Xem Nhiều 2/2023 #️ Tên Gọi Và Ý Nghĩa Kỷ Niệm Ngày Cưới Qua Các Năm # Top 7 Trend | Uplusgold.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tên Gọi Và Ý Nghĩa Kỷ Niệm Ngày Cưới Qua Các Năm # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tên Gọi Và Ý Nghĩa Kỷ Niệm Ngày Cưới Qua Các Năm mới nhất trên website Uplusgold.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1 năm – ĐÁM CƯỚI GIẤY

2 năm – ĐÁM CƯỚI BÔNG

Hai năm sau ngày khoác lên mình bộ trang phục cưới, các “đôi” hay tặng nhau những món quà làm bằng bông, rơm hoặc sứ.

3 năm – ĐÁM CƯỚI DA

Trong lễ kỷ niệm ngày cưới sau 3 năm hôn nhân, ngoài quà tặng bằng da, các cặp vợ chồng còn tặng nhau những món quà bằng pha lê hoặc kính trong suốt. 4 năm – ĐÁM CƯỚI SÁCH

Món quà truyền thống trong ngày này là sách, hoa và trái cây. Ngày nay, thay vì trái cây và sách, người ta có thể tặng cho bạn đời của mình các thiết bị điện trong gia đình.

5 năm – ĐÁM CƯỚI GỖ

Ngoài các vật dụng bằng gỗ, các cặp vợ chồng còn hay tìm những món đồ trang sức bằng bạc để tặng cho nhau trong lễ kỷ niệm ngày cưới sau 5 năm chung sống.

6 năm – ĐÁM CƯỚI SẮT

7 năm – ĐÁM CƯỚI LEN

Món quà lý tưởng nhất cho người vợ (chồng) của bạn là một bộ bàn ghế hoặc ấm áp nhẹ nhàng hơn là một chiếc áo, khăn choàng bằng len.

8 năm – ĐÁM CƯỚI ĐỒNG

Trước đây, trong ngày kỷ niệm đám cưới đồng, quà tặng thường có liên quan tới đồng, thiếc hoặc gốm. Ngày nay người ta thường tặng nhau trang phục bằng ren hoặc linen.

9 năm – ĐÁM CƯỚI GỐM

Quà tặng trong ngày này có thể được làm từ chất liệu gốm hoặc da.

10 năm – ĐÁM CƯỚI THIẾC

Bắt đầu từ lễ kỷ niệm này, người ta thường tặng nhau đồ trang sức bằng vàng, bạc hoặc các loại đá quý

11 năm – ĐÁM CƯỚI THÉP

Món quà truyền thống được làm từ thép. Các món quà từ thép trong xã hội hiện đại được thay thế bằng những món đồ trang sức hợp thời trang. 12 năm – ĐÁM CƯỚI TƠ LỤA

Ngoài vật dụng bằng linen, tơ lụa, các đôi uyên ương còn trao cho nhau những món quà làm từ ngọc trai

13 năm – ĐÁM CƯỚI ĐĂNG TEN

Trong ngày kỷ niệm 13 năm chung sống hạnh phúc, hãy tặng cho người vợ yêu dấu của bạn những chiếc khăn trải bàn bằng ren, chiếc khăn choàng lông thú hay mua cho ông xã một chiếc thắt lưng hoặc đôi găng tay bằng da.

14 năm – ĐÁM CƯỚI NGÀ

Người bạn đời của bạn chắc hẳn sẽ rất hạnh phúc với những món đồ được làm từ ngà hoặc đồ trang sức vàng, đá quý.

15 năm – ĐÁM CƯỚI THỦY TINH

Thay vì những đồ thủy tinh, pha lê, bạn cũng có thể tặng cho cô ấy (anh ấy) một chiếc đồng hồ để nhắc nhở “Chúng ta đã chung sống với nhau một thập kỷ rưỡi rồi đấy em”.

