những ý kiến không chính thức từ các NGO. Hơn nữa, như iSEE nhận xét, chỉ có một phần ba những người LGBT thành niên nói rằng họ biết tìm nguồn tư vấn và khiếu nại ở đâu khi các quyền của mình bị xâm phạm.

Trong buổi diễu hành Hanoi Pride năm 2019, một nhóm các nhà hoạt động và nghệ sĩ đã trưng bày triển lãm “Từ PêĐê tới Buê Đuê” giới thiệu tiến trình phát triển của cộng đồng LGBT Việt Nam thông qua ngôn ngữ. “Cộng đồng chúng ta đã tiến rất xa, chúng ta phát triển vượt qua tất cả những sự thù ghét và kỳ thị nhắm thẳng vào chúng ta,” những người tổ chức viết trong tập kèm theo triển lãm.[19] Mục tiêu của triển lãm là phơi bày các thuật ngữ từng bị dùng để nhục mạ và đã được cộng đồng đa dạng tính dục cải tạo và sử dụng lại trong những năm gần đây. Những người tổ chức hy vọng rằng “xã hội sẽ có hiểu biết sâu sắc hơn, để khi chúng ta sử dụng những từ ngữ này, chúng ta có thể hiểu đầy đủ.” Đó là một nhiệm vụ đơn giản nhưng quan trọng. Như bản phúc trình này ghi nhận, hiểu biết sai sự thật và định khuôn tiêu cực là các yếu tố góp phần nuôi dưỡng sự vi phạm nhân quyền đối với những người LGBT ở Việt Nam ngày nay.

Thông tin sai lệch về xu hướng tính dục và bản dạng giới

Tôi lên mạng. Tôi cũng kết bạn trong cộng đồng LGBT và đặt các câu hỏi từng ám ảnh trong đầu tôi. Tôi rất hào hứng được biết thêm những thông tin mới và dần nhận ra rằng đó không phải là một căn bệnh.

—Sinh, một người đàn ông lưỡng tính 23 tuổi, tháng Chín năm 2018

Rất nhiều người ở Việt Nam tin rằng cảm giác hấp dẫn đồng giới là một chứng bệnh tâm thần có thể chẩn đoán, điều trị và chữa khỏi. Niềm tin sai lầm này bắt nguồn từ một thực tế là các hiệp hội y tế chuyên ngành và chính phủ không có giải pháp hữu hiệu để lan truyền được sự thật rằng cảm giác hấp dẫn đồng giới là một biến thể tự nhiên của tâm sinh lý con người.

Những nhà nghiên cứu đã phân tích rằng Việt Nam chưa bao giờ chính thức công nhận quan điểm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh có thể chẩn đoán được vào năm 1969, vì thế chính phủ Việt Nam chưa từng chính thức loại bỏ quan điểm chẩn đoán cũ, như nhiều quốc gia trên khắp thế giới đã làm khi WHO công bố đưa đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các loại bệnh vào năm 1990. Tuy nhiên, dù quan điểm chẩn đoán đồng tính luyến ái như một loại bệnh có vẻ chưa từng được chính thức xuất hiện trên giấy tờ ở Việt Nam, nhưng cách chính phủ đối xử với đồng tính luyến ái như một dạng hành vi biến thái, kết hợp với việc các nhân vật của công chúng trong ngành y tế cứ tiếp tục giải thích đồng tính luyến ái như một căn bệnh, khiến nhiều người dân vẫn tin chắc rằng đó là một dạng bệnh lý. Nhà nhân chủng học Natalie Newton, chuyên gia nghiên cứu văn hóa đa dạng tính dục và các phong trào nhân quyền ở Việt Nam, giải thích rằng:

Hiện tượng chung của quan niệm bệnh lý hóa đồng tính luyến ái ở Việt Nam cũng không khác với phương Tây hay các vùng khác trên thế giới. Tuy nhiên, cách thức các cơ sở y tế, Nhà nước và các dự án NGO tranh biện với nhau về vấn đề đồng tính luyến ái thì rất đặc thù, trong bối cảnh lịch sử đương đại riêng biệt của Việt Nam…

Bà Newton đã trình bày rằng hàng loạt chế độ pháp lý ở Việt Nam bắt đầu từ những năm 1950, đã coi đồng tính luyến ái là một thứ “tệ nạn xã hội,” và các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam thường dùng khái niệm “gián tiếp làm băng hoại đạo đức xã hội.” Theo Newton, ““Tệ nạn xã hội” là một thuật ngữ rộng thường được nhà nước và các cấp chính quyền địa phương định danh và vận dụng thành công cụ để kiểm soát xã hội ở nhiều tầng lớp, nhiều lĩnh vực, trong đó có đồng tính luyến ái.” Bà viết rằng:

Nghiên cứu của Newton ghi nhận hiện tượng các nhân vật công chúng, từ các nhà thơ tới các chuyên gia tâm lý, vẫn duy trì quan điểm cho rằng đồng tính luyến ái là một căn bệnh. Có một thực tế là các tổ chức y tế chuyên môn và bộ y tế vẫn giữ im lặng, khiến ý kiến cho rằng đó là một dạng bệnh vẫn nổi trội. Hậu quả của nó là các bậc phụ huynh và thầy cô không được trang bị đầy đủ thông tin và thanh thiếu niên có những mối băn khoăn về xu hướng tính dục và bản dạng giới bị cô lập và phải đối mặt với những rào cản lớn khi muốn tiếp cận thông tin chính xác.

Khi học sinh, sinh viên LGBT gặp phải sự thù nghịch ở nhà hay trong các nhóm bạn, việc tiếp cận được thông tin và nguồn trợ giúp đồng cảm trở nên cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên rất ít thanh thiếu niên LGBT được chúng tôi phỏng vấn cảm thấy rằng nhà trường đã tạo đủ điều kiện cho các em tiếp cận thông tin và các nguồn trợ giúp về xu hướng tính dục, bản dạng giới và việc là LGBT.

Để hiểu được tính dục của bản thân và chọn lựa một cách có trách nhiệm, các học sinh, sinh viên LGBT, cũng như các em khác, cần tiếp cận được thông tin về tính dục không mang tính phán xét và bao quát đầy đủ các cung bậc của tính dục loài người. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các chương trình giáo dục giới tính. Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia đã hướng tới việc cung cấp một chương trình giáo dục giới tính toàn diện. Theo Hướng dẫn Kỹ thuật Quốc tế về Giáo dục Giới tính của UNESCO, giáo dục giới tính toàn diện “là một tiến trình dựa trên giáo trình giảng dạy và học tập về các khía cạnh xã hội, sinh lý, cảm xúc và nhận thức của tính dục. Nó nhằm trang bị cho thanh thiếu niên kiến thức, kỹ năng, thái độ và giá trị nhằm mang lại sức mạnh để họ: nhận thức được về sức khỏe, phúc lợi, và nhân phẩm của mình; phát triển các mối quan hệ tình dục và xã hội được tôn trọng; cân nhắc việc lựa chọn của họ sẽ ảnh hưởng đến phúc lợi của chính họ và những người khác như thế nào; hiểu và đảm bảo sự bảo vệ các quyền của họ trong cuộc đời.” Trong khuôn khổ chương trình giáo dục giới tính toàn diện, tất cả các học sinh, sinh viên, không phân biệt xu hướng tính dục hay bản dạng giới, cần phải được tiếp cận các tài liệu thích hợp về sự phát triển tâm sinh lý, các mối quan hệ và tình dục an toàn.

Kế hoạch Chiến lược Phát triển Giáo dục (2009 – 2020) của Việt Nam đặt vấn đề cần sửa đổi chương trình giảng dạy để có các học phần về “giáo dục công dân, kỹ năng sống, sức khỏe tình dục, giới tính và giáo dục về HIV – AIDS.”[24] Tuy nhiên, thông tin không chính xác về xu hướng tính dục và bản dạng giới vẫn tràn ngập ở Việt Nam. Trong bản báo cáo năm 2014 về quyền của người LGBT ở Việt Nam, Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) viết:

Các bằng chứng được đưa ra trong bản phúc trình này khẳng định kết quả đánh giá vào năm 2014 của UNDP về hiện trạng CSE ở Việt Nam và nhấn mạnh tính cấp thiết của các chương trình cải cách đang được triển khai. Đối với những thanh thiếu niên có câu hỏi về giới tính và tính dục – trong đó có các câu hỏi về những vấn đề sức khỏe tình dục quan trọng – điều này có nghĩa là các em phải tự tìm kiếm trên mạng internet thay vì có thể trông cậy vào các nguồn đáng tin cậy và đã được sàng lọc về mặt khoa học.

Ví dụ như, Đức, một người đồng tính nam 22 tuổi ở Hà Nội, kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về lần đầu tiên em nghe nói tới đồng tính luyến ái ở trường học: “Một lần trong giờ sinh học lớp 9, chúng em đang học về giới tính và cô giáo nhắc tới đồng tính luyến ái với các từ ngữ miệt thị, nói rằng đó là điều phi tự nhiên, và mọi người cần phải sợ.”[26] Một vài tuần trước giờ học đó, Đức nói, em đã xem một cuốn phim trong đó có nhân vật đồng tính nam, khiến em muốn tìm hiểu thông tin về đồng tính luyến ái trên mạng. Quá trình đó đã giúp em bắt đầu hiểu về các cảm giác của chính mình và không bị ảnh hưởng bởi các lời nhận xét của giáo viên. “Em đã tìm hiểu về LGBT và biết rằng đó là xu hướng tự nhiên, không phải là một loại bệnh. Nên khi cô giáo nói thế, em chỉ bỏ qua – em nghĩ rằng thế là do cô thiếu thông tin hoặc có thông tin sai,” Đức nói.

Đức nghĩ rằng các giáo viên của Đức có nghi ngờ em là đồng tính nam, do cử chỉ và phong cách của em. Nhưng ngay cả khi một giáo viên khác đưa ra tiếng nói bảo vệ Đức, thì ý kiến của cô lại thể hiện sự thiếu hiểu biết và chuyển tải một thông điệp có hại: “Khi cô giáo chủ nhiệm lớp nói chuyện với cả lớp vào cuối tuần, cô nhắc các bạn không trêu chọc em,” em nói. Cô giáo giải thích với lớp rằng hãy để cho Đức yên, “vì theo bài đã học trong lớp sinh học, các em biết rằng có những người như thế [đồng tính luyến ái] và một ngày nào đó họ có thể thay đổi.”

Hạn chế về nguồn lực và thiếu tập huấn cho giáo viên

Một chướng ngại vật đối với việc cải thiện điều kiện cho học sinh LGBT trong các trường học ở Việt Nam nằm ở thực tế thiếu các giáo viên và chuyên gia tư vấn được đào tạo đầy đủ để hỗ trợ đúng mức cho các học sinh LGBT, phần nào phản ánh thực tế chung về tình trạng hạn chế nguồn lực của các trường học. Trong bản đánh giá năm 2012, Ủy ban về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc đã đưa ra nhận xét với quan ngại về “năng lực giáo viên thấp” ở các trường học của Việt Nam.

Trong bản phúc trình năm 2016 về giáo dục, UNICEF và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam đã ghi nhận rằng, trong khi tỷ lệ sinh viên trên giáo viên đã giảm xuống ở gần như tất cả mọi địa phương trong nước, đa số giáo viên – đặc biệt là ở các vùng nông thôn – vẫn bị quá tải và chưa được đào tạo đầy đủ về các nhiệm vụ được giao. Bản phúc trình viết:

Một mảng bị thiếu hụt trầm trọng là các chuyên gia tư vấn (counselor) tại học đường. Trong những năm gần đây, các khảo sát cho thấy tình trạng thiếu niềm tin của học sinh vào dịch vụ tư vấn học đường ở những trường học có cung cấp dịch vụ đó. Các nghiên cứu khác đã làm rõ tình trạng thiếu các chuyên gia tư vấn được đào tạo đầy đủ ở các trường học – đặc biệt là khi cần trợ giúp các học sinh thiểu số và các em có tình trạng sức khỏe tâm thần. Một thông tư do Bộ Giáo dục ban hành năm 2017 ghi nhận rằng các vị trí tư vấn/cố vấn trong trường thường do các giáo viên kiêm nhiệm bán thời gian và nói chung đều bị quá tải; với cơ cấu 28 tiết dạy mỗi tuần, người giữ vị trí đó thường được cắt ra ba hoặc bốn tiết một tuần để làm nhiệm vụ tư vấn. UNICEF và Bộ Lao động đã nêu rõ trách nhiệm của chính phủ đối với việc nâng cao năng lực và quyền hạn của giáo viên: “[Các] nguồn lực cần được phân bổ để hỗ trợ sự phát triển của mạng lưới chuyên gia tư vấn và/hoặc công tác xã hội tại trường học, và hỗ trợ giáo viên về chăm sóc và bảo vệ trẻ em để giảm thiểu bạo lực nhằm vào trẻ em ở học đường.”

Giáo viên phát tán thông tin sai lệch

Tôi chưa bao giờ được dạy về LGBT…Có rất ít người nghĩ rằng điều đó là bình thường.

—Tuyến, một phụ nữ luyến ái song tính 20 tuổi, tháng Giêng năm 2019

Ví dụ như, Tuyết, một phụ nữ song tính, 18 tuổi, nói rằng: “Các thầy cô giáo ở trường trung học của em nói những điều không tốt về người LGBT. Trong một lớp dạy về hôn nhân và gia đình, giáo viên nói rằng “Đồng tính luyến ái là một dạng bệnh hoạn và rất xấu.”[35] Quân, một nam đồng tính 18 tuổi, nói với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng giáo viên môn sinh ở trường trung học của em nói với lớp rằng “LGBT là một loại bệnh” và “những người LGBT cần đi khám bác sĩ và tiêm nội tiết tố nữ.” Quân nói rằng giáo viên đó kể một câu chuyện cá nhân về vấn đề này: “Thầy cứ nói đi nói lại về chuyện đó, vì thầy có hai đứa con, và gần nhà thầy có một cậu bé thích mặc đồ con gái.” Quân nói rằng giáo viên kể câu chuyện đó theo cách gợi ý rằng các con thầy cần được bảo vệ tránh xa khỏi những người như thế.

Sinh, 23 tuổi

Khi học lớp 10, Sinh thích một cậu con trai khác. Sinh cảm thấy bối rối và nghĩ rằng mình hẳn có vấn đề sai trái gì đó. Khi mẹ Sinh phát hiện ra điều này, bà phản ứng vô cùng dữ dội. Bà khóc lóc và đưa cậu đến gặp bác sĩ tâm lý. Bà bảo Sinh rằng cậu “bị ốm, mắc bệnh.” Sinh nói với mẹ mình là người song tính luyến ái, và bà hỏi Sinh tại sao cậu lại bất bình thường thế. Ở trường, giáo viên sinh học của Sinh dạy cả lớp rằng tình yêu chỉ có thể xảy ra giữa đàn ông và đàn bà, và chỉ có đàn ông cùng với đàn bà mới có thể tạo ra các gia đình tốt vì họ có thể sinh con. 

© 2020 Sally Deng minh họa cho Tổ chức Theo dõi Nhân quyền.

Những người khác kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền các phiên bản khác của câu chuyện tương tự. Phổ biến nhất là chuyện về giáo viên sinh học nói với học sinh rằng đồng tính luyến ái là phi tự nhiên hoặc là một loại bệnh. Giang, 22 tuổi, nói “Một lần trong giờ sinh học lớp 9, chúng em đang học về giới tính và giáo viên nhắc đến đồng tính luyến ái, nói rằng đó là điều phi tự nhiên và học sinh cần phải e sợ, với các từ ngữ miệt thị.”[37] Sinh, 23 tuổi, nói rằng: “Giáo viên sinh học của em nói rằng tình yêu chỉ có thể xảy ra giữa người nam với người nữ. Chỉ có một nam một nữ mới có thể tạo nên một gia đình tốt vì họ có thể sinh con.”

Nhưng những ý kiến như vậy không chỉ giới hạn trong giờ dạy sinh học. Một học sinh kể rằng giáo viên môn xã hội học nói, “Có những người đồng tính luyến ái và họ chạy theo trào lưu đồng tính.”[39] Phương, một học sinh 17 tuổi, giải thích:

Cô giáo dạy hóa hình như không ưa những người đồng tính. Cô nói với lớp em rằng có một học sinh đồng tính nam ở lớp khác, và cô không hiểu tại sao lại có những người như thế.

Cũng như câu chuyện của Đức, sự bao dung từ các giáo viên, nhân viên trong trường học thường đi kèm với quan niệm sai lệch về bản chất của sự hấp dẫn đồng giới. Tui, 17 tuổi, kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền: “[Giáo viên] nói rằng có cách chữa khỏi bệnh đó. Nhưng cùng lắm là nếu cố gắng chữa trị mà vẫn không khỏi thì cũng chẳng sao – chỉ nên thấy xấu hổ thôi.”

Dù dự án này chỉ tập trung vào trải nghiệm của các em học sinh ở trường học Việt Nam và Tổ chức Theo dõi Nhân quyền không có dự định ghi nhận góc nhìn của giáo viên, chúng tôi có phỏng vấn một thầy giáo, tên là Hòa, từng dạy môn sinh học 20 năm ở cấp trung học, về vấn đề này. Ông khẳng định với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng vấn đề LGBT không được đưa vào giáo trình ở trường mình. Ông giải thích:

Thầy Hòa cũng nói rằng khi trò chuyện với các đồng nghiệp khác, “nhiều người vẫn coi LGBT là một căn bệnh hay một hiện tượng bất thường” do đó “khiến họ không biết cách đối xử với học sinh LGBT như thế nào.” Nếu không tập huấn cho giáo viên về vấn đề và căn cước LGBT, các định khuôn và thông tin sai lầm sẽ lan truyền không kiểm soát được.

Trong các cuộc phỏng vấn, nhiều học sinh đã xác nhận rằng sự hấp dẫn đồng giới bị che phủ trong im lặng. Ví dụ như, Thám, một học sinh 17 tuổi nói với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng không một thầy cô nào của em từng nhắc đến xu hướng tính dục và bản dạng giới. Thám kể lại một chuyện:

Ở lớp chín, chúng em phải làm thuyết trình về tình yêu và quan hệ cho lớp Giáo dục Công dân. Giáo viên nói rõ với chúng em rằng chúng em chỉ có thể trình bày về tình yêu giữa nam và nữ, chứ không phải một dạng tình yêu nào khác.

Thiếu vắng thông tin trong các nguồn chính thức

Em phải mất hơn một tiếng đồng hồ giải thích [cho chuyên gia tư vấn ở trường] về LGBT. Nếu họ [các chuyên gia] đã biết về LGBT thì tốt hơn rất nhiều và họ có thể giúp được nhiều người hơn.

—Ngọc, một người chuyển giới nam 22 tuổi, tháng Hai năm 2019

Trong báo cáo năm 2014 của mình, UNDP viết:

Ngay cả khi các bài giảng về tình dục được đưa vào, thì nội dung đó cũng thường được đặt ở phần cuối cùng của sách giáo khoa và bị các nhà giáo bỏ qua. Do vậy, học sinh không được giảng dạy về SOGI hay tôn trọng sự đa dạng. Các học sinh LGBT ở hầu hết các trường đều không được trang bị các kiến thức cơ bản hay được trợ giúp về vấn đề SOGI từ các giáo viên hoặc các dịch vụ ở trường như các chuyên gia tư vấn, nhân viên y tế, hay từ các nguồn lực khác.

Các học sinh được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phỏng vấn đều đặc biệt lo lắng trước tình trạng thiếu thông tin về xu hướng tính dục và bản dạng giới trong sách giáo khoa. “Hồi ở trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, em chưa từng được nghe về SOGI từ các giáo viên,” Hằng, 22 tuổi, cho biết. “Không có giáo dục tình dục. Trong lớp sinh học chúng em chỉ học những gì có trong sách. Thầy cô giáo không bao giờ nhắc đến LGBT.”

