Xem Nhiều 2/2023 #️ Tìm Hiểu Nguồn Gốc Tên Gọi Các Địa Danh Trên Đất Nước Việt Nam # Top 7 Trend | Uplusgold.com

Xem Nhiều 2/2023 # Tìm Hiểu Nguồn Gốc Tên Gọi Các Địa Danh Trên Đất Nước Việt Nam # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tìm Hiểu Nguồn Gốc Tên Gọi Các Địa Danh Trên Đất Nước Việt Nam mới nhất trên website Uplusgold.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Mỗi thành phố thường gắn liền với tên một dòng sông.

Hà Nội thì nằm ven sông Hồng.

Thành phố Hồ Chí Minh thì có sông Sài Gòn.

Cố đô Huế thơ mộng với dòng Hương Giang bắc qua như dải lụa mềm mại.

Đà Nẵng với sông Hàn êm đềm nhiều dấu tích.

Bình Phước với con sông Bé – cũng là tên gọi cũ của Bình Dương và Bình Phước.

Nguồn gốc tên gọi Hà Nội:

Hai nhánh của sông Hồng chảy qua bao bọc lấy thành phố. Hà là sông, Nội là bên trong. Hà Nội là thành phố nằm bên trong sông.

Nguồn gốc tên gọi Đăk-lăk:

Mình ở Đăk Lăk. Theo tiếng dân Ê-đê thì Đăk có nghĩa là Hồ. Còn Lăk có nghĩa là Nước.

Nguồn gốc tên gọi Rạch Giá – Kiên Giang:

Rạch Giá vì vùng này ngày xưa mọc nhiều cây giá – giống cây đước chứ ko phải giá ăn phở.

Nguồn gốc tên gọi Quảng Bình:

Quảng Bình là tên gọi được Chúa Nguyễn Hoàng đặt năm 1558. Trước đó nó có tên Tiên Bình. Trước đó nữa thì đất này thuộc địa phận của người Chăm.

Ngoài du lịch ra thì mình rất thích 1 bài hát khi nhắc tới Quảng Bình:

(mình nghe bản của NSND Thu Hiền trước và vẫn thích hơn bản của Phương Nga nhiều). Cô này hát bài Dáng Đứng Bến Tre cũng hay lắm <3.

Nguồn gốc tên gọi Điện Biên:

Điện Biên nghĩa là vùng đất biên cương vững chắc. Do ông vua thời Nguyễn đặt, tìm hiểu thì biết vậy.

Nguồn gốc tên gọi Đồng Nai:

Trước kia có thành Gia Định, Biên Hòa…. sau khi Pháp vào thì họ xây dựng Sài Gòn – hòn ngọc viễn đông. Họ rất thích đi săn nai ở vùng đất Biên Hòa, đến thời kỳ sau hình thành, chia nhỏ các tỉnh thì tên Đồng Nai xuất hiện.

Cái biểu tượng 1 con nai có 2 bông lúa hình tròn là logo của tỉnh, trên nốc tòa nhà máu xanh gắn sở giáo dục tỉnh – gần bờ kè cầu Hóa An có biểu tượng này đó.

Mảnh đất này là nơi mình sinh ra, con người nhìn chung khá là thân thiện. Khu vực mình sống thì rất nhiều người theo đạo Thiên Chúa và nhiều người Hoa.

Đây, chỗ này sát nhà mình luôn 🙂

Nguồn gốc tên gọi Vĩnh Long:

Năm 1732, Vùng đất Vĩnh Long thời ấy được Nguyễn Phúc Trú thành lập, với tên gọi đầu tiên của tỉnh là Châu Định Viễn, thuộc dinh Long Hồ.

Năm 1779, đổi tên thành Hoằng Trấn dinh.

Giai đoạn từ năm 1780 đến năm 1805, đổi thành Vĩnh Trấn.

Từ năm 1806 đến năm 1832, Vĩnh Trấn được đổi thành Trấn Vĩnh Thanh.

Từ năm 1832 đến năm 1950, tên gọi Vĩnh Long được hình thành với vai trò là một tỉnh.

Giai đoạn từ năm 1951 đến năm 1954, Vĩnh Long được đổi thành tỉnh Vĩnh Trà.