20 năm – ĐÁM CƯỚI SỨ

Nếu như đã sắm cho cô ấy nhiều đồ bằng sứ trong những lần kỷ niệm trước, bạn có thể lựa những món trang sức xinh xắn bằng bạch kim làm quà kỷ niệm trong ngày này.

25 năm – ĐÁM CƯỚI BẠC

Với rất nhiều người, đây là lễ kỷ niệm lớn đầu tiên sau nhiều năm chung sống. Bạc nguyên chất luôn là lựa chọn số một để làm quà tặng cho người chồng (vợ) yêu quý.

30 năm – ĐÁM CƯỚI NGỌC TRAI

Một chuỗi vòng ngọc trai hay một chiếc nhẫn có gắn hạt trai đen được coi là món quà lý tưởng nhất sau 30 năm chung sống.

35 năm – ĐÁM CƯỚI CẨM THẠCH

Bộ sưu tập quà tặng sẽ được làm giàu thêm bằng vật dụng làm từ san hô hay ngọc bích lấp lánh.

40 năm – ĐÁM CƯỚI HỒNG NGỌC

Bốn thập kỷ quả là một khoảng thời gian dài trong cuộc đời mỗi người. Quà tặng gắn những viên ngọc với ánh sáng màu hồng huyền ảo trong ngày kỷ niệm 40 năm chung sống sẽ làm cho người bạn đời của bạn rạng rỡ hạnh phúc.

45 năm – ĐÁM CƯỚI LAM NGỌC

Trước khi kỷ niệm nửa thế kỷ cùng chia sẻ vui buồn với nhau, các cặp vợ chồng tìm tặng nhau những món quà có gắn những viên lam ngọc như một lời ước hẹn sẽ cùng nhau chung sống trọn đời.

50 năm – ĐÁM CƯỚI VÀNG

Không dễ để có lễ kỷ niệm ngày cưới đáng quý và quan trọng này. Sau khi cùng nắm tay “thử lửa” suốt 50 năm, hai vợ chồng thường tổ chức tiệc mời họ hàng, bạn bè tới tham dự. Ở một số nơi, người ta còn thông báo ngày vui hiếm có này cho những người dân sống trên địa phương biết để cùng chia sẻ niềm hạnh phúc với họ.

55 năm – ĐÁM CƯỚI NGỌC BÍCH

Còn gì tuyệt bằng hình ảnh ông cụ lồng vào tay “bà lão của tôi ơi” chiếc nhẫn ngọc bích thay cho lời cảm ơn bà đã chăm sóc yêu thương ông hơn nửa đời người.

60 năm – ĐÁM CƯỚI KIM CƯƠNG

Có hai dịp tổ chức đám cưới kim cương: 60 năm và 75 năm. Ban đầu, những đôi vợ chồng gắn bó cùng nhau 75 năm mới có thể kỷ niệm ngày cưới kim cương. Số năm có thể kỷ niệm ngày lễ này giảm đi chỉ còn 60 từ khi nữ hoàng Victoria tổ chức kỷ niệm 60 năm trị vì Vương quốc Anh.

Không phải ngẫu nhiên mà kim cương được chọn làm biểu tượng của ngày rất trọng đại đối với lứa đôi. Loại đá cứng, hiếm có và quý giá nhất này được chọn làm biểu tượng cho tình yêu bền vững khiến nhiều người phải ngưỡng mộ, vừa sáng trong lại đẹp lấp lánh muôn màu.

Nguồn: Internet

Tên Gọi, Ý Nghĩa Lễ Kỷ Niệm Kết Hôn?

Hỏi: Ngoài đám cưới Vàng, đám cưới Bạc còn có tên các đám cưới nào khác không và vào những dịp nào? Nguyễn Thị Tuyết, Tư Nghĩa, Quảng Ngãi

Đáp:

Những người đã kết hôn thường ghi dấu lễ kỷ niệm ngày kết hôn của họ bằng những cách đặc biệt. Những người khác có thể gửi cho đôi vợ chồng những món quà thích hợp cho số năm kết hôn của họ. Những món quà này khác nhau ở mỗi nước.