Minh, 23 tuổi, nhận xét:

Trong lớp sinh học thì sách giáo khoa không hề nhắc đến LGBT. Vậy nên nếu giáo viên có quyết định giảng về vấn đề này thì các thầy cô cũng phải tự chuẩn bị. Nếu giáo viên lựa chọn dạy về tình dục dù chỉ một chút, thì cũng là cách tân rồi.

Trong một nghiên cứu y tế công cộng năm 2014, khảo sát hơn 1.600 học sinh ở các trường trung học của Việt Nam về các nguồn thông tin dẫn tới hiểu biết về tình dục của các em, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng “dù nhiều người tham gia tin rằng các em có hiểu biết về tình dục, chỉ một số ít thực sự có kiến thức chính xác về tình dục.”[48] iSEE đã ghi nhận được các trường hợp trong đó giáo viên buộc học sinh phải loại bỏ các thông tin khoa học về tính dục khỏi các bài trình bày trong lớp với lý do, như một cô giáo nói “điều đó sẽ khuyến khích các em học sinh trở thành đồng tính.”

Các chính sách và việc triển khai giáo dục giới tính ở Việt Nam không đáp ứng được yêu cầu theo khuyến nghị của đặc sứ của Liên hiệp quốc về giáo dục, các cơ quan công ước, và UNICEF, nhất là về khía cạnh phải đưa vào các thông tin về xu hướng tính dục và bản dạng giới.

Cách hiểu đồng tính luyến ái như một chứng bệnh tâm thần

Có rất nhiều sức ép đối với trẻ em phải trở thành người luyến ái dị tính. Luôn luôn có những thông tin tham chiếu gợi ý rằng có rung động với người đồng giới là một triệu chứng có thể và cần được thay đổi và được chữa trị.

—Một chuyên gia tư vấn ở trường học tại Hà Nội, tháng Chín năm 2019

Chỉ vài tháng trước khi Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phỏng vấn Lành, một nữ sinh song tính đang học trung học năm cuối, điện thoại của em bị nhân viên nhà trường thu giữ. “Cô giáo mời cha mẹ em đến gặp. Cô nói về việc học hành của em ở trường, và cũng nhắc đến việc em thích các bạn nữ,” Lành nói. “Cô bảo cha mẹ đưa em đi đến bác sĩ khám kiểm tra giới tính.” Lành không có mặt trong phòng lúc cô giáo nói điều này với cha mẹ em, nhưng, như lời em kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, “Sau đó, cha mẹ nói với em khi về nhà rằng: ‘Cô giáo nói với bố mẹ con là ô môi. Con phải đi bác sĩ khám thôi.’”[51]

Những người trả lời phỏng vấn khác thì mô tả về tình trạng phổ biến của quan niệm tin rằng sự rung động với người đồng giới là một triệu chứng tâm thần có thể chẩn đoán được. Tính phổ biến của niềm tin nói trên đã ảnh hưởng đáng kể đến đời sống những thanh thiếu niên LGBT được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phỏng vấn, từ mức độ là căn nguyên của sự kỳ thị và sách nhiễu, cho tới, như trong trường hợp của Lành, việc cha mẹ đưa con cái là người đa dạng tính dục tới gặp chuyên gia sức khỏe tâm thần để tìm cách chữa trị. Một chuyên gia tư vấn ở trường học, làm việc cho một mạng lưới các trường tư thục ở cả ba cấp tại Hà Nội kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền: “Nhiều khi các giáo viên tìm đến tôi và hỏi: ‘Rồi tôi có một học sinh đồng tính – tôi có thể làm gì? Phụ huynh thì không vui – liệu có cách nào đó để chúng ta chữa cho em đó được không?’”

Nhà nhân chủng học Natalie Newton phân tích trong một bài viết năm 2015 rằng “Báo chí đại chúng ở Việt Nam, các tài liệu giáo dục giới tính, và… sách giáo khoa y học coi đồng tính luyến ái là một căn bệnh.”[53] Theo nghiên cứu của bà Newton:

Các mục tư vấn trên báo ở Việt Nam cũng đăng tải ý kiến các bác sĩ và chuyên gia tâm lý học, những người đã viết về luyến ái đồng tính như một căn bệnh sinh lý, một sự rối loạn di truyền, hay mất cân bằng nội tiết tố, hoặc chứng bệnh tâm thần.

“Đôi khi những người phát thanh viên truyền hình nói về vấn đề LGBT. Cha mẹ tôi xem và bàn luận về vấn đề đó một cách rất tiêu cực,” Tuyến nói. “Họ không hiểu gì mấy, nhưng tin chắc rằng đó là một căn bệnh.” Nguyên, 17 tuổi, nói rằng khi em đang học lớp 7, cha em nói với em rằng “chỉ có 2 phần trăm những người đồng tính là bị bệnh tâm lý thực sự – số còn lại chỉ là cố đu theo trào lưu.” Mẹ em cũng cảnh báo rằng nếu bà phát hiện ra em là đồng tính thì bà sẽ đưa em vào bệnh viện tâm thần. “Nên lúc đó em quyết định rằng sẽ không bao giờ nói với ai,” Nguyên kể.

Sinh kể lại việc mẹ em phản ứng dữ dội như thế nào khi biết được, trong thời gian đang học trung học, em có quan hệ với một bạn trai. “Mẹ em bật khóc. Bà nghĩ em bị ốm, mắc bệnh,” em nói. “Mẹ cấm em không được gặp các bạn trai và đưa em tới một bác sĩ tâm lý [với ý nghĩ] có thể thay đổi em. Em nói với mẹ rằng em là người song tính và mẹ hỏi em tại sao em không phải là người bình thường.”

Một nhân viên của một tổ chức quốc tế điều hành các chương trình tập huấn cho giáo viên về dung hợp LGBT ở Việt Nam nói với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền: “Chúng tôi nghe được phản hồi từ nhiều giáo viên rằng họ không hiểu vì sao họ bị bắt buộc phải học về LGBT vì đó là một chứng bệnh và phải do các bác sĩ can thiệp”

Tìm kiếm thông tin chính xác và tích cực

Do trường học không cung cấp bất kỳ một thông tin nào như vậy, thanh thiếu niên Việt Nam phải đi tìm các thông tin tích cực và chính xác về xu hướng tính dục và bản dạng giới ở các nơi khác.

Hưng, 21 tuổi, nói rằng em chưa bao giờ nghe các giáo viên nói điều gì về người LGBT, nhưng em bị bắt nạt từ khi còn học tiểu học. “Các bạn cùng lớp kể chuyện cười về người đồng tính với thái độ miệt thị, nhằm chính vào em,” em nói và tâm sự rằng:

Em rất sợ hãi. Em nghĩ có điều gì đó bất ổn ở bản thân. Em nghĩ em đã làm điều gì đó sai dù không biết điều đó là gì. Em không hỏi được ai – em quá sợ hãi – để có thông tin về những vấn đề hay cảm giác đó. Em không biết phải làm thế nào nên cứ phải tự chịu đựng.

Nhiều em kể lại mình đã tìm kiếm thông tin từ các nguồn không chính thức ra sao – cụ thể là bằng cách tìm kiếm và lướt mạng internet.

Đi ngược lại dòng chảy của quan niệm phản đối LGBT, một tín hiệu dù nhỏ lẻ của thông tin tích cực cũng là một sự an ủi lớn. “Khi em được 18 tuổi, em tìm thông tin trên mạng. Em nghĩ mình bị bệnh,” Thương, 23 tuổi, kể lại. “Em tìm trên trang Google “vì sao một người con gái thích một người con gái khác?” Em tìm được một trang web nói rằng con trai có thể yêu con trai và con gái có thể yêu con gái. Điều đó làm em thấy nhẹ người.”

Nguyệt, một người đồng tính nữ 19 tuổi, nói rằng việc tìm kiếm các thông tin tích cực trên mạng internet lúc còn nhỏ hơn rất hữu ích. “Em tìm thấy các câu chuyện về con gái thích con gái. Không hẳn đó là thông tin tích cực, khẳng định trực tiếp rằng điều đó bình thường, nhưng rất có tác dụng vì câu chuyện đã cho em thấy rằng cảm giác đó không phải chỉ riêng mình em có,” em nói. Nhưng các câu chuyện, dù có tính tích cực, cũng không có tính giáo dục như một giáo trình đủ thông tin dung hợp. “Câu chuyện không chứa đựng nhiều kiến thức thực tế,” Nguyệt nói. “Và vì thế em có hiểu biết sai lệch về giới tính và tính dục trong một thời gian dài.”

Ngay cả các thanh thiếu niên đã công khai xác định là người đa dạng tính dục cũng nói rằng ở độ tuổi dậy thì các em từng gặp phải các định khuôn căng thẳng và thông tin sai lệch về bản thân và những người khác. Ví dụ như, Chính, 16 tuổi, nói rằng em đã hiểu lầm về các bạn là người đa dạng tính dục cho đến khi tìm được các thông tin tốt hơn và bản thân em công khai về giới tính của mình. “Em từng có nhiều định kiến trong đầu, và về hùa với các bạn trong lớp trêu chọc những bạn đồng tính,” em nói.

Sách nhiễu bằng lời nói

[Sau khi em công khai] một số người chấp nhận, một số người không và nghĩ rằng LGBT là một dạng bệnh, nên bắt đầu bắt nạt và cô lập em. Lúc đầu, khi em kể với người bạn thân nhất, cô ấy chỉ ngạc nhiên. Nhưng sau đó có lần bạn ấy nói, “Tại sao cái loại đồng tính thối tha chúng mày lại sống được nhỉ?”

—Liễu, một phụ nữ song tính, 19 tuổi, tháng Hai năm 2019

Bị sách nhiễu bằng lời nói đã in dấu lên trải nghiệm học đường của rất nhiều học sinh LGBT được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phỏng vấn. Trong hầu hết các trường hợp, bạn bè cùng lớp cô lập các học sinh là người đa dạng tính dục, những người có biểu hiện ngược lại với thông lệ về giới tính – cụ thể là các học sinh nam có cách hành xử bị coi là “quá ẻo lả.”

Phúc kể lại các bạn đầu trò bắt nạt em thường chỉ ra các hành vi không phù hợp với giới tính của em, bắt em phải thay đổi, rồi dùng những từ lóng miệt thị đồng tính. Em nói:

Họ không bao giờ nói rằng em là đồng tính nam nhưng nghĩ rằng em quá giống con gái – rằng sở thích và hành vi của em quá con gái. Họ nói rằng đáng lẽ em phải là con gái, và gọi em là ‘bê đê” rồi khi em đi ngang thì gọi “em gái ơi.”

Thương, 23 tuổi

Khi Thương ở độ tuổi teen, cô tự hỏi vì sao cô lại cảm thấy những người con gái khác hấp dẫn mình. Cô tìm kiếm thông tin trên mạng, “vì sao một người con gái lại thích một người con gái khác?” và tìm thấy một trang web nói rằng con trai có thể yêu con trai và con gái có thể yêu con gái. Điều đó làm Thương cảm thấy nhẹ người. Rồi khi vào đại học, lần đầu tiên trong đời Thương ngỏ lời với một cô gái là mình thích cô ấy. Cô gái này kể lại với các bạn cùng lớp, và họ bảo Thương rằng cô thật “bệnh hoạn.” 

© 2020 Sally Deng minh họa cho Tổ chức Theo dõi Nhân quyền.

Chính, một người song tính nam 16 tuổi, nói rằng em chưa bao giờ bị sách nhiễu trực tiếp dù có thổ lộ xu hướng giới tính với vài bạn trong lớp. Tuy nhiên, em nhớ lại rằng: “Một bạn ở lớp em là đồng tính nam, và mới đây bạn ấy bị gọi bằng từ lóng chỉ gái điếm vì giọng nói của bạn ấy hơi nữ tính.” Khánh, một người chuyển giới nam 22 tuổi, nói với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền: “Em thấy nhiều bạn ở các lớp khác luôn bị trở thành tâm điểm trêu chọc. Họ là những cậu con trai hơi giống con gái, nên người ta rất dễ chế giễu các bạn ấy.”

Đối với những người khác, bị sách nhiễu bằng lời nói là một chuyện thường ngày trong cuộc sống. “Lúc đó em nghĩ rằng, nếu chưa bị bạo hành thân thể, thì chưa đáng báo với thầy cô.” Quý, một nam song tính 23 tuổi nói. “Nhìn lại, thì thấy thật là tồi tệ. Lúc đó em chỉ chưa ý thức được việc đó – vì đó là chuyện xảy ra hàng ngày trong cuộc sống của em.”

Bạo hành thể chất

[Việc bắt nạt] chủ yếu là bằng lời nói, nhưng có một lần em bị năm sáu đứa con trai đánh hồi lớp tám – chỉ vì họ không ưa ngoại hình của em.

— Đức, một nam đồng tính 22 tuổi, tháng Chín năm 2018

Liễu, một phụ nữ song tính 19 tuổi, kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền về trải nghiệm của em trong trường trung học ở Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đang học lớp 10, Liễu nói với người bạn thân nhất rằng mình là người song tính luyến ái, vì lúc đó em nghĩ như vậy. Người bạn phản ứng rất tệ, rồi sau đó xin lỗi Liễu. “Rồi bạn ấy kể với cả trường về em,” Liễu nói.

Việc bộc lộ xu hướng tính dục của Liễu như thế đã đưa em vào tình thế rất nguy nan. “Ở lớp, các bạn khác không chơi với em nữa,” em nói. Lớp học của em trên tầng hai, nhưng khi em đi dưới sân ở tầng một, các bạn cùng lớp hắt nước xuống người em. “Các bạn ấy giấu cặp sách hay giày dép của em,” em nói. “Em chơi bóng rổ, và có những lúc các bạn nam cố tình ném bóng vào người hay vào đầu em.” Các bạn khác thì xé sách của Liễu, và có một lần đồng phục của em cũng bị xé. Rồi, lên lớp 11, các bạn cùng lớp đẩy Liễu từ sân hiên tầng hai làm em ngã gãy tay và xây xước nặng nhiều chỗ. “Khi cha mẹ em thấy các vết bầm, và cả khi tay em bị gẫy, em nói với họ là do em chơi bóng rổ,” Liễu nói. Tuy nhiên, ba Liễu không tin lời em nói, và đến trường với danh nghĩa xem em chơi bóng rổ và đã chứng kiến một số hành vi bắt nạt.

Dù bạo hành thân thể có vẻ như hiếm xảy ra hơn so với sách nhiễu bằng lời nói, những người trả lời phỏng vấn khác kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng các em có chứng kiến bạo hành thân thể đối với các bạn cùng lớp, là những người được biết hoặc bị đồn đại là người đa dạng tính dục.

Khác với trường hợp của Liễu, trong khi cha mẹ em quan ngại về việc con mình là nạn nhân của bạo hành ở trường, một số người trả lời phỏng vấn khác cho biết rằng chính người nhà mình là thủ phạm bạo hành.

Liễu, 19 tuổi

 

© 2020 Sally Deng minh họa cho Tổ chức Theo dõi Nhân quyền

Nguyên, 17 tuổi, kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng vì quá háo hức tìm hiểu xem cảm giác rung động trước những người đàn ông khác của mình nghĩa là gì, em thường tìm các trang khiêu dâm trên mạng. “Em thực sự quan tâm đến việc đó, nhưng không biết cách xóa lịch sử chương trình lướt mạng. Nên cha mẹ em phát hiện được,” em nói. “Cha em đánh em đến thâm tím người. Ông đánh em bằng cây gậy cán kim loại đến khi gẫy ra. Em đã quên việc đó cho đến tận mấy ngày sau, khi soi gương thấy những vết bầm trên người.”[72] Sau đó, khi em cố gắng nói chuyện với cha mẹ rằng mình là người đồng tính nam, mẹ Nguyên hét lên với em. “Bà ném các thứ vào người em – một cái loa âm thanh nổi vào đầu, một quả cầu đá trang trí nữa,” em nói, và kể thêm rằng các cơn la hét và bạo hành còn tiếp diễn suốt mấy tháng. “Em bắt đầu có những cơn ác mộng về mẹ la mắng mình – rằng trong đời bà ấy giờ chỉ còn cha và anh trai em.”[73]

Sức ép phải tuân theo thông lệ xã hội

Các bạn bè và thầy cô nói những lời hung hãn về các nhân vật LGBT trên truyền hình, nên em không thấy an toàn [ở trường]. Họ nói những điều như [các nhân vật LGBT] không phải giống người, họ thật kỳ dị, bất thường. Ý họ là người đồng tính thì đáng ghê sợ.

—Phúc, nam đồng tính 20 tuổi, tháng Hai năm 2019

Như đã trình bày ở phần trước trong bản phúc trình này, Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc công nhận quyền của người LGBT trong những năm gần đây. Tuy nhiên, đối với nhiều người LGBT, các thông lệ xã hội thống trội vẫn tiếp tục cản trở việc họ tự do bày tỏ xu hướng tính dục và bản dạng giới, đồng thời ngầm nuôi dưỡng các hành vi kỳ thị và bạo hành. Trong một bài viết về quan hệ gia đình và căn tính LGBT ở Việt Nam, các nhà nhân chủng học Paul Horton và Helle Rydstrom phân tích hiện tượng có vẻ như nghịch lý đó như sau:

Các thông lệ văn hóa-xã hội thống trội về tính dục đã cho phép người ta loại trừ tính dục đồng giới về mặt thực tế cũng như pháp lý ở Việt Nam ngày nay, đồng thời mở ra các không gian có thể phản kháng thông qua việc thực hành phản đối, diễu hành và biểu tình, vận động chính trị và các thay đổi đối với Luật Hôn nhân và Gia đình.

Horton và Rydstrom lập luận rằng có một sức ép lớn buộc người ta phải tuân thủ “sự trông đợi về quan hệ dị giới bình thường để duy trì gia đình.” Họ cũng nhấn mạnh rằng sức ép hướng tới việc tuân thủ cấu trúc gia đình phụ hệ rất phức tạp và không chỉ riêng những người đa dạng tính dục mới phải chịu. Họ ghi nhận trường hợp một người đồng tính nữ 25 tuổi tên là Bùi kể rằng mẹ cô nghi ngờ cô là đồng tính nữ dựa trên cách ăn mặc, và trước khi cô công khai xu hướng giới tính của mình, mẹ cô dọa sẽ tự tử nếu cô công khai tuyên bố rằng mình đồng tính. Họ viết, “bà mẹ nói với Bùi rằng bà ấy có thể chịu đựng được sự lựa chọn xu hướng giới tính của cô, nhưng không chịu được cách người khác sẽ nói về con mình.” Hai vị học giả giải thích rằng:

[C]ác bậc cha mẹ có thể phản ứng tiêu cực trước việc con trai hay con gái mình công khai giới tính, không phải chỉ vì quan niệm của riêng họ về tính dục và tầm quan trọng của hôn nhân, mà còn vì các quy ước văn hóa xã hội rộng hơn và ảnh hưởng tiêu cực của việc đó tới danh dự chung của cả gia đình.

Trong các bài viết khác dựa trên nghiên cứu dân tộc học thực địa, Horton ghi chép lại việc các quan niệm về không theo chuẩn giới đã ảnh hưởng tới những trải nghiệm bị bắt nạt của các học sinh như thế nào, đặc biệt là những em đồng tính nam kể lại cách họ che giấu các hành vi không theo quy chuẩn trong thời thơ ấu để tránh bị dò xét và sách nhiễu.