Người châu Âu bắt đầu làm lễ kỷ niệm ngày cưới từ thế kỷ XII.

Còn lễ kỷ niệm ngày cưới từ 1 năm trở lên được gọi tên như sau: 1 năm- Giấy, 2 năm- Bông, 3 năm- Da, 4 năm- Hoa quả, 5 năm- Gỗ, 6 năm-Sắt, 7 năm- Len, 8 năm- Đồng, 9 năm- Gốm, 10 năm- Chì, 11 năm- Thép, 12 năm-Lụa, 13 năm- Đăng ten, 14 năm- Ngà, 15 năm- Pha lê, 20 năm- Sứ, 30 năm- Hạt trai, 35 năm- San hô.

Nói chung thường chỉ có kỷ niệm ngày cưới vào các năm thứ 5, thứ 10, thứ 15, thứ 20, thứ 30, thứ 35, thứ 40 (Bạc) và thứ 50 (Vàng) và thứ 60 (Kim cương). Rất hiếm có ai vượt qua được đám cưới Kim cương.

Ở các nước Thịnh vượng chung, một đôi vợ chồng có thể nhận được một lời chúc mừng từ vị Quốc vương của Anh vào những ngày kỷ niệm lễ cưới thứ 60, 65, 70 và bất kỳ năm nào sau đó.

Ở Canada, một cặp vợ chồng có thể nhận được lời chúc từ Toàn quyền vào lễ kỷ niệm lần thứ 50 và 65. Ở Úc cũng tương tự như vậy, khi một đôi có thể nhận được thư chúc mừng từ phía Toàn quyền vào lễ kỷ niệm lần thứ 50 và tất cả các lễ kỷ niệm tiếp theo; và Thủ tướng, các thành viên địa phương của Quốc hội cũng như Thống đốc bang có thể gửi lời chào tới ngày kỷ niệm cưới và những ngày tương tự.

Ở Mỹ, một cặp vợ chồng có thể nhận được lời chúc từ Tổng thống vào bất kỳ lễ kỷ niệm cưới nào đúng hoặc sau 50 năm. Những tín đồ Công giáo Rôma có thể thông qua những giám mục địa phương của họ, gửi yêu cầu lên Giáo hoàng nhờ ban phúc cho ngày kỷ niệm cưới của họ vào những năm đặc biệt (như năm thứ 25, 50, 60..).

GS NGUYỄN LÂN DŨNG

Nguồn tin: Theo nongnghiep.vn

Ngày Cưới Với Ý Tưởng Khắc Tên Lên Nhẫn Đẹp Và Ý Nghĩa

Nhẫn là vật biểu tượng và tượng trưng cho tình yêu, nhẫn cũng là quà tặng ngày cưới ý nghĩa, lãng mạng dành cho người ấy. Món quà sẽ độc và và đậm dấu ấn cá nhân khi bạn khắc tên lên nhẫn. Làm sao để khắc tên lên nhẫn đẹp và ý nghĩa. Làm sao để nhẫn trở thành một “đại sứ ” tình yêu giúp bạn thể hiện sự chân thành và tình cảm của mình dành cho đối phương.

Bạn chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc khắc tên lên nhẫn để trở nên độc đáo. Bạn cũng không biết nơi nào thực hiện và các bước thực hiện. Hãy đọc bài Kinh Nghiệm Tạo Dấu Ấn Riêng Khi Khắc Chữ Lên Nhẫn để lấy kinh nghiệm khắc tên lên nhẫn

@Tại sao nên khắc tên lên nhẫn cưới

Trong ngày trọng đại của tình yêu hai bạn, bạn muốn lưu trữ kỷ niệm và khoảnh khắc đặc biệt với với một món quà cưới khắc tên đặc biệt.