Đỗ Thị Lan Anh, một giáo sư ở Đại học Quốc gia Việt Nam, ghi nhận trong một bài viết năm 2017 về trường hợp các bậc cha mẹ nhận biết và phán xét các hành vi “ái nam ái nữ” ở những đứa con trai. Tác giả dẫn lời một người mẹ nói rằng: “Với những đứa con trai tuổi dậy thì mà quá yếu đuối và dịu dàng, chúng tôi sẽ mắng nó là bê đê… con trai tuổi dậy thì phải mạnh mẽ thì mới không bị những người đồng tính nam tấn công/ rủ rê…”

Trong một công trình nghiên cứu trên 2600 người thiểu số về giới tính nữ và người chuyển giới nam do các nhà nghiên cứu từ iSEE, ICS (một nhóm LGBT Việt Nam), Đại học John Hopkins và Đại học Harvard tiến hành, các nhà nghiên cứu đã kết luận: “Nhìn chung, cách đối xử tiêu cực của gia đình là chỉ dấu sớm của tình trạng sức khỏe tâm thần xấu hơn, và tỷ lệ tự sát cũng như nghiện hút thuốc và nghiện rượu cao hơn.” Bài nghiên cứu khuyến nghị các biện pháp can thiệp theo cả hai hướng, vừa cải thiện thái độ bao dung của gia đình vừa hỗ trợ những người chuyển giới nam, đồng tính nữ và song tính nữ tăng khả năng chịu đựng với sự hắt hủi của gia đình.

Có một môi trường học tập an toàn là điều đặc biệt quan trọng đối với các thanh thiếu niên LGBT bị hắt hủi hay sách nhiễu ở gia đình. Nhiều em học sinh kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền các phương cách giữ cho bản thân được an toàn ở trường. Các câu chuyện đó thể hiện sức chịu đựng và sáng tạo, nhưng đồng thời cũng cho thấy những điểm yếu mà nhà trường cần hành động. Nhà trường có nghĩa vụ đảm bảo các cơ sở và hoạt động của mình phải an toàn. Hoặc, như cách iSEE đặt vấn đề trong bản phúc trình năm 2016:

Vì không phải [tất cả] học sinh LGBT đều may mắn được đối thoại với giáo viên, các nhà chức trách ở học đường phải có trách nhiệm và đưa ra các quy định rõ ràng để đảm bảo một yêu cầu tối thiểu [là] cách ăn mặc của học sinh không thể trở thành căn cứ phân biệt đối xử với người LGBT.

Góc nhìn của các em học sinh LGBT

Khi Ngọc, năm nay 22 tuổi, đang học trung học, em bắt đầu thay đổi và ngoại hình không phù hợp với thông lệ xã hội của giới tính nữ mà em được chỉ định khi sinh ra. Một hôm, khi em học lớp 11, giáo viên sinh học gọi em tới bàn của cô:

Cô ấy viết bằng phấn hai chữ “nam” và “nữ” lên bàn và bảo em chọn một. Cô hỏi em vì sao lại cắt tóc ngắn. Em nhận ra rằng có thể cô chưa có kiến thức về xu hướng tính dục và bản dạng giới, nhưng cô thấy có một vấn đề rắc rối đang nảy sinh từ việc em là LGBT.

Ngọc nói với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng em trân trọng cách tiếp cận kín đáo của cô giáo, thay vì gọi em lên trước mặt các bạn trong lớp. “Cô ấy nhận thấy rằng đây là vấn đề nhạy cảm, và cô muốn giúp em theo cách nào đó,” Ngọc nói. Tuy nhiên, sức ép xã hội nặng nề mà Ngọc cảm nhận được ở gia đình và nhà trường vì ngoại hình của mình khiến em cảm thấy sợ hãi. “Lúc cô hỏi em [chọn giữa nam hay nữ] em thực sự lúng túng về câu trả lời, vì em sợ nếu trả lời ‘sai’ thì cô sẽ báo với cha mẹ em,” em nói.

Một em song tính nữ 17 tuổi giải thích rằng: “Em nghĩ vai trò giới theo cách cũ, truyền thống cần phải thay đổi – như kiểu một người con gái luôn phải có một người chồng – và đàn ông được hưởng tiêu chuẩn kép. Nhưng khi em bày tỏ ý kiến của mình, mọi người nói rằng em ngổ ngáo.”

Một số em tham gia trả lời phỏng vấn đã phân tích cách giới chức trong nhà trường ngầm áp đặt quy ước về giới tính theo thông lệ. Ví dụ như, trong trường hợp của Nguyên, giáo viên cấp hai quan sát thấy em chỉ chơi với con gái, liền thông báo việc này với cha mẹ em đồng thời áp đặt hình thức kỷ luật em ở trường. Em nói:

Hồi học cấp hai, em chỉ chơi với các bạn nữ vì em không thích kiểu bọn con trai chỉ nói về con gái và chơi game. Các bạn gái vui hơn nhiều. Giáo viên chủ nhiệm lớp nhận thấy điều này và nói lại với cha mẹ em. Cha mẹ em lo lắng, nên giáo viên giao cho em làm trực nhật lớp suốt ba tháng liền. Em không được làm các việc nhẹ trong lớp nữa, ví dụ như lau bảng. Em toàn phải làm người quét dọn. Lớp học xong lúc 5 giờ chiều, còn em phải ở lại một mình đến 8 giờ tối để lau dọn lớp.

Nguyên, 17 tuổi

© 2020 Sally Deng minh họa cho Tổ chức Theo dõi Nhân quyền.

Rất nhiều học sinh LGBT chúng tôi tiếp xúc cảm thấy có sức ép hữu hình buộc phải tuân thủ những thông lệ xã hội. Đối với một số em, điều này có nghĩa là không bao giờ bộc lộ xu hướng tình dục hay bản dạng giới với bạn bè. Sự kín đáo sẽ đổi lại được một chút an toàn. Diệp, 21 tuổi, nói, “Nếu trong khi một nhóm bạn đang tán gẫu và có một người nhắc đến LGBT, các bạn khác sẽ ngăn người đó và nói, ‘Đừng nhắc đến chuyện đó, ghê lắm.’ Cho nên mọi người không bao giờ muốn ra công khai.”

Hằng, một nữ song tính 22 tuổi, kể lại cách em tự bảo vệ mình, khi nói về thời gian em học cấp hai và cấp ba: “Nếu em xử sự bình thường sẽ không có gì rắc rối. Nếu em thể hiện mình hơi quá, em sẽ bị những người khác ở trường nhắc nhở, nhưng vì em giữ kín hầu như mọi lúc, nên điều đó không xảy ra.” Một chuyên gia tư vấn ở trường giải thích: “Có các giáo viên nói với tôi, “Vâng, kỳ thị xảy ra cũng có nguyên nhân – có những đứa trẻ khác lạ thì sẽ bị đối xử khác lạ.””

Hậu quả của tình trạng bị bắt nạt và cô lập

Em không thấy an toàn ở trường, do quan niệm và định kiến của những người khác về LGBT. Em không bị bạo hành thân thể, nhưng em bị tổn thương tâm lý. Chắc chắn ai cũng thấy tổn thương khi mọi người cứ liên tục nói rằng bạn bị bệnh như thế.

—Nhung, một nữ song tính 17 tuổi, tháng Giêng năm 2019

Các thanh thiếu niên LGBT bị bắt nạt và cô lập ở trường phải chịu hàng loạt hậu quả tiêu cực. Các em tham gia phỏng vấn kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng họ cảm thấy căng thẳng do bị bắt nạt và sách nhiễu, và tình trạng căng thẳng đó ảnh hưởng tới khả năng học tập. Một số em nói rằng do bị bắt nạt vì xu hướng tính dục và bản dạng giới khiến các em đi học thất thường hoặc bỏ học ở nhà. “Việc bị bắt nạt ảnh hưởng tới em rất nhiều, nhất là về sức khỏe tinh thần,” Trung, một người chuyển giới nam, 18 tuổi, nói. “Em không muốn đi học và rất sợ phải bước qua cổng trường.”

Các nghiên cứu trên thế giới đều cho thấy thanh thiếu niên LGBT có nguy cơ phải chịu các hậu quả tiêu cực về sức khỏe tinh thần cao hơn, bao gồm trầm cảm, bất an, lạm dụng chất hướng thần và có ý định tự tử. Ví dụ như, dữ liệu của chính phủ Hoa Kỳ từ năm 2016, gần đây mới ghi chép cụ thể về các trải nghiệm của thanh thiếu niên LGBT trên toàn quốc, chỉ ra rằng 8 phần trăm học sinh, sinh viên xác định là đồng tính nữ, đồng tính nam, và song tính trên toàn quốc đã có tỷ lệ trầm cảm và muốn tự tử cao hơn so với các bạn luyến ái dị tính. Dữ liệu cũng cho thấy một con số đáng báo động là 42,8 phần trăm thanh thiếu niên đồng tính nữ, đồng tính nam, và song tính tham gia khảo sát đã nghiêm túc cân nhắc việc tự sát trong năm trước đó, và 29,4 phần trăm đã thử tự tử, so với 14,8 phần trăm thanh thiếu niên luyến ái dị tính đã nghiêm túc cân nhắc việc tự sát vào năm trước đó, và 6,4 phần trăm thanh thiếu niên luyến ái dị tính đã thử tự tử.[92] Một công trình nghiên cứu học thuật ở Hoa Kỳ cho thấy một tỷ lệ bất cân xứng, tới 40% trong số các thanh thiếu niên từng có trải nghiệm vô gia cư xác định mình là LGBT, chủ yếu do gia đình không chấp nhận xu hướng tính dục hoặc bản dạng giới của họ.

Các nghiên cứu nói trên, thực hiện ở các nước khác, cũng đưa đến các luận điểm tương tự như ở Việt Nam. Ví dụ như, trong báo cáo năm 2015 của Viện Nghiên cứu Y tế và Xã hội và Tổ chức Cứu trợ Trẻ em (Save The Children) về thanh thiếu niên LGBT vô gia cư ở Việt Nam cho thấy rằng “bị gia đình kỳ thị, ruồng rẫy hay bạo hành là những nguyên nhân chính dẫn đến quyết định bỏ nhà và mong muốn tìm kiếm một cộng đồng bao dung hơn để gia nhập.”[94]

Một số học sinh nói với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng mình bỏ học để tránh bị bắt nạt. Ví dụ như, Duệ nói: “Một lần một bạn trai trong lớp – mà bạn này không ưa em – bảo em ‘mày mà đến trường là bị ăn đòn đấy’ nên ngày hôm sau em không đi học.”[95] Trung, 18 tuổi, nói khái quát về nỗi sợ của mình: “Em không thấy an toàn khi đi học, vì thường bị bắt nạt và xô đẩy.”

Đối với các em khác, như Hiền, 17 tuổi, việc bị bắt nạt liên tục ở trường đã dẫn đến bỏ học có quy luật. Em nói:

Ở trường cấp hai em bỏ học vì thấy không an toàn ở trong lớp. Em biết rằng nếu em đi học, sẽ phải nghe những lời trêu chọc bài bác người đồng tính, nên tốt hơn hết là ở nhà. Điểm số của em bị ảnh hưởng. Trường em học sáu ngày một tuần và em nghỉ ít nhất ba ngày, và trong những ngày đi học thì em cũng bỏ một số tiết vì quá sức chịu đựng. Cha mẹ em biết em nghỉ học. Họ biết em là đồng tính nam và nghĩ rằng em thấy không hợp với mọi người xung quanh nên ở nhà vì lẽ đó. Họ không biết gì về việc em bị bắt nạt.

Với đa số các học sinh trả lời phỏng vấn của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, mong muốn làm vừa lòng cha mẹ về việc học hành đã lấn át nỗi sợ phải đi học. Phúc, một người đồng tính nam 20 tuổi, giải thích: “Mọi người trêu chọc em rất nhiều. Em thấy chán nản và không muốn bị như vậy nữa. Nhưng rồi em vẫn đi học vì không muốn làm cha mẹ thất vọng.”

Nhà trường không giải quyết thỏa đáng các vụ bạo hành

Nhà trường cần thay đổi – đó là điều cấp thiết. Nguyên nhân thế hệ tôi ghét bỏ LGBT hoặc không hiểu về LGBT là do chúng tôi chưa bao giờ được dạy về sự khác biệt. Điều đó sẽ không chỉ giúp riêng cho người LGBT – mà sẽ giúp toàn bộ chúng ta có một xã hội tốt hơn.

—Một bà mẹ có con trai là đồng tính nam ở Thành phố Hồ Chí Minh

Hầu như tất cả các thanh thiếu niên LGBT từng trải nghiệm việc bị bắt nạt ở học đường được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phỏng vấn đều nói họ không thấy thoải mái đi báo cáo với nhà trường. Trong một số trường hợp là do cách hành xử định kiến ra mặt của nhân viên nhà trường; ở những trường hợp khác, học sinh quyết định không báo với nhà trường do suy đoán rằng nếu nhờ người lớn can thiệp thì sẽ không an toàn.

Đây là một chỉ dấu đáng lưu ý, vì ngoài các nội dung học chính khóa, các trường học thường phải cung cấp nhiều nguồn lực khác cho học sinh: sự hỗ trợ từ các giáo viên, các chuyên gia tư vấn, và các nhân viên khác trong trường, là một tài sản giá trị, và phải dễ dàng tiếp cận để hướng dẫn cho các thanh thiếu niên LGBT cũng như mọi học sinh khác. Theo UNESCO, “sự hỗ trợ từ các thầy cô có thể tạo ảnh hưởng đặc biệt tích cực đối với các học sinh LGBT và liên giới, tăng cường lòng tự trọng và góp phần giảm hiện tượng nghỉ học, tạo cảm giác an toàn và hòa nhập tốt hơn và kết quả học tập cao hơn.”

“Em chưa từng nghĩ đến việc nói với thầy cô về chuyện đó,” Tuyến, 20 tuổi, nói. “Em biết các bạn phản ứng như thế nào rồi, và em sợ với các thầy cô còn tệ hơn thế. Em cảm giác rằng họ sẽ không giúp em.” Đức kể với chúng tôi rằng các bạn ở lớp 8 đánh đập em, để lại những vết xước trông thấy rõ, nhưng em không báo cáo với nhà trường. Em giải thích:

Việc đó xảy ra ở trường nhưng em không nghĩ rằng các thầy cô biết. Sau đó em không nói lại với giáo viên, vì sợ nhà trường sẽ làm sự việc trầm trọng thêm và qua việc đó em sẽ bị để ý hơn. Em cũng nghĩ rằng nếu báo cáo với trường sẽ chẳng thay đổi được gì.

Khánh, một người chuyển giới nam 22 tuổi, tả lại trải nghiệm bị bắt nạt hồi ở trường trung học và việc đó ảnh hưởng tới ấn tượng của em về cách những người lớn ở trường sẽ hành xử ra sao:

Hay như Ngọc, một người chuyển giới nam từng bị bắt nạt ở trường học, giải thích:

Em không kể chuyện này với ai vì em không thể nói với họ nguyên nhân của việc em bị bắt nạt. Nói thật là, ở trường em, nếu hai học sinh đánh lộn, thì cả hai đều bị kỷ luật. Nên em không nói với ai vì không muốn mình bị phạt.

Một số học sinh có suy nghĩ rằng các giáo viên biết chuyện bắt nạt có xảy ra nhưng không muốn can thiệp. “Các thầy cô có thể biết chuyện đó xảy ra nhưng dường như không làm gì cả,” là lời em Giang, cũng là cảm giác chung của nhiều em học sinh được Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phỏng vấn. Nhiều em khác có trải nghiệm trực tiếp về việc nhà trường bỏ qua không phản ứng. Trong trường hợp của Liễu, 19 tuổi, bị các bạn trong lớp làm gẫy tay vào một trong nhiều lần bị hành hung cơ thể, ngay cả khi bố em can thiệp trực tiếp với nhà trường, họ cũng chỉ hành động nửa vời. Em kể:

Bố em nói với giáo viên, nhưng thầy cô chẳng làm gì cả. Bố muốn em chuyển trường, nhưng em không đồng ý vì em chỉ muốn học cho xong và không muốn có sự thay đổi nào hết. Khi bố em nói với cô giáo chủ nhiệm, cô đến lớp và yêu cầu các bạn không làm thế nữa. Cô không hỏi xem ai đã làm thế với em. Một tuần sau khi bố em báo với cô giáo việc em bị bắt nạt, bố em lại nói chuyện với cô giáo lần nữa, và nhận ra rằng làm ầm ĩ như thế không phải là cách tốt để giải quyết tình hình. Em nói với bố rằng báo thầy cô chẳng giải quyết được chuyện bắt nạt đâu. Thế nên bố em chỉ cố gắng hỗ trợ tinh thần cho em tiếp tục học cho xong phổ thông.

Tác động của môi trường học đường dung hợp và hỗ trợ

Em thấy rất an toàn ở trường trung học. Em cũng thấy mình rất may mắn. Khi còn ở trường, em luôn nghĩ rằng đó là chuyện bình thường. Nhưng sau khi ra trường và nói chuyện với các bạn khác, em mới nhận ra rằng trường cũ là một nơi rất an toàn.

—Trân, một nữ chuyển giới 22 tuổi, tháng Giêng năm 2019

Được nhận biết về các trải nghiệm bản thân và học về xu hướng tính dục và bản dạng giới giúp các thanh thiếu niên LGBT thấy an toàn ở học đường. Như em Ngọc nhận xét:

Em thấy rằng khi có nhiều kiến thức hơn, em có thể tự bảo vệ tốt hơn. Em có thể yêu cầu giáo viên gọi em theo đúng đại từ nhân xưng… và các thầy cô thường đồng ý. Em nghĩ tạo năng lực cho người LGBT có thể tự bảo vệ mình và thay đổi người khác là điều rất quan trọng.

Một chuyên gia tư vấn ở Hà Nội nhấn mạnh với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng các em học sinh LGBT đến gặp cô ở văn phòng có thể phát triển tốt nếu được hỗ trợ đúng. “Tôi có thể đưa sách cho các em và nói các sự thật về tính dục và giới tính, như thế có thể góp phần đẩy lui các thông tin tiêu cực và không đúng sự thật, từ đó các em có xu hướng tốt lên,” cô nói. Nhưng đa số các em, kể cả những em đã vượt qua được nỗi tự nghi ngờ và ghét bỏ bản thân khiến họ không dám tìm gặp tư vấn – vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin. Ngay cả khi các em có gặp một người đa dạng tính dục trong cuộc sống – khả năng này xảy ra hay không cũng tùy hoàn cảnh – cũng không có nghĩa là các em có được đầy đủ thông tin đúng đắn.”

 

II.  Các bậc cha mẹ hành động

“Cách duy nhất để giữ con là dùng tình yêu thương”

—Một người cha ở Thành phố Hồ Chí Minh

Hằng trở thành một nhà hoạt động vì chị không muốn mất Phong, con trai mình. Giờ đã ở độ tuổi 20, nhưng khi Phong đang học phổ thông, các bạn trong lớp bắt nạt em vì phong cách “không đàn ông” khiến em bị trầm cảm. Khi chị Hằng cố trình bày với nhà trường về vấn đề này, họ phản ứng bằng cách nói với chị rằng nếu con chị đừng hành xử bất bình thường nữa thì việc bắt nạt cũng sẽ chấm dứt.

Hiện giờ, chị là một trong số vài tình nguyện viên với PFLAG-Việt Nam, một tổ chức đặt tên theo chữ viết tắt từ “Parents and Friends of Lesbians and Gays” (Cha mẹ và Bạn bè của những Người đồng tính Nam và Nữ).

Nhóm khởi xướng của tổ chức giờ đây là PFLAG tập hợp ở Thành phố New York vào năm 1973 (đến thập niên 1980 mới lấy tên là PFLAG) sau khi con trai một cô giáo dạy tiểu học bị đánh, và bà muốn vận động cho con. Bà tổ chức các bậc cha mẹ của những đứa trẻ là người đa dạng tính dục lại để hỗ trợ và ngăn ngừa bạo hành nhằm vào các con. Các chi nhánh của PFLAG – cũng như các tổ chức có mục đích và cơ cấu tương tự – đã được thành lập ở hàng chục quốc gia trên khắp thế giới, trong đó có Trung Quốc, Myanmar và Việt Nam.

Ở Việt Nam, PFLAG vẫn là một dự án không chính thức, chưa đăng ký, nhưng các tình nguyện viên là cha mẹ đã bắt đầu thấy được kết quả qua việc tương tác với các bậc cha mẹ khác cũng có con là thanh thiếu niên LGBT. Trong thời gian làm việc với vai trò tình nguyện viên suốt năm năm qua, chị Hằng đã gặp các cha mẹ có con là LGBT với đủ loại quan điểm và niềm tin khác nhau. “Ngay cả một người có bằng tiến sĩ về tâm lý học cũng hỏi là con trai [đồng tính] của mình có phải thực sự là đàn ông không, hay trong quan hệ thì cháu là chồng hay là vợ,” chị kể. “Họ cũng thường muốn tự trách móc bản thân – họ nghĩ họ đã làm điều gì đó sai trong quá trình nuôi dạy con.”

Tâm thế đó thật đáng lo ngại, chị Hằng nói: “Họ thực sự hỏi chúng tôi về phương pháp thay đổi đứa trẻ – trong khi chúng tôi chuẩn bị chỉ cho họ cách thay đổi bản thân.” PFLAG tổ chức cả các buổi gặp riêng với các tình nguyện viên giàu kinh nghiệm và các cuộc gặp chung của cả nhóm cha mẹ. Chị giải thích:

Các buổi họp nhóm chúng tôi tổ chức cho cha mẹ mang một tinh thần cộng đồng giữa những người tham gia – theo nghĩa không phải chỉ có mình họ đơn độc trải qua những việc đó. Như thế giúp đẩy nhanh tiến trình hơn nhiều so với các buổi gặp riêng.

Những người đàn ông đồng tính là con trai cả và/hoặc là con trai duy nhất do vậy phải đối mặt với gánh nặng và nghĩa vụ theo đặc thù giới tính. Không đáp ứng được như vậy sẽ ảnh hưởng tới không chỉ bản thân họ, mà còn đối với toàn bộ gia đình, cả gia đình có thể sẽ bị cô lập về quan hệ xã hội. Phụ nữ cũng bị sức ép về nghĩa vụ và bổn phận làm mẹ và chăm sóc gia đình.

PFLAG cũng cố gắng tổ chức thuyết trình trong các trường học, để chứng minh cho giáo viên và thanh thiếu niên rằng thế hệ lớn hơn cũng chấp nhận và hiểu người LGBT. Tuy nhiên, như họ cho biết, họ thường bị các trường từ chối.

“Hầu như lần nào chúng tôi cũng bị các trường từ chối,” chị Hằng nói. “Ở Việt Nam chúng tôi rất coi trọng đạo đức của các thầy cô giáo. Các thầy cô nói rằng chủ yếu là do họ e ngại các phụ huynh sẽ trách thầy cô rao giảng các giá trị xấu và khiến cho học sinh trở thành đồng tính – nên họ không đồng ý cho PFLAG tới trường.”

Và chị Hằng tin rằng đó chính là điểm mấu chốt cần cấp thiết thay đổi.

“Các trường học cần thay đổi – đó là điều cấp thiết,” chị nói. “Nguyên nhân khiến thế hệ tôi phản đối LGBT hay bị nhầm lẫn về LGBT là do chúng tôi chưa bao giờ được dạy về những điều khác biệt.”

Anh Thắng, một tình nguyện viên PFLAG và là cha của một cậu con trai đồng tính, nói với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền rằng anh đã khóc nhiều tuần sau khi con trai công khai giới tính với mình khi cháu đang học trung học. “Tôi biết mình phải tỏ ra cứng rắn vì cháu có một kỳ thi quan trọng, và tôi muốn cháu tập trung vào kỳ thi đó, nhưng tôi đã khóc rất nhiều,” anh nói. Anh rất khó chịu về xu hướng đồng tính luyến ái của con trai và muốn tìm cách thay đổi con.

Nhưng với anh Thắng, sự lựa chọn đã rõ ràng: “Vào lúc đó tôi có một lựa chọn. Tôi không bao giờ hình dung được rằng con mình lại có thể trở thành nạn nhân của sự căm ghét từ chính bố nó. Và tôi biết nếu cứ tiếp tục suy nghĩ như thế, thì mình sẽ mất con,” anh nói. “Con tôi là một người tốt. Cách duy nhất để giữ con là dùng tình yêu thương.”

Anh gặp được các tình nguyện viên – phụ huynh trước khi mạng lưới PFLAG thành lập, và trải nghiệm đó khiến anh quyết định trở thành một nhà hoạt động.

“Tôi không bao giờ quên được lần gặp đầu tiên những bậc cha mẹ khác,” anh nói. “Cảm giác thấy mình không còn bị đơn độc thật kỳ diệu. Tôi có thể thấy các cha mẹ khác cũng có cảm giác ấy – rằng chúng tôi đều cần người đồng hành trong hành trình này.”

Hành trình của anh Thắng là một sự thay đổi tâm thế – từ chỗ công khai ghét bỏ người đồng tính đến chấp nhận đứa con đồng tính, rồi tới chỗ chủ động khuyến khích các bậc cha mẹ khác cũng làm như mình.

“Khi con tôi mới công khai, tôi sợ cháu sẽ phải đối mặt với những sự kỳ thị. Lúc đó, chỉ khác thường một chút thì ai cũng gọi là bê đê,” anh nói. “Và tôi cũng là một người dùng từ lóng có tính miệt thị đó. Tôi từng rất ghét người đồng tính và tôi biết điều đó độc ác đến mức nào.”

Theo ý kiến anh Thắng, các trường học đang trở nên cởi mở hơn, nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm. Ví dụ như, trong vài năm gần đây, anh đã từng làm thuyết trình cho PFLAG ở một số tỉnh, có các thầy cô giáo ở một số trường đã tự nguyện đến dự.

“Trường học phải cải thiện về vấn đề này. Chúng ta cần có thêm nhiều sự hỗ trợ cho các nhóm cộng đồng LGBT để họ phát triển tốt hơn,” anh nói.

 

III. Các tiêu chuẩn pháp lý về nhân quyền

Trong đợt Đánh giá Định kỳ Toàn cầu (UPR) năm 2014 tại Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc, chính phủ Việt Nam đã chấp thuận một khuyến nghị của Hội đồng về xu hướng tính dục và bản dạng giới: “Xây dựng luật chống kỳ thị để đảm bảo bình đẳng cho mọi người dân, bất kể xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ.”

Trong đợt UPR năm 2019, Việt Nam từ chối các khuyến nghị về việc phải bao gồm cả xu hướng tính dục và bản dạng giới trong Luật Lao động và hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. Tuy nhiên, chính phủ Việt Nam đã chấp thuận các khuyến nghị về:

Xây dựng quy phạm pháp luật chống phân biệt đối xử trên cơ sở xu hướng tính dục và bản dạng giới.

Thực hiện các bước tiếp theo để bảo đảm cơ chế bảo vệ cho các nhóm dễ bị tổn thương trong xã hội, trong đó có những người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính, chuyển giới và liên giới.

Thực thi các quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ y tế về điều chỉnh giới tính và công nhận pháp lý về giới tính.

Tháng Chín năm 2019, văn phòng Thủ tướng đã ban hành một quyết định hướng dẫn cụ thể các cơ quan hữu quan thực hiện các khuyến nghị của UPR đối với Việt Nam. Quyết định bao gồm các nội dung sau:

Chỉ thị Bộ Tư pháp thực hiện việc: “

Ban hành và th

c hi

n các k

ế

ho

ch, ch

ươ

ng tr

ì

nh h

à

nh

đ

ng qu

c gia đ

xóa b

đ

nh ki

ế

n, phân bi

t đ

i x

đ

i v

i ph

n

(nh

m tăng c

ườ

ng s

tham gia c

a ph

n

trong m

i lĩnh v

c và xóa b

b

o l

c gi

i) và các nh

ó

m đ

i t

ượ

ng d

b

t

n th

ươ

ng

,

[

trong đó

có]

ng

ườ

i

đồ

ng tính – song tính – chuy

n gi

i – liên g

iớ

i (LGBTI)

.”

Giao cho Bộ Y tế nhiệm vụ “lưu ý vấn đề về phẫu thuật

xác đ

nh l

i gi

i tính

…,

công nh

n gi

i tính mà không có s

đòi h

i v

m

t y t

ế” và “Ban hành và bố trí đủ nguồn nhân lực và tài chính nhằm thực hiện hiệu quả các kế hoạch, chương trình hành động quốc gia để xóa bỏ định kiến, phân biệt đối xử đối với các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương… [trong đó có] người đồng tính – song tính – chuyển giới – liên giới (LGBTI).”

Giao cho Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nhiệm vụ “r

à soát và đ

x

uấ

t hoàn thi

n pháp lu

t nh

m đ

m b

o bình đ

ng gi

a nam và n

, ch

ng phân bi

t đ

i x

trên c

ơ

s

gi

i (k

c

đ

i v

i

người

LGBTI).”

Quyền được giáo dục

Quyền về giáo dục được đảm bảo trong một số bộ luật của Việt Nam. Các văn bản hướng dẫn việc đảm bảo thực thi quyền giáo dục bằng cách, chẳng hạn, giảm thiểu bạo lực học đường, được cụ thể trong các thông tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luật Trẻ em Việt Nam năm 2016 ghi rõ:

Điều 16. Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu

1. Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân.

2. Trẻ em được bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục.

Trong báo cáo sơ bộ với Ủy ban về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc cho đợt đánh giá sắp tới, chính phủ Việt Nam nhấn mạnh:

Luật Trẻ em năm 2016 đã đưa vào và mở rộng các nguyên tắc [của Công ước về Quyền Trẻ em] trong đó có nguyên tắc “không phân biệt đối xử đối với trẻ em” và cấm “

đ

nh ki

ế

n, phân bi

t đ

i x

đ

i v

i

trẻ em trên cơ sở cá tính, hoàn cảnh gia đình, giới tính, sắc tộc, quốc tịch, tín ngưỡng và tôn giáo.”

Luật Giáo dục Việt Nam quy định tại điều 10 rằng “học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân” và “mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.” Trong một nghị định ban hành năm 2017, chính phủ Việt Nam quy định các biện pháp phòng chống bạo lực học đường. Trong đó có yêu cầu trường học không được “định kiến giới [hay] phân biệt đối xử” trong lớp học và quy định cụ thể các biện pháp hỗ trợ học sinh có nguy cơ bị bạo lực học đường, bao gồm:

Phát hiện kịp thời người học có hành vi gây gổ, có nguy cơ gây bạo lực học đường, người học có nguy cơ bị bạo lực học đường.

Đánh giá mức độ nguy cơ, hình thức bạo lực có thể xảy ra để có biện pháp ngăn chặn, hỗ trợ cụ thể.

Thực hiện tham vấn, tư vấn cho người học có nguy cơ bị bạo lực và gây ra bạo lực nhằm ngăn chặn, loại bỏ nguy cơ xảy ra bạo lực.

Năm 2019, Bộ Giáo dục ban hành một chỉ thị cụ thể về phòng chống bạo lực học đường. Tuy nhiên, văn bản này chưa nêu rõ các nhóm học sinh có nguy cơ dễ bị tổn thương, trong đó có các học sinh LBGT.

Học sinh LGBT bị tước đoạt quyền giáo dục khi bị bắt nạt, cô lập, và các chính sách phân biệt đối xử cản trở các em tham gia lớp học hay đến trường. Quyền giáo dục của các em học sinh LGBT cũng bị hạn chế khi giáo viên và giáo trình không có các thông tin có ý nghĩa tới sự phát triển của các em, hoặc công khai kỳ thị người LGBT.

Để cho quyền giáo dục thực sự có ý nghĩa, các trường học phải bảo đảm rằng giáo trình, cách hành xử của nhân viên nhà trường và nội quy của trường phải không phân biệt đối xử và cung cấp thông tin cho các thanh thiếu niên LGBT đầy đủ về chất và lượng như các học sinh khác, không phải là người LGBT.

Quyền giáo dục bao gồm cả quyền được giáo dục toàn diện về tính dục, là nội dung mà các thanh thiếu niên LGBT ở Việt Nam đang thiếu. Như Đặc ủy Liên hiệp quốc về Quyền Giáo dục đã phân tích: “Quyền giáo dục bao gồm cả quyền giáo dục giới tính, vừa là một nội dung quyền con người vừa là một phương tiện không thể thiếu được để đạt được các quyền con người khác, như quyền về sức khỏe, quyền thông tin, quyền tình dục và quyền sinh sản.” 

Một giáo trình mà chỉ nêu và cung cấp cho học sinh các thông tin về tình dục dị tính luyến ái trong vòng hôn nhân sẽ “bình thường hóa, tạo định khuôn và quảng bá các hình ảnh có tính kỳ thị vì dựa trên thông lệ luyến ái dị tính; việc giáo trình phủ nhận sự tồn tại của những người đồng tính nam, đồng tính nữ, chuyển giới, người chuyển đổi giới tính, và song tính, khiến những nhóm người này phải đối diện với các hành xử có tính kỳ thị và nguy hại.”

Để đảm bảo quyền giáo dục được tôn trọng, Ủy ban về Quyền Trẻ em đã yêu cầu rằng nội dung giáo dục giới tính do các trường học cung cấp:

Bạo hành và bắt nạt

Theo công pháp quốc tế về nhân quyền, trẻ em được bảo vệ trước mọi hình thức bạo lực. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt dễ phải đối mặt với bạo lực, trong đó bao gồm việc bị bắt nạt, phải được nhà nước quan tâm cụ thể và bảo vệ. Như Ủy ban về Quyền Trẻ em, cơ quan giám sát việc thực hiện Công ước về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc đã ghi nhận, “[các] nhóm trẻ em có nguy cơ dễ bị bạo hành bao gồm, nhưng không giới hạn trong, các nhóm trẻ… là đồng tính nữ, đồng tính nam, chuyển giới hoặc người chuyển đổi giới tính.” Ủy ban đã nhiều lần xác định các hành vi bắt nạt, sách nhiễu và bạo hành đối với thanh thiếu niên LGBT là xâm hại quyền trẻ em, và nhấn mạnh rằng “[một] trường học để cho hành vi bắt nạt hay các cách hành xử mang tính cô lập và bạo hành xảy ra là một cơ sở giáo dục không đáp ứng được yêu cầu của điều 29 khoản 1,” điều khoản quy định mục đích giáo dục của Công ước.

Ủy ban về Quyền Trẻ em đã xác định các bước mà các chính phủ các quốc gia thành viên cần tiến hành để bảo vệ trẻ em khỏi bị bắt nạt, sách nhiễu và các hình thức bạo hành khác. Trong đó có việc xử lý các thái độ kỳ thị có thể tạo tiền đề cho việc không khoan dung và bạo hành sinh sôi, thiết lập các cơ chế báo cáo, và đưa ra các hướng dẫn và tập huấn cho giáo viên và giáo chức biết cách phản ứng khi nhìn thấy hoặc nghe được về các vụ bạo hành. Trong khi thực hiện những bước nói trên, ủy ban đã nhấn mạnh rằng chính các em phải được tham gia “vào quá trình xây dựng chiến lược phòng ngừa nói chung và ở học đường nói riêng, đặc biệt là nhằm loại trừ và phòng ngừa bắt nạt và các hình thức bạo lực học đường khác.”

Chính sách chống bắt nạt và dung hợp LGBT

Các chính sách phòng ngừa bắt nạt bao gồm quy định bảo vệ công khai đối với các học sinh LGBT là điều cần thiết để thực hiện các nghĩa vụ về nhân quyền. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các chính sách phòng ngừa bắt nạt có bao gồm chống bắt nạt người LGBT giúp tăng cường cảm giác an toàn cho học sinh. Ví dụ như, một công trình nghiên cứu ở Hoa Kỳ có phân tích dữ liệu từ hơn 7.000 học sinh cho thấy các thanh thiếu niên LGBT học ở các học khu có chính sách chống bắt nạt bao gồm cả chống bắt nạt người LGBT cảm thấy an toàn hơn so với các học sinh LGBT học ở các học khu không có chính sách chống bắt nạt hay có chính sách chống bắt nạt nhưng không nhắc cụ thể về xu hướng tính dục và bản dạng giới. Các kinh nghiệm lâu năm ở các nơi khác cũng thể hiện tầm quan trọng của việc nêu đích danh. Ví dụ như, GLSEN, một NGO ở Hoa Kỳ từng tiến hành khảo sát về môi trường học tập cho học sinh LGBT từ năm 1999, đã khuyến cáo mạnh mẽ rằng các quy định chống bắt nạt cần ghi cụ thể các nhóm học sinh dễ bị tổn thương, đặc biệt là các học sinh LGBT.

Trong những năm gần đây, chính phủ các quốc gia trên khắp thế giới đã và đang thực hiện các thay đổi chính sách để bảo vệ thanh thiếu niên LGBT ở học đường. Năm 2015, có 55 vị Bộ trưởng giáo dục đã ký vào bản Kêu gọi Hành động của UNESCO chống bạo lực bắt nguồn từ chứng ghét sợ người đồng tính và chuyển giới. Bản tuyên bố đã ghi nhận cam kết của các chính phủ này về việc giám sát tình trạng lan tràn của việc bắt nạt ở học đường bắt nguồn từ chứng ghét sợ người đồng tính và chuyển giới, cung cấp cho học sinh thông tin về các định khuôn phân biệt giới tính có hại, tập huấn cho các giáo chức, và thực hiện các bước nhằm đảm bảo an toàn ở học đường cho thanh thiếu niên LGBT. Hai quốc gia đã ký văn bản nói trên trong khi đang xây dựng chính sách dung hợp LGBT là Nhật Bản và Philippines.

Nhật Bản

Phân biệt rõ định nghĩa về “xu hướng tính dục” và “bản dạng giới” và khuyến khích giáo viên không nên lầm lẫn giữa hai khái niệm.

Ghi nhận các định kiến xã hội đối với người LGBT ở Nhật Bản và hậu quả của các định kiến đó có thể gây ra phân biệt đối xử ở nơi làm việc như thế nào. Ngoài ra, sách hướng dẫn ghi rõ: “điều quan trọng là giáo viên phải rũ bỏ các định kiến và có hiểu biết tốt hơn về vấn đề này.”

Philippines

Trong những năm gần đây, các nhà làm luật và quản lý học đường ở Philippines đã nhận thấy rằng nạn bắt nạt học sinh LGBT là một vấn đề nghiêm trọng, và thiết kế các biện pháp can thiệp để giải quyết vấn nạn này. Năm 2012, Bộ Giáo dục (DepEd) có chức năng quản lý các trường tiểu học và trung học, đã áp dụng Chính sách Bảo vệ Trẻ em được thiết kế nhằm giải quyết tình trạng bắt nạt và phân biệt đối xử ở học đường, trong đó bao gồm cả bắt nạt và phân biệt đối xử xuất phát từ nguyên nhân xu hướng tính dục và bản dạng giới.