Đây là thời điểm chỉ có một lần trong đời, bạn muốn sự khác biệt, sự độc đáo và ấn tượng. Hãy thực hiện các ý tưởng sau đây:

@Khắc ngày kỷ niệm của hai bạn

Một điều bạn lưu ý khi chọn ngày để khắc tên lên nhẫn cưới. Nếu bạn chọn ngày tổ chức cưới để khắc, phải thật cẩn thận vì ngày cưới là ngày ở tương lai, có thể thay đổi vì nhiều lý do.

Lúc đó, bạn sẽ mất thời gian và chi phí để thực hiện lại ngày cho phù hợp vì chắc chắn bạn sẽ không thoải mái khi tặng nhẫn cưới mà không đúng ngày. Hãy khắc tên lên nhẫn cưới của bạn ngày kỷ niệm hai bạn gặp nhau, ngày mà hai bạn có nhiều kỷ niệm nhất, ngày đứa trẻ của hai bạn chào đời..

@Khắc chữ viết tắt/nickname/cách gọi thân mật tên hai bạn

Hai bạn có thể chọn một nickname hai bạn biết để khắc tên lên nhẫn sao cho ý nghĩa và thú vị nhất. Hoặc bạn có thể sử dụng hai chữ cái đầu của bạn và ghép lồng vào nhau nghệ thuật. Nếu hai bạn có tên thân mật thường gọi nhau thì tại sao không sử dụng nó để khắc tên lên nhẫn cưới!

@Lời hẹn ước/lời thề tình yêu

Một số cặp đôi khắc tên lên nhẫn cưới với lời hẹn ước hoặc lời thề tình yêu, như “cái chết mới chia lìa chúng ta”, “Bên nhau mãi mãi” …, các câu này bạn nên thống nhất trước với người yêu thì sẽ hay hơn vì lúc đó hai bạn cùng cam kết và nghiêm túc trong mối quan hệ này mà không phải chỉ có bạn mong điều đó.

@Khắc vân tay lên nhẫn cưới

Còn gì duy nhất và ý nghĩa như vân tay hai bạn. Nó xuất hiện mọi nơi quan trọng nhất, CMND, Passport… xu hướng khắc vân tay lên nhẫn cưới đang được các bạn trẻ yêu thích vì sự ý nghĩa và hơn ngàn lời nói.

Các dấu vân tay sẽ trở thành yếu tố thiết kế độc đáo cho việc khắc tên lên nhẫn cưới của riêng bạn, bạn có thể khắc một trong hai mặt của một chiếc nhẫn. Nhiều cặp đôi thấy việc khắc vân tay như là một cách lãng mạn để giữ cho tình yêu của họ được thăng hoa.

@Khắc biểu tượng/Icon ý nghĩa

Bạn có thể khắc một trái tim, hình cô dâu chú rể theo cách truyền thống hay một biểu tượng vĩnh cửu cổ điển nào đó bạn đã biết. Tất cả đều có ý nghĩa. Việc khắc tên lên nhẫn cưới bằng icon sẽ giúp bạn ghi nhớ lâu hơn kỷ niệm. Một vài gợi ý cho bạn trong việc chọn biểu tượng/icon để khắc tên lên nhẫn cưới thật độc đáo:

Bạn có thể khắc tên lên nhẫn các biểu tượng hoa văn, hình bông hoa người đó thích, các hoa văn di sản lịch sử cô ấy thích, con vật xung quanh sở thích của họ…

Và còn rất rất nhiều ý tưởng xuất sắc để khắc tên lên nhẫn như khắc chữ tiếng anh khắc lên nhẫn, khắc chữ lên nhẫn bằng tiếng pháp, khắc chữ ký, tên bộ phim hai bạn yêu thích, tên địa điểm hai bạn có kỷ niệm….