Năm 2013, Quốc hội Philippines thông qua Luật Chống Bắt nạt, với các văn bản hướng dẫn áp dụng ghi rõ rằng xu hướng tính dục và bản dạng giới bị cấm trở thành nguyên nhân cho các hành vi bắt nạt và sách nhiễu. Các văn bản hướng dẫn áp dụng bộ luật này giải thích rằng thuật ngữ “bắt nạt” bao gồm cả “bắt nạt trên cơ sở giới tính,” dùng để “chỉ bất kỳ một hành vi nào có tính nhục mạ hoặc cô lập một người trên cơ sở xu hướng tính dục và bản dạng giới (SOGI) theo cảm nhận hoặc thực tế.”

Campuchia

Đầu năm 2020, học sinh Campuchia từ 13 tuổi trở lên sẽ được học các bài học bao gồm nội dung về xu hướng tính dục và bản dạng giới. Yung Kunthearith, phó giám đốc phòng nghiên cứu sức khỏe trực thuộc bộ giáo dục, cho biết sự thay đổi này là “về sự bình đẳng.” Ông nói: “Chúng tôi muốn trẻ em [Campuchia] nhận thức rõ những vấn đề này, và hiểu rằng không một ai phải chịu bị phân biệt đối xử tại trường học hay bất cứ khi nào trong cuộc đời.”

Các nhóm xã hội dân sự bắt đầu làm việc với Bộ Giáo dục Campuchia để huấn luyện giáo viên về các vấn đề LGBT vào năm 2017.

Các nhà hoạt động vì thanh thiếu niên LGBT ở Việt Nam rất mong muốn được thấy chính phủ mình đưa ra các chính sách và quy định tương tự, nhưng họ cũng nhắc lại một lịch sử dài từng bị gạt ra ngoài lề những khi cố vận động. “Người ta nói với chúng tôi ‘bây giờ chưa được’ hoặc ‘vấn đề này hiện còn quá nhạy cảm,’” một nhà hoạt động ở Hà Nội kể với Tổ chức Theo dõi Nhân quyền. “Hay tại một vài cuộc họp, ngay cả với các lãnh đạo thanh niên, vấn đề LGBT được dự kiến trong chương trình nhưng rồi lại bị lờ đi.”

Quyền về sức khỏe

Quyền được an toàn không bị bắt nạt

Bắt nạt, cô lập và phân biệt đối xử gây ra các rủi ro đối với sức khỏe thể chất và tinh thần, đe dọa quyền được hưởng tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất có thể đối với thanh thiếu niên LGBT. Ủy ban về Quyền Trẻ em đã bày tỏ quan ngại về các hậu quả đối với sức khỏe do bị bắt nạt, trong đó có cả tự tử, và đã kêu gọi chính phủ Việt Nam “có các hành động cần thiết để ngăn ngừa và nghiêm cấm mọi hình thức bạo hành và xâm hại, trong đó có xâm hại tình dục, trừng phạt về thân xác và các hình thức đối xử hoặc kỷ luật vô nhân, đày đọa hay nhục mạ ở trường, do nhân viên nhà trường cũng như các học sinh gây ra.”

Thông tin sức khỏe

Năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam ban hành một văn bản hướng dẫn giáo viên về cách tham vấn, tư vấn cho học sinh. Văn bản này hướng dẫn giáo viên:

a)      Hiểu được tầm quan trọng của việc tư vấn cho học sinh; hiểu được tính chất, nội dung, hình thức, nguyên tắc và quy trình của công tác tư vấn cho học sinh.

b)      Áp dụng đúng quy trình và các nguyên tắc chung khi tiến hành tư vấn và hướng dẫn cho học sinh để các em giải quyết được các vấn đề cụ thể; áp dụng nhiều phương pháp và kỹ năng để tìm hiểu và đánh giá các vấn đề tâm lý của học sinh và xây dựng kế hoạch tư vấn để giúp học sinh giải quyết các vấn đề cá nhân.

c)      Sẵn sàng lắng nghe và tìm hiểu để có đánh giá khách quan về học sinh và giúp đỡ học sinh khi gặp phải các vướng mắc cần giải quyết.

Một trong những thực hành bắt buộc với giáo viên, được đề cập trong văn bản hướng dẫn nói trên, là “tư vấn về sức khỏe giới tính và sức khỏe sinh sản.” Điều quan trọng là chính quyền Việt Nam cần nhân cơ hội này tác động để việc thực thi văn bản nói trên bao gồm cả các đối tượng là học sinh LGBT.

Đặc sứ của Liên hiệp quốc về quyền giáo dục đã nhận định trong năm 2010 rằng tính dục, sức khỏe và giáo dục là “các quyền có ảnh hưởng qua lại,” và giải thích rằng “chúng ta phải có khả năng chăm sóc sức khỏe của mình, cũng như giải quyết vấn đề tính dục một cách tích cực, có trách nhiệm và tôn trọng, do đó phải ý thức được các nhu cầu và quyền của mình.” Đặc biệt là, đặc sứ có cảnh báo đối với các chương trình giáo dục giới tính chỉ căn cứ hoàn toàn vào các quan hệ luyến ái dị tính, bởi vì “việc chối bỏ sự tồn tại của những người đồng tính nam, đồng tính nữ, chuyển giới, người chuyển đổi giới tính, và song tính, [các giáo trình đó] khiến những nhóm người này phải đối diện với cách hành xử có tính phân biệt đối xử và rủi ro.”

Công ước Quốc tế về Các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa đã ghi nhận “quyền của tất cả mọi người được hưởng tiêu chuẩn cao nhất có thể về sức khỏe thể chất và tinh thần.” Công ước về Quyền Trẻ em nhấn mạnh thêm rằng trẻ em được hưởng quyền đó, và nêu rõ rằng, để đạt mục tiêu đó, chính phủ các quốc gia sẽ “đảm bảo rằng mọi thành phần xã hội, nhất là cha mẹ và trẻ em, được cung cấp thông tin [và] có thể tiếp cận giáo dục,” và sẽ “xây dựng chương trình chăm sóc y tế phòng ngừa, hướng dẫn cho các bậc cha mẹ cũng như cung cấp các dịch vụ và giáo dục về kế hoạch hóa gia đình.”

Ủy ban về Quyền Trẻ em đã tuyên bố rằng “để thực thi đầy đủ được quyền về sức khỏe của mọi trẻ em, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ đảm bảo rằng sức khỏe của trẻ em không bị ảnh hưởng do hậu quả của phân biệt đối xử, là một yếu tố đáng kể góp phần vào tình trạng dễ bị tổn thương,” trong đó bao gồm cả phân biệt đối xử có nguyên do từ “xu hướng tính dục, bản dạng giới và tình trạng sức khỏe.”

Các thiếu sót đáng kể trong chương trình giáo dục giới tính ở các trường học Việt Nam đã ảnh hưởng đến quyền về sức khỏe của mọi học sinh, đặc biệt là các học sinh LGBT. Các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) của Liên hiệp quốc là một chương trình phát triển chú trọng đến việc bảo đảm “không ai bị bỏ lại,” trong đó có một cam kết đảm bảo giáo dục có chất lượng và bao dung cho tất cả mọi người. Với tư cách là một quốc gia thành viên của Liên hiệp quốc, chính phủ Việt Nam đã ký các cam kết phát triển bền vững toàn cầu nói trên, bao gồm cả cam kết bảo đảm cho tất cả mọi người được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế về tình dục và sinh sản. Trong đợt đánh giá SDG năm 2018, chính phủ Việt Nam ghi nhận rằng, dù đã có đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, “Hệ thống giáo dục quốc gia vẫn chưa đồng bộ” và “tài liệu và cơ sở kỹ thuật của các trường vừa thiếu vừa lạc hậu.”

Chấm dứt quan niệm coi đồng tính luyến ái là bệnh lý

Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA), là tổ chức đưa ra các tiêu chuẩn toàn cầu về chẩn đoán bệnh tâm thần trong Sổ tay Thống kê và Chẩn đoán (DSM) do hiệp hội này xuất bản, đã loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi danh sách bệnh lý trong Sổ tay vào năm 1973. Tổ chức Y tế Thế giới đã loại bỏ đồng tính luyến ái khỏi Bảng Phân loại Bệnh Quốc tế (ICD) vào năm 1990.

Nhân đà cải cách DSM và ICD, các cơ quan sức khỏe tâm thần quốc tế và ngày càng nhiều các hiệp hội chuyên khoa tâm thần quốc gia và các bộ y tế trên toàn cầu đã xây dựng các chính sách chống phân biệt đối xử trong điều trị cho người LGBT. Trong đó có thể kể các tổ chức sức khỏe tâm thần quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ, Lebanon, Hồng Kông, Thái Lan, Ấn Độ, Nam Phi, Braxin, Philippines và Argentina. Đơn cử, Hiệp hội Ngành Tâm thần Thế giới (WPA) tuyên bố năm 2016 rằng “y học hiện đại đã loại bỏ việc coi xu hướng và hành vi tình dục đồng giới là một loại bệnh từ nhiều thập niên trước.”

Ấn Độ

Hiệp hội Y khoa Ấn Độ, trong một bản tường trình gửi Tòa án Tối cao, ghi rõ rằng hiệp hội “quan ngại nghiêm trọng về việc tình dục đồng giới bị coi là một triệu chứng rối loạn” và khẳng định rằng “các bác sĩ tâm thần cần phải làm đúng công việc của mình – điều trị các nỗi đau cảm xúc cho những người cần được điều trị. Trong đó có việc hỗ trợ các nhóm người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới (LGBT) giao tiếp với gia đình, xây dựng các mạng lưới hỗ trợ, giúp phát hiện và xử lý các hiện tượng trầm cảm và lo âu như tất cả các bệnh nhân khác cần được trợ giúp.”

Thái Lan

Năm 2002, Bộ Y tế Công cộng Thái Lan ra tuyên bố rằng “những người yêu người cùng giới không thể bị coi là bất bình thường về tâm lý hay mắc bất kỳ một loại bệnh nào.” Năm 2009, Trường Đại học Tâm thần học Hoàng Gia Thái Lan tuyên bố: “[Luyến ái đồng tính]…xảy ra ở cả hai giới, có nghĩa là đàn ông thích đàn ông (đồng tính nam) và phụ nữ thích phụ nữ (đồng tính nữ), và có những người thích cả hai giới (song tính); đó không phải là một loại bệnh tâm thần.”

Hồng Kông

Hiệp hội Tâm lý học Hồng Kông tuyên bố rằng “Các nhà tâm lý học hiểu rằng luyến ái đồng tính và song tính không phải là bệnh tâm thần.”

Philippines

Hiệp hội Tâm lý học Philippines (PAP) tuyên bố: “nhiều thập niên nghiên cứu khoa học đã dẫn các tổ chức chuyên ngành sức khỏe tâm thần trên thế giới đến kết luận rằng các xu hướng tính dục đồng tính nữ, đồng tính nam và song tính là các biến thể bình thường của tính dục ở con người” và “APA đồng hành với các sáng kiến toàn cầu nhằm xóa bỏ định kiến về bệnh tâm thần đã từ lâu bị gán cho tính dục đa dạng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người LGBT.”

Bình đẳng giới

Như bản phúc trình này ghi nhận, các thanh thiếu niên LGBT phải đối mặt với tình trạng vi phạm nhiều quyền con người do các định khuôn về giới. Chính phủ Việt Nam có nghĩa vụ phải triển khai các chính sách nhằm xóa bỏ định khuôn về giới trong xã hội.

Luật Bình đẳng Giới năm 2006 của Việt Nam nghiêm cấm “phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.” Trong luật có đề cập đến định khuôn về giới, với nội dung:

Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.

Văn phòng Cao ủy Liên hiệp quốc về Nhân quyền định nghĩa các định khuôn về giới như sau:

[là] quan niệm khái quát hay định kiến về đặc điểm, tính cách hay vai trò thuộc về, hoặc được coi là thuộc về, hay được coi là phải được thực hành bởi, phụ nữ hay nam giới. Định khuôn về giới sẽ có hại khi nó hạn chế khả năng của phụ nữ hay đàn ông không phát triển được năng lực cá nhân, theo đuổi nghề nghiệp chuyên môn và đưa ra các lựa chọn về cuộc sống của mình.

Điều 5 của Công ước về Xóa bỏ Mọi Hình thức Phân biệt Đối xử Với Phụ nữ (CEDAW) quy định rằng:

Các quốc gia thành viên sẽ thực hiện mọi biện pháp thích hợp: a) Để sửa đổi các định dạng xã hội và văn hóa về đặc tính nam giới và nữ giới, hướng tới mục tiêu xóa bỏ định kiến và tập quán và các thói quen khác dựa trên quan niệm cho rằng giới này cao hơn, giới kia kém hơn hay dựa trên định khuôn về vai trò của nam giới và phụ nữ.

Trong đợt đánh giá năm 2015 về Việt Nam, Ủy ban CEDAW ghi nhận với quan ngại, “rằng các định khuôn và thiên vị mang tính chất phân biệt đối xử về giới vẫn tràn ngập các tài liệu giảng dạy” và khuyến nghị chính phủ Việt Nam “Áp dụng các biện pháp chiến lược tổng thể để giải quyết nguyên nhân gốc rễ của tình trạng bất bình đẳng giới và cải tạo các định khuôn mang tính phân biệt về giới đã ăn sâu từ lâu nay.”

Trong một văn bản chính sách năm 2016, Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA) kêu gọi Việt Nam xóa bỏ “mọi quan niệm định khuôn về vai trò của nam và nữ ở mọi cấp và dưới mọi hình thức giáo dục bằng cách…sửa đổi sách giáo khoa và các chương trình học tập và điều chỉnh các phương pháp giảng dạy.”

Trong bản Nhận xét Chung ban hành liên thông giữa Ủy ban CEDAW và Ủy ban về Quyền Trẻ em năm 2014, có giải thích rằng:

Như được ghi nhận trong bản phúc trình này, định khuôn về giới và các sự kỳ vọng về cách ứng xử “bình thường” ở con trai và con gái có thể dẫn tới bắt nạt và cô lập ở học đường, và góp phần gián tiếp duy trì các tài liệu giảng dạy mang tính phân biệt đối xử về giới. Dù xu hướng tính dục và bản dạng giới không được nêu rõ trong Luật Bình đẳng Giới Việt Nam, các cơ quan công ước Liên hiệp quốc đã minh xác rằng không phân biệt đối xử về giới phải được hiểu là bao gồm cả về xu hướng tính dục. Hơn nữa, chính phủ các quốc gia khác đã cho thấy quy định pháp luật về bình đẳng giới có thể tạo cơ hội để xây dựng các chính sách dung hợp người LGBT. Ví dụ như, Điều luật Bình đẳng Giới của Thái Lan năm 2015 là bộ luật cấp quốc gia đầu tiên ở Đông Nam Á ghi cụ thể việc bảo vệ chống phân biệt đối xử trên cơ sở biểu hiện giới tính. Luật này quy định rõ cấm mọi cách thức phân biệt đối xử nếu một người “có ngoại hình khác với giới tính khi sinh” – một công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ người chuyển giới.

Luật Bình đẳng Giới của Việt Nam đã đặt nền móng cho việc xóa bỏ định khuôn về giới và bao gồm cả việc bảo vệ các xu hướng tính dục và bản dạng giới trong quá trình đó. Chính phủ Việt Nam cần có hành động đồng bộ theo hướng đó, bằng cách vừa áp dụng các chính sách hướng dẫn thực thi pháp luật hiện có để bảo vệ chống lại sự phân biệt đối xử trên cơ sở xu hướng tính dục và bản dạng giới, đồng thời sửa đổi pháp luật hiện hành để có quy định cụ thể về xu hướng tính dục và bản dạng giới.

 

IV. Lời cảm ơn

Một nghiên cứu viên cao cấp trong chương trình Quyền của Người Đồng tính Nữ, Đồng tính Nam, Song tính và Chuyển giới (LGBT) của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, MJ Movahedi, điều phối viên chương trình Quyền của Người LGBT, và một nhà tư vấn đã tiến hành nghiên cứu để xây dựng phúc trình này.

Phúc trình được thẩm định bởi Graeme Reid, giám đốc chương trình Quyền của Người LGBT của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền; một nghiên cứu viên Ban Á châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền; Michael Bochenek, cố vấn cao cấp về Quyền Trẻ em; và Joseph Saunders, Phó giám đốc Chương trình. Anjelica Jarrett, điều phối viên chương trình Quyền của Người LGBT, đã tham gia biên tập và phát hành. Dự án còn nhận được sự trợ giúp sản xuất từ Remy Arthur, nhân viên phụ trách kỹ thuật số và Fitzroy Hepkins, quản trị hành chính cao cấp.

Tìm Hiểu Tên Thánh Của Người Công Giáo Việt Nam / 2023

6/8/2012 8:58:13 AM

Nguồn Gốc Tên Thánh: Tên mà người Công Giáo Việt Nam gọi là tên thánh thì đó là tên riêng, tên gọi thường nhật của người Công Giáo Tây Phương. Trong tiếng Anh, có ba danh từ để chỉ tên riêng. Một là tên rửa tội (baptismal name), hai là tên Kitô Giáo (Christian name), ba là tên thứ nhất hay tên đặt (first or given name). Cả ba danh từ này đều có nghĩa là tên chính hay tên riêng (first name hay given name) của một ngườiTên chính của người Tây Phương được đặt trong lễ rửa tội nên gọi là tên rửa tội . Và tên chính của người Tây Phương được gọi là tên Kitô Giáo vì các nước Tây Phương chịu ảnh hưởng văn minh Kitô Giáo, tuân theo lời khuyến cáo của Giáo Hội, đã lấy tên các thánh để đặt tên cho các cá nhân. Do vậy, mới có từ ngữ tên thánh.

Tục lệ lấy tên thánh bắt nguồn từ tục lệ đặt tên trong Do Thái Giáo. Sau khi sinh con được một tuần, cha mẹ người Do Thái bế con tới giáo đường để cử hành nghi lễ đặt tên. Với con trai, nghi lễ đặt tên diễn ra trong nghi lễ cắt da quy đầu gọi là Bris. Tên được đặt gọi là tên thánh (sacred name) lấy từ các tên trong kinh thánh của Do Thái Giáo. Khi bị lưu đầy, người Do Thái bỏ tục lệ đặt tên thánh. Đến thế kỷ 12, các giáo sĩ Do Thái thấy cần duy trì căn tính dân tộc đã buộc các tín hữu đặt tên thánh như tục lệ cổ truyền. Nhờ đó mà ngày nay người Do Thái mới có một tên thứ hai là tên thánh.

Từ điển Bách Khoa Công Giáo, cho rằng tục lệ đặt tên thánh bắt nguồn từ quan niệm tình trạng con người được thay đổi. Nhận lãnh bí tích rửa tội là biến đổi sang con người mới. Do vậy, nhận tên thánh là chứng tích biến đổi về mặt tâm linh. Trường hợp cụ thể là vị tông đồ Paul của Kitô Giáo, sống vào thế kỷ thứ I sau Công Nguyên, trước đây có tên là Saul, khi theo đạo Công Giáo đổi tên là Paul mà người Công Giáo Việt Nam gọi là thánh Phaolô.

Không có tài liệu nào nói người Công Giáo bắt đầu đặt tên thánh từ bao giờ. Chỉ biết vào thời giáo hội sơ khai người Công Giáo tây phương có tục lệ lấy tên thánh làm tên riêng. Do vậy công đồng Nicaea họp năm 325 cấm người Công Giáo dùng tên các thần thánh không phải của Kitô Giáo để đặt tên. Đến thời Công Đồng Tridentino họp năm 1563, Giáo Hội Công Giáo buộc giáo dân khi đặt tên phải chọn tên thánh. Công đồng lưu ý các linh mục khi làm phép rửa tội, gặp trường hợp cha mẹ cố tình đặt tên không hợp tinh thần Kitô Giáo, thì vị linh mục đó tự động thêm vào một tên thánh, coi đó là tên thứ hai và ghi vào sổ rửa tội giáo xứ.

Theo Bách Khoa Từ Điển Britannica, quyết định trên của công đồng Tridentino nhằm chống lại tục lệ của Giáo Hội Tin Lành, đặc biệt của Thanh Giáo. Các giáo hội Tin Lành cho phép tín hữu nhận tên các nhân vật trong Cựu Ước làm tên chính, như các nhân vật Abraham, Samuel, Jacob. Rachel. Do vậy các nhà tính danh học Âu Châu kết luận: Những người có tên riêng là nhân vật trong Cựu Ước thông thường thuộc giáo phái Tin Lành, người có tên riêng là các nhân vật thuộc Tân Ước là người Công Giáo.

Đến bộ giáo luật năm 1917, qua điều khoản số 761, Giáo Hội nhắc lại khoản luật cũ từ thời Công Đồng Tridentino buộc người Công Giáo phải lấy tên thánh . Nhưng vào năm 1972, vì thấy việc đặt tên thánh không thích hợp cho tiến trình hội nhập văn hóa, nên thánh bộ Phụng tự đã bãi bỏ luật buộc người Công Giáo phải lấy tên thánh. Do vậy, đến bộ giáo luật năm 1983, người ta không thấy có điều khoản nào buộc người Công Giáo phải lấy tên thánh, mà chỉ quy định tên riêng của người ấy phải phù hợp với ý nghĩa Kitô Giáo. Điều 855 của bộ giáo luật 1983 quy định: Cha mẹ, người đỡ đầu và Cha Sở phải lo liệu để đừng đặt một tên không hợp với ý nghĩa Kitô Giáo .

Tại sao Giáo Hội Công Giáo đã quyết định lấy tên các thánh để đặt tên cho tín hữu? Giáo Hội đưa ra quyết định trên vì 2 lý do:

Thứ nhất, giáo hội tiếp tục duy trì truyền thống của giáo dân thời sơ khai. Những giáo dân đầu tiên là dân nô lệ, không phải công dân La Mã và theo tục lệ, khi người nô lệ được giải phóng, trở thành công dân La Mã, thì họ lấy tên riêng của chủ nhân thuộc giai cấp quý tộc làm tên mình. Tuy nhiên, với tín đồ Kitô Giáo thời đó, họ không thiết tha với các tên của các ông chủ cũ vì họ là nạn nhân của giai cấp quý tộc trong các cuộc cấm đạo. Ðồng thời khi một quý tộc trả tự do cho hàng trăm người nô lệ thì hàng trăm người đó có cùng tên với chủ cũ. Kết quả là tập tục này không đáp ứng được nhu cầu phân biệt vì thời gian đó, người Âu Châu chưa biết đến tên họ. Tên họ của người Âu Châu mới xuất hiện vào thế kỷ thứ 10. Do nguyên nhân này nên các người nô lệ được giải phóngđã lấy tên những người mà giáo hội Kitô Giáo nhận là thánh để đặt tên cho mình. Ví dụ: Thimotheus, Stephanos, Laurentius là các vị thánh đầu tiên. Đang khi Kitô Giáo phát triển, lan tràn cả Âu Châu thì đế quốc La Mã bước vào giai đoạn suy tàn. Hệ thống tên của La Mã mai một đi, tên thánh trở nên phổ thông hơn.

Thứ hai, Giáo Hội Công Giáo muốn tôn trọng phẩm giá con người. Khi xưa số tên người Âu Châu còn ít, hệ thống tên họ chưa xuất hiện, thì để phân biệt, người Âu thường dùng tên mà người Anh Mỹ gọi là Nickname, người La Mã gọi là Agnomen, còn Việt Nam gọi là tên lóng, tên tục. Khi xưa tên lóng thường được đặt cho những người thuộc giai cấp nô lệ tại La Mã. Ví dụ các tên như Crassus nghĩa là người béo, Varus: người què, Baldie hay Calvin: người trọc đầu, Cecil: người mù, Claude hay Gladys: người què. Vì tên có nội dung hạ thấp phẩm giá con người nên giáo hội đã ban hành luật buộc các linh mục khi làm phép rửa tội, gặp các trường hợp tên có ý nghĩa tiêu cực, phải lấy một tên thánh đặt thêm vào. Giáo dân Việt Nam cũng như giáo dân ở nhiều nơi trên thế giới vẫn nhận tên thánh vì còn giữ tinh thần bộ giáo luật cũ. Ngày nay, người công giáo Tây Phương không còn giữ tập tục lấy tên thánh để đặt tên riêng mà lấy bất cứ từ ngữ nào, có nghĩa hay vô nghiã, để đặt tên riêng.Ý nghĩa tên thánh đối với người Công Giáo Việt Nam: Sở dĩ người Công Giáo Việt Nam, Ðại Hàn, Nhật Bản, Trung Hoa và các nước truyền giáo khác trên thế giới có thêm tên thánh mà người Tây Phương không có, là vì các giáo sĩ Tây Phương đến Việt Nam cũng như các nơi khác truyền đạo, đã áp dụng tinh thần giáo luật cũ, đặt tên thánh cho giáo dân như đã làm cho giáo dân ở Tây Phương. Trái lại, đọc tiểu sử hàng giáo phẩm Công Giáo Tây Phương, ta không thấy vị nào có hẳn một tên thánh riêng như kiểu tên người Công Giáo Việt Nam. Nếu đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn có hẳn một tên thánh là Gioan Baotixita, thì đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI không có tên thánh riêng. Tên ngài là Joseph Ratzinger. Joseph là tên riêng vừa là tên thánh. Một ví dụ điển hình khác là thánh Gemma. Vì bố mẹ Ngài già rồi mới sinh con nên quý hóa đặt tên ngài là Gemma, có nghiã là ngọc. Trước đó, không có vị thánh nào tên Gemma cả. Tại San Jose, California vị linh mục chính xứ của tôi là Kevin Joyce. Kevin là tên riêng, là biến thể của tên Kelvin. Kelvin là tên con sông ở Tô Cách Lan. Joyce là tên họ. Linh mục Kevin Joyce không có tên thánh. Do đó người Công Giáo Tây Phương không có tục lệ mừng lễ thánh quan thầy.

Vậy quyết định của các giáo sĩ thừa sai đặt tên thánh cho người Công Giáo Việt Nam là đúng hay sai? Nếu đặt vào bối cảnh hiện nay thì đó là điều không chấp nhận được vì tên người Việt Nam hiện nay không hề được đặt ra để hạ phẩm giá con người như kiểu người Hy Lạp, La Mã ngày xưa, mà được lựa chọn từ những từ ngữ có ý nghiã tốt đẹp nhất để đặt tên cho con cái. Tuy nhiên, nếu đặt vào bối cảnh Việt Nam trong thế kỷ 16 thì quyết định của các thừa sai có thể tạm chấp nhận vì phong tục dân gian lúc đó còn dùng những tên có nghiã xấu, gọi là tên tục, để đặt cho những đứa trẻ mới sinh ngõ hầu tránh tà ma. Ví dụ các tên như Bùn, Sẹo, Chó v.v…

Mặc dù giáo luật hiện nay không bắt buộc tín hữu phải có tên thánh, nhưng việc đặt tên thánh có mục đích rất đáng trân trọng vì 2 lý do: thứ nhất, để người đó bắt chước gương sáng thánh bổn mạng mà sống cuộc đời đạo đức; thứ hai, để tín hữu đó được phù trợ nhờ lời cầu bầu của thánh bổn mạng. Hai mục đích trên được nói trong bộ giáo luật năm 1983, khoản 1186: Với mục đích cổ võ việc nên thánh của dân Chúa, Giáo Hội khuyến khích mọi tín hữu, lấy tình con cái, tôn kính đặc biệt Đức Maria hồng phúc trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa đã được Đức Kitô đặt làm Mẹ của loài người, cũng vậy, Giáo Hội cổ động lòng tôn kính chân chính và thành thực đối với các thánh, vì lẽ các tín hữu được kiên vững nhờ gương sáng và được nâng đỡ bởi lời bầu cử của các ngài . Hiện nay, người Công Giáo Việt Nam thường chọn tên các thánh nam giới cho phái nam và thánh nữ giới cho phái nữ. Ngoài ra, vì sự hiểu biết của giáo dân còn hạn chế về các thánh nên người ta thường chọn các thánh thời Chúa Giêsu như Phêrô, Phaolô, Gioan, Maria, Anna làm tên thánh. Ngày nay, Giáo Hội Việt Nam có cả trăm vị thánh tử đạo. Tuy nhiên, giáo dân Việt vẫn chưa quen nhận các thánh Việt Nam làm tên bổn mạng.

Trong giao tế xã hội, người Âu Mỹ không lấy tên riêng mà lấy tên họ của một người để xưng hô. Người ta gọi Tổng Thống Obama, không ai gọi là Tổng Thống Barack. Obama là tên họ, Barack là tên riêng. Khi chưa lên ngôi Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, người ta dùng tên họ Ratzinger để gọi ngài, không ai gọi ngài bằng tên đẻ là ĐHY Joseph. Chỉ trường hợp thân thiết lắm, người ta mới dùng tên riêng để xưng hô. Ở Việt Nam, để tỏ lòng tôn kính, giáo dân có tục lệ dùng tên thánh để gọi một vị Giám Mục, Linh Mục. Ví dụ Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh được gọi là Đức Cha Giuse. Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn được gọi là Đức Hồng Y Gioan Baotixita.

Ở Việt Nam người Công Giáo có tục lệ mừng lễ bổn mạng là ngày mà toàn thể Giáo Hội Công Giáo trên thế giới tưởng nhớ tới vị thánh đó. Khi chết, người Công Giáo không dùng tên húy hay tên riêng mà dùng tên thánh để cầu nguyện cho người quá cố. Như vậy, xét về mặt hội nhập văn hóa, tên thánh cũng có chức năng như tên thụy, tên hèm hay tên cúng cơm là các tên mà các người không phải là Công Giáo đã dùng để cầu nguyện cho người đã chết.

Nguyễn Long Thao

Tổng Quan Kinh Pháp Hoa – Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành Phố Hà Nội / 2023

TỔNG QUAN KINH PHÁP HOA

                                                                                                           Đại đức Thích Đạo Phong

I.GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC KINH PHÁP HOA

1.Thời gian, bối cảnh ra đời và sự hình thành kinh Pháp Hoa

a. Thời gian ra đời của kinh Pháp Hoa

Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh lớn của hệ thống Kinh tạng Đại thừa Phật giáo, được các học giả phương Tây cho là một trong hai mươi Thánh thư phương Đông. Sự nghiên cứu về mặt lịch sử ra đời, cũng như khái quát bố cục nội dung kinh là điều cần thiết cho việc học tập, nghiên cứu kinh Pháp Hoa.

Theo các tài liệu về lịch sử Phật giáo hiện đại như cuốn Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận của Kimura – Taiken, cũng như một số tài liệu khác thì Phật giáo Đại thừa xuất hiện tại Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ I trước Tây lịch cho đến thế kỷ thứ I sau Tây lịch, tức là vào khoảng 500 năm sau khi Phật nhập diệt. Đại thừa Phật giáo phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ thứ II trở đi, sự phát triển Phật giáo Đại thừa là tất yếu để đáp ứng nhu cầu của thời đại. Trước Pháp Hoa, các kinh điển Đại thừa khác đã xuất hiện khá phong phú như kinh Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, kinh Duy Ma Cật..vv. Kinh Pháp Hoa xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ II, bằng chứng của sự xuất hiện là vào thời điểm này có Bồ tát Long Thụ, tác giả của bộ Đại Trí Độ Luận, sống vào cuối thế kỷ thứ hai, đã trích dẫn kinh Pháp Hoa. Sự xuất hiện của kinh Pháp Hoa là sự tổng hòa, dung hợp tư tưởng Đại thừa của các bộ kinh trên.

b. Bối cảnh ra đời của kinh Pháp Hoa

Sau khi Đức Phật nhập diệt 100 năm, do những quan điểm, giải thích giáo lý, giới luật có sự khác biệt giữa các nhóm, các phái và giữa các vùng khác nhau cho nên giáo đoàn bắt đầu phân phái. Tổng cộng có đến 20 bộ phái.

Tăng đoàn của mỗi phái cố gắng thiết lập cho mình một căn cứ địa về mặt địa lý cũng như về mặt tư tưởng để củng cố học thuyết và bộ phái của mình. Đường lối sinh hoạt và tu tập của chư Tăng ngày càng cách biệt với quần chúng và quần chúng cũng không biết theo ai. Sinh khí của giáo lý thực tiễn cứu khổ ban đầu bị xói mòn, khô cứng, dần dần đi vào tư biện triết học. Phật giáo Ấn Độ trong tình trạng như vậy bị co cụm với những lý thuyết khô khan.

Trong khi đó, triết lý Bà-la-môn đang có chiều hướng phát triển và tranh chấp ảnh hưởng với Phật giáo, nhu cầu phát triển đổi mới, tạo tác dụng thực tiễn của giáo lý vào đời sống xã hội là một nhu cầu bức xúc.

Trong bối cảnh ấy, Phật giáo Đại thừa xuất hiện, những người Phật tử trí thức và đầy tâm huyết muốn thấy Phật giáo có sự sống sinh động và có tác dụng tích cực như thời Đức Phật, họ đứng lên khởi xướng phong trào mới là Đại Thừa (Mahayana), tức cỗ xe lớn chứa được nhiều người đến nơi Phật quả.  Phật giáo truyền thống được coi là Tiểu thừa tức cỗ xe nhỏ, ích kỷ, chỉ thành tựu A-la-hán quả.

Sự va chạm giữa Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa đã xảy ra một cách mạnh mẽ, đến độ không ai chấp nhận ai. Những kinh điển Đại thừa lần lượt xuất hiện phát dương lý tưởng Đại thừa, giải thích giáo lý mang tính tích cực và đại chúng hơn. Bát Nhã là bộ kinh lớn xuất hiện khá sớm, triển khai tư tưởng Chân không, tích cực đả phá Tiểu thừa, cho rằng Thanh văn và Duyên giác không phải là con của Phật. Kinh Hoa Nghiêm chủ trương pháp giới duyên khởi, nhưng vẫn coi Tiểu thừa là thấp kém hạ liệt. Đến Duy Ca Mật thì Tiểu thừa bị chỉ trích thậm tệ. Sự đả phá, chỉ trích lẫn nhau đã dẫn đến không chấp nhận nhau làm cho Phật giáo suy yếu. Nhu cầu về con đường hòa giải trở nên cấp thiết, xu hướng phê phán sự xung đột và mâu thuẫn trong Phật giáo ngày càng mạnh, tạo áp lực nhất định vào tâm tư của thời đại.

Trong bối cảnh đó, Kinh Pháp Hoa xuất hiện, chủ trương hòa giải mọi mâu thuẫn gay gắt của các dòng tư tưởng Phật giáo Đại thừa trước đó đối với giáo lý truyền thống, tạo sự thống nhất về tư tưởng và đường lối Phật giáo. Mặt khác, kinh Pháp Hoa cũng tổng hợp những tư tưởng cốt tủy của kinh Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, kinh Duy Ma, đồng thời mở ra chân trời mới cho mọi con người trong xã hội: Mọi người đều có Phật tính và đều có khả năng thành Phật.

c. Sự hình thành kinh Pháp Hoa.

Thể loại văn học của kinh điển Phật giáo có 12 thể loại khác nhau như Trường hàng, Trùng tụng, Cô khởi..vv. Trong kinh Pháp Hoa có đồng thời nhiều thể loại khác nhau, sự hình thành của kinh Pháp Hoa trải qua bốn giai đoạn.

– Giai đoạn thứ nhất: Hình thành phần Trùng tụng. Trùng tụng tức là phần kệ tụng ở trong kinh. Khi đọc kinh Pháp Hoa, phần trùng tụng là những đoạn thi kệ lập lại những ý đã được nói trong phần trường hàng.

Khi mới xuất hiện, kinh điển thường được viết bằng thi kệ mà không viết bằng văn xuôi, bởi hình thức kệ tụng truyền miệng dễ học thuộc hơn. Do đó với kinh Pháp Hoa, những phần trùng tụng xuất hiện trước, và đó là giai đoạn đầu kinh Pháp Hoa xuất hiện.

– Giai đoạn thứ hai: Hình thành phần Trường hàng. Trong giai đoạn thứ hai của sự hình thành kinh Pháp Hoa, người ta thêm vào phần văn xuôi, tức là phần trường hàng, với mục đích làm cho những đoạn trùng tụng rõ nghĩa hơn lên.

– Giai đoạn thứ ba:  Phát triển thêm phần Trường hàng. Giai đoạn thứ ba của sự hình thành Pháp Hoa là sự phát triển thêm phần trường hàng, tức là phần văn xuôi. Tại vì khi các học giả so các bản tiếng Phạn với nhau, thấy có những bản trong đó phần trường hàng ngắn hơn phần trường hàng của những bản khác.

– Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn kinh được thêm vào những phẩm mới.

2. Ngôn ngữ – cấu trúc và nội dung kinh Pháp Hoa

a. Ngôn ngữ và cấu trúc kinh Pháp Hoa

Ngôn ngữ của con người chỉ biểu đạt được những thứ bình thường trong cuộc sống, có ý nghĩa tương đối, mang tính cách phiến diện. Trong khi đó chân lý thì toàn diện và siêu việt, có ý nghĩa tuyệt đối. Cho nên dù sử dụng ngôn ngữ tinh xảo bao nhiêu cũng không thể chuyển tải hết sự thật của chân lý.

Để biểu đạt, chuyển tải chân lý cho người nghe dễ hiểu, dễ linh ngộ, kinh Pháp Hoa sử dụng phương pháp truyền đạt chân lý cao siêu qua những thứ bình thường, thông dụng trong thế giới tương đối, gần gũi với đời sống con người.

Ngôn ngữ kinh Pháp Hoa sử dụng để diễn đạt mục tiêu không phải là sự kiện bên ngoài mà chính là sự thật chứa ở bên trong. Đó là ngôn ngữ mang tính biểu tượng, nói cách khác, ngôn ngữ kinh Pháp Hoa là ngôn ngữ biểu tưởng.

Bố cục của kinh Pháp Hoa được trình bày theo hình thức chương, hồi. Toàn kinh có 7 quyển và 28 phẩm: 1. Phẩm Tựa; 2. Phẩm Phương Tiện; 3. Phẩm Thí Dụ; 4. Phẩm Tín Giải; 5. Phẩm Dược Thảo Dụ; 6.Phẩm Thụ Ký; 7. Phẩm Hóa Thành Dụ; 8. Phẩm Ngũ Bách Đệ Tử Thụ Ký; 9. Phẩm Học Vô Học Thụ Ký; 10. Phẩm Pháp Sư; 11. Phẩm Hiện Bảo Tháp; 12. Phẩm Đề Bà Đạt Đa; 13. Phẩm Trì; 14. Phẩm An Lạc Hạnh; 15. Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất; 16. Phẩm Như Lai Thọ Lượng; 17. Phẩm Phân Biệt Công Đức; 18. Phẩm Tùy Hỷ Công Đức; 19. Phẩm Công Đức Pháp Sư; 20. Phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát; 21. Phẩm Như Lai Thần Lực; 22. Phẩm Chúc Lũy; 23. Phẩm Dược Vương Bồ tát; 24. Phẩm Diệu Âm Bồ tát; 25. Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát; 26. Phẩm Đà la ni; 27. Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự; 28. Phẩm Phổ Hiền Bồ tát Khuyến Phát.

b. Nội dung kinh Pháp Hoa

Thông thường kinh Pháp Hoa được giới thiệu qua hai hình thức:

– Giới thiệu kinh qua khái niệm về Tích môn và Bản môn của tông Thiên Khai: Kinh Pháp Hoa chia làm 2 phần: 14 phẩm đầu thuộc Tích môn, 14 phẩm sau thuộc Bản môn.