Để có thể khắc tên lên nhẫn đẹp và ý nghĩa, bạn có thể khắc bất cứ điều gì có ý nghĩa với hai bạn. Điều này càng làm tăng thêm sự độc đáo của món quà. Mình đảm bảo chắc chắn người ấy của bạn sẽ rất vui và luôn trân trọng món quà cưới với nhẫn khắc tên này.

Ý Nghĩa Những Tên Gọi Của Hà Nội Qua Các Thời Kỳ Lịch Sử

Thăng Long – Hà Nội là kinh đô lâu đời nhất trong lịch sử Việt Nam. Từ khi hình thành cho đến nay, Thăng Long – Hà Nội có nhiều tên gọi khác nhau được ghi chép trong sử sách Nhà nước Việt Nam và chia thành hai loại: chính thức và không chính thức, theo thứ tự thời gian.

Những tên gọi chính thức của Thăng Long – Hà Nội qua chiều dài lịch sử

Tên chính thức là những tên được chép trong sử sách do các triều đại phong kiến, Nhà nước Việt Nam chính thức đặt ra:

Tống Bình: Thành Tống Bình là trị sở của những kẻ đô hộ phương Bắc thời Tùy (581-618), Đường (618-907). Trước đây, trị sở của chúng là ở vùng Long Biên (Bắc Ninh ngày nay). Tới đời Tùy, chúng mới chuyển đến Tống Bình.

Long Đỗ: Truyền thuyết kể rằng lúc Cao Biền nhà Đường, vào năm 866 mới đắp thành Đại La, thấy thần nhân hiện lên tự xưng là thần Long Đỗ. Do đó, trong sử sách thường gọi Thăng Long là đất Long Đỗ.

Vào năm Quang Thái thứ 10 (năm 1397) đời vua Trần Thuận Tông, Hồ Quý Ly có ý định cướp ngôi nhà Trần nên muốn dời kinh đô về đất An Tôn, phủ Thanh Hóa.

Khu mật chủ sự Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu, nhà Ngụy dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Long Đỗ có núi Tản Viên, có sông Lô Nhị (tức sông Hồng ngày nay), núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi.” Điều đó cho thấy Long Đỗ đã từng là tên gọi đất Hà Nội thời cổ.

Đại La: Đại La hay Đại La thành nguyên là tên vòng thành ngoài cùng bao lấy Kinh Đô Thăng Long xưa. Theo kiến trúc xưa, Kinh Đô thường có “Tam trùng thành quách.” Trong cùng là Tử Cấm thành (tức bức thành màu đỏ tía) nơi vua và hoàng tộc ở, giữa là Kinh thành và ngoài cùng là Đại La thành.

Năm 866, Cao Biền bồi đắp thêm Đại La thành rộng hơn và vững chãi hơn trước. Từ đó, thành này được gọi là thành Đại La. Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ (năm 1010) viết: “… Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương (tức Cao Biền) ở giữa khu vực trời đất…” (Sách ” Toàn thư “, Tập 1, Hà Nội 1993, tr 241).

Thăng Long (Rồng bay lên). Đây là cái tên có tính văn chương nhất, gợi cảm nhất trong số các tên của Hà Nội. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết lý do hình thành tên gọi này như sau: “Mùa Thu, năm Canh Tuất (1010) vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra Kinh phủ thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long” (Sách ” Toàn thư “, Tập 1, Hà Nội 1993, tr 241).

Đông Đô: Sách ” Đại Việt sử ký toàn thư” viết: “Mùa Hạ tháng 4 năm Đinh Sửu (1397) lấy Phó tướng Hồ Hán Thương coi phủ đô hộ là Đông Đô” (Sách ” Toàn thư “, Tập I, Hà Nội 1993, tr 192). Hồ Quý Ly lên ngôi đóng đô ở Tây Đô (Thanh Hóa), Thăng Long là Đông Đô.

Trong bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục chú thích: “Đông Đô tức Thăng Long, lúc ấy gọi Thanh Hóa là Tây Đô, Thăng Long là Đông Đô” (Sách “Cương mục”, Tập 2, Hà Nội 1998, tr 700).

Đông Quan: Đây là tên gọi Thăng Long do quan quân nhà Minh đặt ra với hàm nghĩa kỳ thị Kinh đô của Việt Nam, chỉ được ví là “cửa quan phía Đông” của Nhà nước phong kiến Trung Hoa. Sử cũ cho biết năm 1408, quân Minh đánh bại cha con Hồ Quý Ly đóng đô ở thành Đông Đô, đổi tên thành Đông Quan.

Sách ” Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Tháng 12 năm Mậu Tý (1408), Giản Định đế bảo các quân “Hãy thừa thế chẻ tre, đánh cuốn chiếu thẳng một mạch như sét đánh không kịp bưng tai, tiến đánh thành Đông Quan thì chắc phá được chúng” (Sách ” Toàn thư “, Tập 2, Hà Nội 1993, tr 224).

Đông Kinh: Sách ” Đại Việt sử ký toàn thư ” viết về sự ra đời của tên “Đông Kinh” như sau: “Mùa Hạ, tháng 4 năm Đinh Mùi (1427), Vua (tức Lê Lợi) từ điện tranh ở Bồ Đề, vào đóng ở thành Đông Kinh, đại xá đổi niên hiệu là Thuận Thiên, dựng quốc hiệu là Đại Việt đóng đô ở Đông Kinh. Ngày 15, vua lên ngôi ở Đông Kinh, tức là thành Thăng Long. Vì Thanh Hoá có Tây Đô, cho nên gọi thành Thăng Long là Đông Kinh” (Sách “Toàn thư”, Tập 2, Hà Nội 1993, tr 293).

Bắc Thành: “Đời Tây Sơn (Nguyễn Huệ-Quang Trung 1787-1802) vì kinh đô đóng ở Phú Xuân (Huế) nên gọi Thăng Long là Bắc thành. Đầu đời Gia Long đặt “Tổng trấn Bắc Thành,” đem phủ Phụng Thiên lệ vào” (Nguyễn Vinh Phúc-Trần Huy Bá, Đường phố Hà Nội, Hà Nội 1979, tr12).

Thăng Long (Thịnh vượng lên): Sách ” Lịch sử Thủ đô Hà Nội ” viết: “Năm 1802, Gia Long quyết định đóng đô ở tại nơi cũ là Phú Xuân (Huế), không ra Thăng Long, cử Nguyễn Văn Thành làm Tổng trấn miền Bắc và đổi kinh thành Thăng Long làm trấn thành miền Bắc. Kinh thành đã chuyến làm trấn thành thì tên Thăng Long cũng cần phải đổi. Nhưng vì tên Thăng Long đã có từ lâu đời, quen dùng trong nhân dân toàn quốc, nên Gia Long thấy không tiện bỏ đi ngay mà vẫn giữ tên Thăng Long, nhưng đổi chữ “Long” là Rồng thành chữ “Long” là Thịnh vượng, lấy cớ rằng rồng là tượng trưng cho nhà vua, nay vua không ở đây thì không được dùng chữ “Long” là “Rồng” [Trần Huy Liệu (chủ biên), Lịch sử thủ đô Hà Nội, Hà Nội 1960, tr 81].

Việc thay đổi nói trên xảy ra năm 1805, sau đó vua Gia Long còn hạ lệnh phá bỏ hoàng thành cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long, mà hoàng thành Thăng Long lại quá lớn rộng.

Hà Nội: Sách Lịch sử Thủ đô Hà Nội viết: “Năm 1831, vua Minh Mạng đem kinh thành Thăng Long cũ hợp với mấy phủ huyện xung quanh như huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hòa, phủ Lý Nhân và phủ Thường Tín lập thành tỉnh Hà Nội, lấy khu vực kinh thành Thăng Long cũ làm tỉnh lỵ của Hà Nội” [Trần Huy Liệu (chủ biên). Lịch sử thủ đô Hà Nội. Hà Nội 1960, Tr 82].