+ Phần Tích môn: Tích môn là phần giáo lý nói về dấu tích của Đức Phật có sinh ra, lớn lên, xuất gia, thành đạo, nhập diệt, dạy giáo lý thoát khổ ở cõi thế gian này. Trong kinh, phần nào thuyết pháp ở núi Linh Thứu thì thuộc về Tích môn, còn gọi là Chân lý tương đối.

+ Phần Bản môn: Bản môn là phần gốc, là nền tảng của Tích môn. Nghĩa là Đức Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp. Phật hiện hữu suốt chiều dài của thời gian và phổ biến cả không gian. Chân lý của Bản môn là tuyệt đối. Nhờ giáo lý Bản môn mà lý giải tất cả chúng sinh đều thành Phật, vì tất cả chúng sinh đều có Phật tướng. Đây là điểm đặc thù của Pháp Hoa.

3. Vị trí – vai trò của kinh Pháp Hoa trong hệ thống kinh điển

a. Vị trí kinh Pháp Hoa

Khi nghiên cứu về bất cứ bộ kinh nào, đầu tiên là xác định xem bộ kinh đó có vị trí như thế nào trong hệ thống giáo lý nói chung, Kinh tạng nói riêng. Phán định về giáo lý, tông Thiên Thai đem giáo lý nói trong một đời của Đức Phật phân chia thành Ngũ thời, Bát giáo.

Ngũ thời

+ Thời Hoa Nghiêm: Sau khi thành đạo, bộ kinh Phật thuyết đầu tiên là “Kinh Hoa Nghiêm” trong 21 ngày. Bộ “Kinh Hoa Nghiêm” này có 3 quyển Thượng, Trung và Hạ. Theo truyền thuyết, trên nhân gian chúng ta chỉ có quyển Hạ; quyển Thượng và Trung đều được lưu giữ dưới long cung. Bồ tát Long Thụ sau khi học hết những văn tự ở nhân gian, Ngài liền đi đến Long cung đọc tụng tạng Kinh; quyển Hạ này do Bồ tát học thuộc dưới Long cung mà viết ra. Bồ tát Long Thụ có biệt tài xem qua liền thuộc, cho nên ngài đến Long cung xem qua một lượt bộ “Kinh Hoa Nghiêm” và truyền quyển Hạ này lên nhân gian.

+ Thời Phương Đẳng: Thứ ba là “Thời Phương Đẳng”. “Phương” là bốn phương, “đẳng” là bình đẳng. Trong Hóa pháp, thời Phương Đẳng thuộc về Thông giáo. Vì sao gọi là Thông giáo? Vì nó “Thông tiền thông hậu, thông đại thông tiểu”, đã thông Tạng giáo của Tiểu thừa ở trước, lại thông Biệt giáo của Đại thừa ở sau; cũng chính là thông “A Hàm” ở trước, lại thông cả “Bát Nhã” ở sau. Thông giáo là cửa đầu tiên đến với đại thừa; “Phương Đẳng” này thuộc về Thông giáo, thông cả Tam thừa cùng học.

+ Thời Bát Nhã: Thời thứ tư là “Bát Nhã”. Bát Nhã thuộc về giáo nào trong Bát giáo? Trong Hóa pháp, Bát Nhã thuộc về Biệt giáo. Biệt giáo là cửa đầu tiên đến với đại thừa. Vì sao gọi là “Biệt giáo”? Vì Bát Nhã “Biệt tiền biệt hậu”, sai biệt với “A Hàm” và “Phương Đẳng” ở trước, lại khác luôn “Pháp Hoa” và “Niết Bàn” ở sau. Bát Nhã lại “Biệt tiểu biệt đại”, sai biệt với “Tạng giáo”và “Thông giáo” ở trước và “Viên giáo” ở sau, nên gọi là “Biệt”. Biệt giáo là điểm kết của Đại thừa, cũng chính là lúc phải “Chuyển giáo phú tài”. “Chuyển giáo” là chuyển đổi quyền giáo của tam thừa; “phú tài” là chuẩn bị nói một Phật thừa viên mãn của Pháp Hoa.

Bát Nhã đầy đủ 3 nghĩa: Văn tự Bát Nhã, Quán chiếu Bát Nhã, Thật tướng Bát Nhã.

Văn tự Bát Nhã: Tất cả mọi Kinh, Luật, Luận đều thuộc về Văn tự Bát Nhã. Đây là văn tự xuất thế gian, chẳng phải văn tự thế gian; văn tự thế gian không diễn đạt được Bát Nhã, chỉ nói được trí tuệ thế gian.

Thật tướng Bát Nhã: Thật tướng là gì? “Cái gọi thật tướng, chính là vô tướng vậy”, xưa nay vốn không có tướng, nhưng lại đầy đủ tất cả tướng, hàm nhiếp tất cả tướng; tất cả tướng đều lưu xuất từ vô tướng, đó chính là “Thật tướng” Bát Nhã. Dùng Văn tự Bát Nhã làm cơ sở cho Quán chiếu Bát Nhã, là tự tướng vốn có bên trong của tất cả mọi người. Đây gọi là “Bát Nhã”.

+ Thời Pháp Hoa và Niết Bàn: Thứ năm là “Thời Pháp Hoa và Niết Bàn”. Pháp Hoa chính là bộ Kinh Pháp Hoa hiện chúng ta đang học. Phật nói bộ Kinh Pháp Hoa trong suốt 8 năm, nói Niết Bàn trong vòng một ngày một đêm, nên nói “Pháp Hoa, Niết Bàn chung tám năm”. Kinh Pháp Hoa nói lên lý rốt ráo, là pháp môn cứu cánh nhất.

Đức Phật trước nói Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã đều vì dọn sẵn đường để nói Kinh Pháp Hoa, nên bộ kinh này được gọi là ‘Khai quyền hiển thật” (mở ra phương tiện để hiển bày lý chân thật). Kinh Pháp Hoa là chân tâm, chân thân, Pháp thân, đồng thời cũng là Ứng thân, Báo thân Phật. Cho nên những người nghiên cứu Phật pháp đều cho rằng kinh Pháp Hoa là một bộ kinh rốt ráo nhất trong các bộ kinh. Trong Phật giáo thường nói: “Khai tuệ đích Lăng Nghiêm, Thành Phật đích Pháp Hoa”.

Tức là bộ kinh để khai mở trí tuệ chính là “Kinh Lăng Nghiêm”; còn muốn thành Phật, nhất định phải học “Kinh Pháp Hoa”. Cho nên kinh Pháp Hoa có vị trí quan trọng nhất trong hệ thống giáo lý Phật giáo.

– Bát Giáo: Tông Thiên Thai lại phân định giáo lý thành Tám giáo. Trong tám giáo chia thành bốn Giáo Hóa Pháp và bốn Giáo Hóa Nghi. Bốn Giáo Hóa pháp và bốn Giáo Hóa nghi cũng giống như phương thuốc và vị thuốc; Bốn giáo Hóa nghi là cách thức, cách làm của Phật khi giáo hóa chúng sinh, giống như bác sĩ cho toa thuốc. Bốn giáo Hóa pháp là pháp môn giáo hóa chúng sinh, giống như vị thuốc được uống.

+ Bốn giáo Hóa pháp: Đó là Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo:

Tạng giáo: Chính là giảng về tam tạng “Kinh, Luật, Luận”, nói pháp “Nhân Duyên, Tứ Đế”, chủ yếu dạy cho hàng Nhị thừa, thứ đến dạy Bồ tát.

Thông giáo: Là điểm khởi đầu của Đại thừa, nói về “Tứ Chân Đế” và “Lục Độ” không sinh diệt, thông cả Tam thừa cùng học, là pháp Tam thừa cùng tu, lấy Bồ tát Thông giáo làm đối tượng chính, nhị thừa làm đối tượng phụ.

Biệt giáo: Là điểm kết của Đại thừa, dùng pháp Đại thừa vô thượng nói pháp môn Bát Nhã “Nhất thiết pháp không” để dạy Bồ tát Biệt giáo.

Viên giáo: Thuần viên độc diệu, nói “Trung đạo thật tướng” sự lý viên dung, chỉ một Phật thừa không xen tạp ba giao trước. Viên giáo lại chia làm 2 loại: “Đồng viên và Biệt viên”. Một thừa pháp chung căn cơ cho cả tam thừa, gọi là “Đồng viên”, như “Kinh Pháp Hoa”, chủ yếu dạy cho Bồ tát lợi căn tối thượng, kế dạy cho bậc Thánh tam thừa. Một thừa pháp hoàn toàn khác với căn cơ tam thừa, chỉ dành riêng cho bậc đại căn viên đốn, gọi là “Biệt viên”, như “Kinh Hoa Nghiêm”, lấy Bồ tát lợi căn tối thượng làm đối tượng.

+ Bốn giáo Hóa Nghi: Đó là Đốn giáo, Bí mật giáo và Bất định giáo:

Đốn giáo: Vì sao gọi là Đốn? Viên giáo chính là giáo viên dung tối thượng, nếu như thêm “Đốn” sẽ lập tức thành Phật, không cần chờ đợi, tức khắc thành Phật. Chữ Đốn là lập tức, hốt nhiên, hốt nhiên khai ngộ.

Tiệm giáo: Tiệm là tu hành từng bước, khai ngộ từ từ. Ba giáo A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã ở trước Kinh Pháp Hoa đều thuộc Tiệm giáo.

Bí Mật giáo: Bí mật giáo Bí Mật Phật thuyết. Giáo Bí Mật là gì? Là những thần chú đã được tuyên thuyết. Tất cả những thần chú này đều gọi là “Bí Mật”. Bí Mật là “Vị bỉ thuyết nhi thử bất tri,vị thử thuyết nhi bỉ bất tri”; dạy pháp cho người kia, người này không biết; dạy pháp cho người này, người kia cũng không biết, không biết lẫn nhau.

Bất định giáo: Là thuyết pháp không có nhất định, như nói “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (pháp còn phải bỏ, huống gì chẳng phải pháp). Pháp luôn luôn hoạt động, nên không nhất định.

Tóm lại, trong hệ thống Kinh Tạng Phật giáo thì kinh Pháp Hoa có vị trí cao nhất, điều này thể hiện trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy Bồ Tát Tú Vương Hoa rằng: “Này Tú Vương Hoa, trong các dòng nước như là sông, ngòi, kênh, rạch thì biển là lớn nhất; trong các kinh thì kinh Pháp Hoa này là lớn nhất”.

b. Vai trò của kinh Pháp Hoa.

Một đặc điểm khác đã đưa kinh Pháp Hoa lên ngôi vị cao nhất trong hệ thống kinh điển Đại Thừa là cái khả năng dung hợp, chấp nhận mọi bộ phái trong đạo Phật.

Đạo Phật có nhiều bộ pháp khác nhau, khi Đại thừa Phật giáo xuất hiện thường chỉ trích Phật giáo Tiểu thừa. Những người theo Đại thừa chê những người theo Tiểu thừa là “Tiêu nha bại chủng”. Tức những người theo Tiểu thừa là những người tiếp nhận hạt giống từ bi, trí tuệ, giải thoát, an lạc từ Phật Pháp, mà không gieo trồng và phát triển để những hạt giống này trở thành những gì tốt đẹp cho nhân loại, thì họ chỉ làm cho hỏng những hạt giống của Phật Pháp.

Kinh Pháp Hoa ra đời đóng vai trò quan trọng trong công cuộc hàn gắn sự đổ vỡ của các trường phái Phật giáo. Mặt khác đặt lại giá trị của mọi đường lối tu tập và nhất là giá trị tâm thức hướng thiện, hướng thượng của mọi chúng sinh. Sự tồn tại của Đức Phật là vĩnh cửu, mọi hiện tượng dưới con mắt người giác ngộ đều là biểu hiện chân lý. Ý tưởng này đã làm nền tảng cho tư tưởng Đại thừa và con đường thực hành Bồ-tát hạnh.

Với một đường lối dung hòa, với tư tưởng phóng khoáng siêu thoát, Kinh Pháp Hoa đã đạt được mục đích của mình là khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến. Có lẽ cũng vì vậy mà kinh được tôn thờ quý kính, hành trì và phổ biến một cách sâu rộng. Vì vậy cho nên vai trò của kinh Pháp Hoa rất lớn ở trong truyền thống Phật giáo Đại thừa.

4. Lịch sử phiên dịch và truyền bá kinh Pháp Hoa

Kinh Pháp Hoa được phiên dịch từ tiếng Phạn ra nhiều thứ tiếng như tiếng Hán, tiếng Tây Tạng, tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Việt…vv.

a. Tại Trung Quốc: Kinh Pháp Hoa được dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán từ rất sớm, những bộ Kinh Pháp Hoa được dịch ra tiếng Hán như:

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh– 7 quyển, do ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajiva) đời Diêu Tần dịch năm Hoằng Thủy thứ 4 (402 TL)

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh – 8 quyển cũng do ngài Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần dịch năm Hoằng Thủy thứ 8 (406 TL)

Pháp Hoa Tam Muội Kinh – 6 quyển, do ngài Chi Cương Lương Tiếp (Kalasivi) đời Ngô dịch năm 255 TL.

Tất Đàm Phần Đà Lị Kinh – 6 quyển, do ngài Pháp Hộ (Dharmaraksaq) đời Tây Tấn dịch khoảng năm 256 TL.

Tất Đàm Phần Đà Lị Kinh – 6 quyển, do ngài Đàm Ma La Sát dịch vào niên hiệu Thái Thủy thứ nhất đời Tấn Vũ Đế.

Chính Pháp Hoa Kinh – 10 quyển, cũng do ngài Pháp Hộ dịch năm 286 TL vào thời Tây Tấn.

Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh – 7 quyển, do ngài Xà Na Hốt Đa và ngài Đạt Ma Cấp Đa cùng nhau dịch ở năm 601 TL đời Tùy.

Ngoài ra một số dịch bản khác vẫn được ghi lại trong Thư Mục Trung Quốc, nhưng không thấy lưu truyền. Trong những bản dịch vừa kể trên, bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập thì được phổ cập nhất.

b. Tại Việt Nam: Sự nghiệp phiên dịch kinh luận của người Việt Nam cũng được phát triển rất sớm và rất mạnh vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai. Lịch sử dịch Kinh Pháp Hoa của người Việt Nam có thể chia làm ba thời kỳ khác nhau: thời kỳ chữ Hán, thời kỳ chữ Nôm và thời kỳ chữ Quốc Ngữ.

+ Thời kỳ chữ Hán: Đạo tràng phiên dịch kinh điển Phật giáo ở Giao Châu đã được thành lập sớm nhất vào thời Hậu Hán, gọi là trung tâm  Luy Lâu. Tại trung tâm Luy Lâu, một bộ Kinh Pháp Hoa gồm 6 quyển được dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán vào năm 256 TL và từ đó đạo tràng Giao Châu càng thêm sáng chói trên văn đàn Trung Quốc. Tiếp theo đó một số tu sĩ Việt Nam được Trung Quốc mời vào cộng đồng phiên dịch tại Trường An (theo tài liệu trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh).

+ Thời kỳ chữ Nôm: Các nhà sư Việt Nam rất tinh thông Hán học và cũng rất giàu lòng yêu nước, yêu văn hóa dân tộc. Với tinh thần độc lập tự chủ sẵn có, các nhà sư này muốn thoát ly ảnh hưởng văn hóa Bắc thuộc, liền sử dụng ký hiệu Quốc Âm để chuyển ngữ kinh Phật thành ra chữ Nôm. Hiện nay nhiều tài liệu Phật Giáo bằng ảnh hưởng Quốc Âm (chữ Nôm) vừa mới tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam được xem là những tác phẩm sớm nhất. Bộ Quốc Dịch Pháp Hoa Kinh bằng chữ Nôm hiện còn giữ tại Đông Dương Văn Khố Tokyo đã nói lên tinh thần sáng tạo và độc lập tự chủ của tiền nhân.

+ Thời kỳ Quốc Ngữ: Người đầu tiên biên soạn thành bộ kinh Pháp Hoa bằng Việt Ngữ chính là cư sĩ Đoàn Trung Côn. Vào năm 1937, cư sĩ Đoàn Trung Côn dựa theo hai bản dịch của chữ Pháp và chữ Hán để biên soạn gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Mười năm sau, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh căn cứ vào bộ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh bằng chữ Hán của ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Việt Ngữ để giúp cho các giới Phật tử tiện việc trì tụng và nghiên cứu. Đến nay thì có rất nhiều bản dịch tiếng Việt kinh Pháp Hoa khác nữa như bản dịch của Hòa Thượng Tuệ Hải, Hòa Thượng Trí Quang..vv

Sự nghiên cứu và lưu truyền Kinh Pháp Hoa rất sâu rộng, ở Ấn Độ, Bồ tát Long Thụ khi trước tác Đại Trí Độ Luận đã dẫn chứng Kinh Pháp Hoa và Ngài có một tác phẩm giải thích Pháp Hoa và Pháp Hoa Thích Luận. Ngài Thế Thân, một Luận sư nổi tiếng có lược dịch và giải thích Pháp Hoa qua bộ Pháp Hoa Luận. Ở Trung Hoa, những bản chú giải, sớ giải về Pháp Hoa của các nhà nghiên cứu Phật học qua các thời đại rất nhiều, nổi bật là Trí Giả Đại sư, căn cứ vào kinh Pháp Hoa để thành lập lên của tông Thiên Thai, đồng thời trước tác các tác phẩm nổi tiếng như Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú..vv.

II. NĂM TẦNG HUYỀN NGHĨA KINH PHÁP HOA

1. Thích Danh

a. Phương pháp lập đề

Trong năm tầng huyền nghĩa, đầu tiên là Thích danh, tức là giải thích tên kinh, đó là huyền nghĩa thứ nhất. Trước khi giải thích bất cứ một bài kinh nào, phải tìm hiểu phương pháp lập đề của bộ kinh đó là gì. Thông thường có bảy phương pháp lập đề như sau:

Đơn Nhân Lập Đề: Lấy riêng tên người để lập đề, như kinh Phật thuyết A Di Đà.

Đơn Pháp Lập Đề: Lấy riêng Pháp để lập đề, như kinh Niết Bàn. Niết Bàn vốn là một pháp; Niết nghĩa là bất sinh, Bàn nghĩa là bất diệt. Niết Bàn là pháp không sinh không diệt.

Đơn Dụ Lập Đề: Lấy riêng Dụ để lập đề, như Kinh Phạm Võng là dùng ví dụ đặt thành tên kinh.

Nhân Pháp Lập Đề: Phối hợp Nhân và Pháp để lập đề. Ví như kinh Văn Thù Vấn Bát Nhã. Bồ tát Văn Thù là người, Bát Nhã là pháp.

Nhân Dụ Lập Đề: Phối hợp Nhân và Dụ để lập đề. Ví dụ như kinh Như Lai Sư Tử Hống Kinh. Như Lai là một trong 10 đức hiệu của Phật, Như Lai là người. Sư tử hống là dụ.

Pháp Dụ Lập Đề: Phối hợp Pháp và Dụ để lập đề. Như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là dụ.

Cụ Túc Nhất Đề: Phối hợp cả Nhân – Pháp và Dụ thành một đề đầy đủ. Như Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Đại Phương Quảng là pháp, Phật là Nhân, Hoa Nghiêm là Dụ.

Tóm lại, kinh này lấy Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Tức là phối hợp Pháp và Dụ để lập đề. Vì Diệu Pháp là pháp khó hiểu, khó nắm bắt, nên dùng hoa sen làm ví dụ cho Diệu Pháp nhằm người nghe dễ hiểu.

b. Giải thích tên: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

– Giải thích từ Kinh: Chữ Kinh là tên chung, tất cả pháp Phật nói đều gọi là kinh. Chữ Kinh trong đạo Phật bao hàm các ý nghĩa cơ bản là Quán – Nhiếp – Thường – Pháp.

Nhiếp: Nghĩa là “nhiếp trì sở hóa cơ” thâu nhiếp hết mọi căn cơ để hóa độ. Tất cả chúng sinh đều được hóa độ, người nào thích dùng vị chua, ngọt, đắng, cay, mặn, trong kinh đều có đủ; ai thích tu theo pháp môn nào, trong kinh cũng không thiếu.

Thường: Là vĩnh viễn không đổi. Những kinh điển từ khi Phật nói cho đến nay, không ai có thể sửa đổi, một chữ cũng không thêm không bớt; không tăng không giảm, nên gọi là “Kinh”.

Pháp: Chính là “phương pháp”. Phương pháp trong kinh nói là phương pháp mà chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều nói. Tất cả chúng sinh trong quá khứ, hiện tại, vị lai đều phải y chiếu theo những phương pháp đó mà tu học, nên gọi là “pháp”.

Chữ Kinh còn có rất nhiều nghĩa khác nữa. Kinh, theo tiếng Phạn là Tu-đa-la (Sutra); Trung Hoa dịch là Khế kinh. Khế tức là khế hợp, trên thì khế hợp với tâm Phật, dưới thì khế hợp với tâm chúng sinh. Cho nên, Phật, chúng sinh, tâm, cả ba đều không khác biệt nhau; đây cũng chính là nghĩa chữ kinh.

– Giải thích Diệu Pháp: Diệu là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn; Pháp là pháp môn để đạt đến sự giác ngộ cuối cùng. Diệu Pháp là pháp môn mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, vượt ra ngoài sự suy lường tính toán, đoạn tuyệt ngôn ngữ. Pháp môn mầu nhiệm này gọi là Phật tri kiến, Linh Giác căn bản (bản giác), hay Chân Tâm mầu nhiệm, Bản tướng chân thường..vv.

– Giải thích từ Liên Hoa: Liên hoa tức là hoa sen. Hoa sen có đặc tính hy hữu, siêu việt hơn các loài hoa khác ở chỗ nó sinh trưởng từ bùn lầy mà không nhiễm hôi tanh, vẫn tỏa hương thơm ngát. Hoa sen dụ cho Diệu Pháp, cho Chân tâm của chúng chúng tôi Chúng sinh tuy sống ở cõi Ta bà uế trược nhưng chân tâm mầu nhiệm thường hằng thanh tịnh. Ca dao tục ngữ Việt Nam cũng nói về hoa sen như sau:

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

Nhị vàng bông trắng là xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa, hoa sen có ba dụ: Vì có sen nên có hoa; Hoa nở thì sen hiện; Hoa rụng thì sen thành.

Hoa sen sở dĩ có ba dụ là vì Diệu Pháp nhiệm màu khó giải thích, phải mượn ví dụ để cho dễ hiểu. Hoa sen là biểu tượng cho Nhân (hoa) và Quả (sen) phát sinh cùng một lúc, cũng như Diệu Pháp là thể hiện Quyền (phương tiện) và Thật (chân thật) đồng một bản thể. Vì thế Đức Phật dùng hoa sen để dụ Quyền và Thật của Diệu Pháp.

+ Vì có sen nên có hoa: gồm hai thí dụ:

Dụ thứ nhất – vì Thật nói Quyền: Thật là pháp chân thật tức là Nhất Thừa và Quyền là pháp phương tiện tức là Tam thừa. Sen ở đây là dụ cho Thật và Hoa ở đây là dụ cho Quyền. Đức Phật vì pháp chân thật của Nhất Thừa mà thiết lập pháp Quyền (phương tiện) của Tam thừa. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói rằng: “Mặc dù chỉ bày nhiều thứ đạo, nhưng kỳ thật không ngoài Phật Thừa”.

Dụ thứ hai – Từ nơi Bản Môn hiển bày Tích Môn: Bản Môn nghĩa là chỉ cho pháp Thân căn bản của đức Phật Thích Ca đã có từ vô thủy, đã thành Phật từ lâu xa, cũng gọi là Cổ Phật. Tích Môn nghĩa là chỉ cho Hóa Thân của đức Phật Thích Ca, có dấu tích lịch sử đản sinh, xuất chúng tôi cũng gọi là Tân Phật. Sen ở đây là dụ cho Bản Môn (Cổ Phật) và Hoa ở đây là dụ cho Tích Môn (Tân Phật). Pháp Thân của đức Như Lai thuộc Bản Môn đã thành Phật từ lâu xa, nhưng vì muốn độ chúng sinh nên mới sinh vào nơi nước Ca Tỷ La Vệ làm Hóa Thân thuộc Tích Môn. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Đúng ra ta thật sự đã thành Phật từ lâu xa, chỉ vì giáo hóa chúng sinh mà nói rằng, ta mới xuất gia và chứng đặng Tam Bồ Đề”.

+ Hoa nở thì sen hiện. Cũng có hai ví dụ:

Dụ thứ nhất – là khai Quyền hiển Thật. Khai Quyền nghĩa là mở bày pháp phương tiện và Hiển Thật nghĩa là thể hiện pháp chân thật. Hoa nở ở đây là dụ cho Khai Huyền và Sen Hiệu ở đây là dụ cho Hiền Thật. Thí dụ này là biểu tượng Đức Như Lai quyền khai ba thừa để hiển bày pháp chân thật của Nhất Thừa. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Khai phương tiện môn để chỉ bày tướng chân thật”.

Dụ thứ hai – khai Tích hiển Bản: Khai Tích nghĩa là mở bày Hóa Thân thuộc Tân Phật và Hiền Bản nghĩa là hiển bày Pháp Thân thuộc Cổ Phật. Hoa Nở ở đây là dụ cho khai mở Tích Môn và Sen Hiện ở đây là dụ cho hiển bày Bản Môn. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Tất cả thế gian đều cho ta nay mới đắc đạo. Ta thật sự đã thành Phật từ vô lượng vô biên na do tha kiếp cho đến nay”.

– Hoa rụng thì sen thành. Cũng có hai thí dụ:

Dụ thứ nhất – bỏ Quyền lập Thật: Bỏ Quyền nghĩa là phế bỏ pháp phương tiện của Tam Thừa và lập Thật nghĩa là thiết lập pháp chân thật của Nhất Thừa. Hoa rụng ở đây là dụ cho bỏ Quyền và sen thành ở đây là dụ cho lập Thật. Thí dụ này là biểu tượng đức Như Lai phế bỏ pháp phương tiện của ba Thừa để kiến lập pháp chân thật của Nhất Thừa. Cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Đúng ra xả  bỏ phương tiện, chỉ nói đạo vô thượng”.

Dụ thứ hai – bỏ Tích lập Bản: Bỏ Tích nghĩa là phế bỏ Tân Phật thuộc Hóa Thân và lập Bản nghĩa là thiết lập Cổ Phật thuộc Pháp Thân. Hoa rụng ở đây là dụ cho bỏ Tích (Tân Phật) và sen thành ở đây là dụ cho lập Bản (Cổ Phật). Cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Các đức Như Lai, pháp đều như thế; vì độ chúng sinh, thật sự không hư”.

Như vậy, Hoa sen biểu tượng cho nguyên lý nhân quả đồng thời.

Hoa sen có hai phần: Cánh và Nhụy của hoa thì thuộc về Nhân (hoa); Gương và Hạt thì thuộc về Quả (sen). Một đóa sen gồm có cánh nhụy và gương hạt đều thể hiện cùng một lúc gọi là nhân quả đồng thời, nghĩa là Quả không ngoài Nhân và Nhân không ngoài Quả. Quả tức là Nhân và Nhân tức là Quả. Từ ý nghĩa này người tu Diệu Pháp là tạo nhân thì Thể Tướng Chân Tâm nhất định hiện bày là quả.

Tóm lại, Liên hoa biểu thị cho diệu pháp, liên hoa chính là diệu pháp, diệu pháp cũng chính là liên hoa. Liên hoa là dụ cho bộ kinh này. Diệu Pháp Liên Hoa là biệt danh của bộ kinh này. Biệt nghĩa là “đặc biệt” bởi vì nó khác biệt, nó không cùng tên với các kinh điển khác của Phật.

2. Hiển Thể.

Sau khi giải thích về tên kinh, chúng ta phải làm rõ thể của bộ kinh. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa lấy Thật Tướng làm thể. Trong kinh nói: “Thật Tướng vô tướng, vô sở bất tướng”. Tất cả các tướng đều do “Thật Tướng” sinh ra. Không chỉ tất cả tướng, mà tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát, tất cả Thanh văn, Duyên giác cũng đều từ “Thật Tướng” sinh ra, cho đến tất cả vạn sự vạn vật đều từ “thật tướng” sinh ra. Thể của bộ Kinh này, chính là “chư Pháp thật tướng”; cho nên tất cả chư Phật, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác, cho đến tất cả chúng sinh đều từ kinh Pháp Hoa sinh ra.

3. Minh Tông

Tên kinh đã biết, thể cũng đã nhận rõ, vậy rốt cuộc bộ kinh này lấy cái gì làm tông chỉ? Bộ kinh này lấy “Nhất Thừa nhân quả” làm tông chỉ. Ban đầu Phật nói có ba thừa, cuối cùng Đức Phật nói kinh Pháp Hoa, quy tất cả các thừa về một thừa duy nhất, đó chính là Phật thừa. Trong kinh nói: “Duy nhất Phật Thừa, cánh vô dư thừa”. Kinh Pháp Hoa dùng hoa sen để biểu đạt cho diệu pháp là để nói lên ý nghĩa nhân quả có cùng một lúc. Bởi đối với hoa sen thì khi hoa sen nở là có hạt sen, hoa quả đồng thời. Bộ kinh này lấy “Nhất Thừa nhân quả” làm tông; nhân là “nhân Phật”, quả là “quả Phật”, nên gọi là “nhất thừa nhân quả”.

4. Luận Dụng

Dụng tức là lực dụng, tác dụng của kinh điển. Kinh Pháp Hoa lấy việc đoạn nghi sinh tín làm dụng. Khi cơ duyên của chúng sinh tròn đầy, Đức Phật dùng Đại Thừa Diệu Pháp để khai thị, trên phương Tích Môn thì khiến họ dứt hẳn cái nghi về quyền để sinh cái tin về thật; trên phương diện Bản Môn thì khiến họ dứt hẳn cái nghi ngờ gần để sinh cái tin nơi xa. Tức dứt bỏ mọi nghi ngờ để tin vào Nhất Phật thừa nên gọi Đoạn Nghi Sinh Tín làm dụng.

5. Giáo Tướng

Kinh Pháp Hoa lấy Vô Thượng Đề Hồ làm giáo tướng. Thánh nhân tỏ lòng dạy bảo gọi là giáo, phân biệt đồng dị gọi là Tướng. Sự mầu nhiệm của kinh Pháp Hoa thì rất thuần nhất và tròn sáng, dung hợp tất cả Tam thừa về một Phật thừa duy nhất. Nhưng sự khác biệt của nó là biến ra từng mảng các giáo lý của kinh, cũng như dụ cho chất Đề Hồ. Cũng như Đề hồ vậy, sữa lấy từ bò, rồi từ sữa làm ra lạc, từ lạc làm ra sinh tô, từ sinh tô làm ra thục tô, thục tô tinh luyện làm đề hồ. Đề hồ mới là tinh túy nhất làm ra từ sữa, là hơn tất cả. Cho nên gọi Vô Thượng Đề Hồ làm giáo tướng.

Sự Ra Đời Và Sứ Mệnh Lịch Sử Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Đối Với Giai Cấp, Dân Tộc Và Xã Hội / 2023

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng luôn thể hiện rõ là một đảng cách mạng chân chính, hội tụ sức mạnh của dân tộc, của giai cấp, là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam suốt 90 năm qua đã minh chứng cho tầm vóc bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trên con đường lãnh đạo xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Trải qua 90 năm lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam luôn ý thức được vị trí, vai trò, trọng trách của mình trước vận mệnh dân tộc, tương lai của đất nước, tạo ra những dấu mốc quan trọng của cách mạng Việt Nam “Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được những thắng lợi vĩ đại: thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; thắng lợi của sự nghiệp đổi mới và từng bước đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội”(1).

ĐCS Việt Nam – chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ra đời mang bản chất giai cấp công nhân, là lãnh tụ chính trị, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam. Do đó, lợi ích của Đảng trước hết đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động, lợi ích của toàn dân tộc. Có thể nói, sứ mệnh lịch sử của ĐCS Việt Nam là do thời đại, giai cấp và dân tộc quyết định.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng không chỉ là lãnh tụ chính trị, đội tiên phong và đại biểu cho lợi ích của giai cấp, của dân tộc mà còn là lãnh tụ chính trị, đội tiên phong và đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Người khẳng định: “Muốn cứu nước giải phóng dân tộc không có con đường nào khác – con đường cách mạng vô sản”(2). Để thực hiện được mục tiêu đó, Người chỉ rõ: “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp ở mọi nơi. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”(3). ĐCS Việt Nam đóng vai trò lãnh đạo nhân dân cùng một lúc phải làm tư sản cách mạng, làm dân tộc cách mạng và làm giai cấp cách mạng. Đây là đặc điểm nổi bật nhất của cách mạng vô sản ở Việt Nam do ĐCS lãnh đạo và cũng là một đặc điểm của sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với giai cấp, dân tộc và xã hội Việt Nam.

Vai trò lãnh đạo của Đảng ta được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt và Lời kêu gọi của Đảng khi Đảng mới thành lập, đó là: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”;… “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”;… Làm cho nước Việt Nam được độc lập;… giải phóng công nhân và nông dân thoát khỏi ách tư bản; mở mang công nghiệp và nông nghiệp;… đem lại mọi quyền lợi tự do cho nhân dân”.

90 năm qua, Đảng ta đã từng bước thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình. 15 năm sau khi thành lập, Đảng đã lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đánh đuổi đế quốc, thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, lập ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam, cả dân tộc ta đã nghe theo lời kêu gọi của Đảng, của lãnh tụ Hồ Chí Minh tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc và đã giành được thắng lợi to lớn, đánh thắng đế quốc xâm lược; lập lại hoà bình ở miền Bắc Việt Nam. Trong hoàn cảnh đất nước tạm thời bị chia làm hai miền, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đồng thời hai cuộc cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Khi đế quốc Mỹ đưa quân vào xâm lược miền Nam (năm 1965), tiến hành chiến tranh cục bộ đánh phá các căn cứ cách mạng ở miền Nam và mở rộng chiến tranh xâm lược ra miền Bắc (năm 1964), Đảng đã lãnh đạo nhân dân cả nước đánh cho Mỹ cút (năm 1973), đánh cho ngụy nhào, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (ngày 30/4/1975), đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Với thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946-1954) và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) do ĐCS Việt Nam lãnh đạo, dân tộc Việt Nam trở thành một trong những dân tộc đầu tiên làm cách mạng giải phóng dân tộc thành công ở một nước thuộc địa và lệ thuộc; một trong những dân tộc đầu tiên đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới, mở đầu phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ – La tinh.

Cách mạng Việt Nam hiện nay đã chuyển sang giai đoạn mới. Những mục tiêu cơ bản của cách mạng do Đảng xác định từ những năm 30 của thế kỷ XX đến nay đang được thực hiện. Đất nước đã được độc lập, nhân dân được tự do. Tuy nhiên, đời sống của nhân dân lao động vẫn còn nhiều khó khăn, kinh tế đất nước vẫn chưa phát triển mạnh. Đảng ta chỉ rõ: “Nguy cơ “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên,… sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí”(4),… chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Các thế lực thù địch, cơ hội thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam đã thực hiện nhiều hoạt động thâm độc nhằm gây chia rẽ, mất đoàn kết từ bên trong nội bộ Đảng và Nhà nước ta. Đặc biệt trong thời điểm hiện nay, khi Đảng ta đang tiến hành thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì các thế lực thù địch càng ráo riết dùng mọi thủ đoạn để chống phá Đảng, đòi “đổi mới thể chế chính trị” ở Việt Nam. Trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bài viết xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo sự thật, kích động, lôi kéo những người bất mãn với chế độ, bôi nhọ, nói xấu Đảng và Nhà nước… gây ra sự bất ổn về chính trị ở một số nơi, gây hoài nghi về vai trò, khả năng lãnh đạo của Đảng, nhằm từng bước làm mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng với mưu đồ tiến đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS đối với giai cấp, dân tộc và xã hội.

Có hay không vai trò lãnh đạo của ĐCS đối với giai cấp và xã hội, câu hỏi này chỉ có người dân Việt Nam mới có câu trả lời chính xác. Chính nhân dân – chứ không phải ai khác mới là cán cân chân lý, là người đánh giá chính xác nhất vai trò, uy tín của Đảng, là người có tiếng nói quyết định trong việc lựa chọn sự lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Những kẻ bán nước cầu vinh, vụ lợi chính trị tuyên truyền bịa đặt, giả danh, giả nghĩa… thì không đủ tư cách, nhân phẩm để có tiếng nói trong vấn đề này. Dù họ có nỗ lực đến đâu và cố tình bịa đặt “bóp méo sự thật” đến mức độ nào thì kết quả nhận được cũng sẽ là sự tuyệt vọng. Đảng ta không có quyền lợi nào khác ngoài quyền lợi được phục vụ nhân dân, được phục vụ đất nước và trên thực tế Đảng ta đã là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cho dù thời cuộc có thay đổi phức tạp, khó khăn, nhưng người dân Việt Nam vẫn một lòng theo Đảng; vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp, dân tộc và xã hội ngày càng được khẳng định.

Sự lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Nghị quyết Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng yêu cầu: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”(5). Đảng ta chỉ rõ: “Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; bản lĩnh chính trị của Đảng, của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên”(6). Vấn đề đặt ra hiện nay là, mọi tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương, cán bộ, đảng viên phải nắm vững toàn bộ nội dung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và phương thức lãnh đạo; đổi mới phương thức lãnh đạo, phong cách và lề lối làm việc thật sự dân chủ, thiết thực, nói đi đôi với làm; quán triệt và thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị (khóa XII) về: “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Đó là những vấn đề cơ bản, cấp thiết nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Kiên định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp, dân tộc và xã hội là vấn đề chiến lược có tính nguyên tắc đã và đang đặt ra những yêu cầu mới và toàn diện, song bên cạnh đó cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Với bản lĩnh đã được tôi luyện trong thực tiễn cách mạng, nhất định Đảng ta sẽ vượt qua và làm tốt sứ mệnh lịch sử mà dân tộc và nhân dân giao phó. Mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng của các thế lực thù địch nhằm làm mất uy tín, danh dự, phủ nhận vai trò lãnh đạo của ĐCS Việt Nam đối với giai cấp và xã hội chắc chắn sẽ vị vạch trần và thất bại. Bởi vậy, Đảng cần kế thừa và phát huy những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong quá trình lãnh đạo, Đảng cần tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vai trò lãnh đạo của Đảng, không ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội nói chung và các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam nói riêng trong thời kỳ mới./.

Ghi chú:

(1) ĐCS Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.12.

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, H.1995, tr.314.

(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb CTQG, H.1995, tr.267 – 268.

(4), (5), (6) ĐCS Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.18-19, tr.217, tr.199.

Trung tướng, TS Lê Huy Vịnh – Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam

Theo: http://tcnn.vn

Bạn đang xem bài viết Những Rào Cản Đối Với Quyền Giáo Dục Của Thanh Thiếu Niên Lgbt Ở Việt Nam / 2023 trên website Uplusgold.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!