Những cái tên trong văn học của Thăng Long – Hà Nộ i

Trong văn thơ, ca dao, khẩu ngữ…,thành Thăng Long-Hà Nội được gắn với nhiều tên gọi khác nhau.

Trường An: Vốn là tên Kinh đô của hai triều đại phong kiến thịnh trị vào bậc nhất của nước Trung Quốc: Tiền Hán (206 trước công nguyên-III sau công nguyên) và Đường (618-907). Do đó, Tràng An được các nhà nho Việt Nam xưa sử dụng như một danh từ chung chỉ kinh đô, từ đó cũng được người bình dân sử dụng nhiều trong ca dao, tục ngữ chỉ kinh đô Thăng Long.

Thí dụ: ” Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An.”

Rõ ràng chữ Tràng An ở đây là để chỉ kinh đô Thăng Long.

Phượng Thành (Phụng Thành): Vào đầu thế kỷ XVI, ông Trạng Nguyễn Giản Thanh (người Bắc Ninh) có bài phú nôm rất nổi tiếng: “Phượng Thành xuân sắc phú” (Tả cảnh sắc mùa xuân ở thành Phượng).

Nội dung của bài phú trên là tả cảnh mùa xuân của Thăng Long đời Lê. Phụng Thành hay Phượng Thành được dùng trong văn học Việt Nam để chỉ thành Thăng Long.

Long Biên: Vốn là nơi quan lại nhà Hán, Nguỵ, Tấn, Nam Bắc triều (thế kỷ III, IV, V và VI) ở Giao Châu (tên nước Việt Nam thời đó) đóng trị sở. Sau đó, đôi khi cũng được dùng trong thơ văn để chỉ Thăng Long-Hà Nội. Sách Quốc triều đăng khoa lục có đoạn chép về tiểu sử Tam nguyên Trần Bích San (1838-1877); ghi lại bài thơ của vua Tự Đức viếng ông, có hai câu đầu như sau:

“Long Biên tài hướng Phượng thành hồi Triệu đối do hi, vĩnh biệt thôi!”

Dịch nghĩa:

“Nhớ người vừa từ thành Long Biên về tới Phượng Thành.

Trẫm còn đang hy vọng triệu ngươi về triều bàn đối, bỗng vĩnh biệt ngay.”

Thành Long Biên ở đây, vua Tự Đức dùng để chỉ Hà Nội, bởi vì bấy giờ Trần Bích San đang lĩnh chức Tuần phủ Hà Nội. Năm 1877 vua Tự Đức triệu ông về kinh đô Huế để sung chức sứ thần qua nước Pháp, chưa kịp đi thì mất.

Long Thành: Là tên viết tắt của Kinh thành Thăng Long. Nhà thơ thời Tây Sơn Ngô Ngọc Du, quê ở Hải Dương, từ nhỏ theo ông nội lên Thăng Long mở trường dạy học và làm thuốc.

Ngô Ngọc Du là người được chứng kiến trận đại thắng quân Thanh ở Đống Đa-Ngọc Hồi của vua Quang Trung. Sau chiến thắng xuân Kỷ Dậu (1789), Ngô Ngọc Du có viết bài Long thành quang phục kỷ thực (Ghi chép việc khôi phục Long thành).

Hà Thành: Là tên viết tắt của thành phố Hà Nội được dùng nhiều trong thơ ca để chỉ Hà Nội. Thí dụ như bài Hà Thành chính khí ca của Nguyễn Văn Giai, bài Hà Thành thất thủ, tổng vịnh (khuyết danh), Hà Thành hiểu vọng…

Hoàng Diệu: Ngay sau Cách mạng Tháng Tám-1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.

Ngoài ra, trong cách nói dân gian, còn nhiều từ được dùng để chỉ Thăng Long-Hà Nội như: Kẻ Chợ (Khéo tay hay nghề đất lề Kẻ Chợ-Khôn khéo thợ thầy Kẻ Chợ); Thượng Kinh, tên này để nói đất kinh đô ở trên mọi nơi khác trong nước, dùng để chỉ kinh đô Thăng Long (Chẳng thơm cũng thể hoa nhài. Chẳng thanh lịch cũng thể người Thượng Kinh). Kinh Kỳ, tên này nói đất có kinh đô đóng (Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến).

Và đôi khi chỉ dùng một từ kinh như “Ăn Bắc, mặc Kinh.” Bắc đây chỉ vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh), Kinh chỉ kinh đô Thăng Long.

Loại tên “không chính quy” của Thăng Long – Hà Nội còn được sử dụng khá linh hoạt trong văn học, ca dao…

Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, vua Gia Long đã đổi phủ Phụng Thiên (vốn là đất đai của kinh thành Thăng Long cũ) thành phủ Hoài Đức và vẫn coi là một đơn vị trực thuộc ngang với trấn tức trực thuộc trung ương mà đại diện là Tổng trấn Bắc Thành.

Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đã tiến hành một đợt cải cách hành chính lớn, xóa bỏ Bắc Thành (gồm 11 trấn và 1 phủ trực thuộc) ở miền Bắc, chia cả nước ra làm 29 tỉnh, trong đó có 15 tỉnh trực thuộc trung ương.

Lúc đó, Hoài Đức trở thành một trong bốn phủ họp thành tỉnh Hà Nội. Danh từ Hà Nội bắt đầu có từ bấy giờ. Hà Nội có nghĩa là phía trong sông. Vì trong thực tế, tỉnh mới này nằm trên trong 3 con sông Hông, sông Nhuệ và sông Đáy. Tỉnh Hà Nội có 4 phủ là:

– Phủ Hoài Đức gồm 3 huyện: Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm

– Phủ Thường Tín gồm 3 huyện: Thượng Phúc, Thanh Trì, Phú Xuyên

– Phủ Ứng Hoà gồm 4 huyện: Sơn Minh (nay là Ứng Hòa), Hoài An (nay là phía nam Ứng Hòa và một phần Mỹ Đức), Chương Đức (nay là Chương Mỹ-Thanh Oai)

– Phủ Lý Nhân gồm 5 huyện: Nam Xang (nay là Lý Nhân), Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Bình Lục.

Tên gọi Hà Nội bắt đầu có từ năm 1831. Như vậy, tỉnh Hà Nội so với nay gồm thành phố Hà Nội, nửa phía đông tỉnh Hà Tây (chính là tỉnh Hà Đông thời Pháp thuộc) và toàn bộ tỉnh Hà Nam, rõ ràng nằm kẹp giữa sông Hồng, sông Đáy và sông Nhuệ.

Cũng từ đó, thành Hà Nội cũng được coi là thành tỉnh, và con đường đi từ Hàng Bông qua Mang Cá (công trình phòng thủ hình tam giác xây trước cửa thành) đi vào Cửa Đông của toà thành được gọi là phố “Cửa Đông Cổng tỉnh” nay là phố Đường Thành.

Có người cho rằng chữ Hà Nội là lấy từ câu trong sách Mạnh Tử (Thiên Lương Huệ Vương): “Hà Nội hung tắc di kỳ dân ư Hà Đông, chuyển kỳ túc ư Hà Nội” (nghĩa là: Hà Nội bị tai họa thì đưa dân về Hà Đông, đưa thóc từ Hà Đông về Hà Nội). Nhưng đó là trường hợp năm 1904 khi muốn đổi tên tỉnh Cầu Đơ cho khỏi nôm na, “tiểu ban đặt tên” mới lấy câu sách Mạnh Tử nói trên để đổi tỉnh Cầu Đơ ra tỉnh Hà Đông.

*

Bạn đang xem bài viết Tên Gọi Và Ý Nghĩa Kỷ Niệm Ngày Cưới Qua Các Năm trên website Uplusgold.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!