Từ năm 1954 đến 1975, tỉnh Vĩnh Long được tái lập lần thứ 2.

Từ năm năm 1976 đến tháng 5 năm 1992, mang tên là tỉnh Cửu Long.

Cuối cùng là từ ngày 5 tháng 5 năm 1992 cái tên Vĩnh Long được sử dụng đến ngày hôm nay.

Nguồn gốc tên gọi Nha Trang:

Tên gọi Nha Trang quê em xuất phát từ tiếng chăm Eatrang đọc chệch mà ra. Eatrang nghĩa là dòng sông lau sậy vì do ngày xưa dọc 2 bờ sông cái Nha Trang lau sậy mọc rất nhiều.

Nguồn gốc tên gọi Tiền Giang:

Tiền Giang, đơn giản là vì do sông Tiền. Trước đây Tiền Giang tên là Mỹ Tho Đại Phố, một trong những vùng đất lâu đời và sầm uất bậc nhất Nam bộ (thời điểm đó).

Cái tên Mỹ Tho bắt nguồn từ tiếng Khmer còn ý nghĩa là gì thì mình chịu. Sau đổi thành Định Tường rồi lại đổi thành Mỹ Tho. Cuối cùng mới là Tiền Giang.

Tại sao các tỉnh miền Tây cũng đều có huyện Châu Thành?

Ngoài ra thì 2 đặc điểm rất thường gặp trong tên gọi các địa danh ở miền Tây là Cái (Cái Bè, Cái Thia, Cái Mơn, Cái Cam,… và Châu Thành (gần như tỉnh nào ở miền Tây cũng đều có huyện Châu Thành).

Còn Châu Thành miền tây tỉnh nào cũng có là do khi xưa người ta gọi vùng trung tâm, thủ phủ của tỉnh, là “Châu Thành”.

Nguồn gốc tên gọi Hải Dương:

Xuất xứ tên gọi Hải Dương: Tên gọi Hải Dương (海陽) chính thức có từ năm 1469[3]. Hải (海) là biển. Dương (陽) là ánh sáng, ánh mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là “ánh mặt trời biển Đông” hay “ánh sáng từ miền duyên hải (phía đông) chiếu về”.

Nguồn gốc tên gọi Mỹ Tho:

Có nhiều ý kiến về nguồn gốc địa danh Mỹ Tho. Đa số ý kiến cho rằng Mỹ Tho bắt nguồn từ phương ngữ gốc Khmer như Mi Sâr biến thể thành Mỹ và Tho, có nghĩa là xứ có người con gái da trắng, đẹp. Từ đó Mỹ, chữ Hánnghĩa là đẹp, nhưng từ Tho không có trong chữ Hán nên có lối viết khác nhau qua chữ Nôm, có hai lối viết, để chỉ vùng nước thơm hay cỏ thơm.

Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu về lịch sử và sinh hoạt của người Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Người Việt gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock, chỉ còn giữ lại Mỳ Xó. Confirm gái Mỹ Tho đẹp mà. Như bao cô gái, như bao cô gái ở Mỹ Tho, gái Mỹ Tho cái gì cũng to… :v

Người đẹp nổi tiếng: Từ Dũ, Nam Phương hoàng hậu, Võ Sông Hương, Tăng Thanh Hà, Nam Em…

Nguồn gốc tên gọi Cà Mau:

“Kha-mau” trong tiếng Khmer có nghĩa là nước đen, nói về đặc điểm của vùng rừng tràm, lá cây tràm ủ xuống mục ra làm cho nước có màu đen. Sau được vietsub là là “Cà Mâu” nay là tỉnh “Cà Mau” vùng đất cực Nam của Tổ quốc.

Nhắc tới Cà Mau là mình nhớ ngay tới Bác Ba Phi hay bộ phim Đất Rừng Phương Nam 1 thời tuổi thơ.

Các bạn xem thử video này nói về bác Ba Phi, rất hay đấy:

Nguồn gốc mấy tên địa danh ở Sài Gòn:

Ngày xưa người ta thương lấy những cái gì dễ nhớ để chỉ địa điểm nên mới có tên như vậy:

Như ngã 4 hàng xanh vì xưa trồng toàn cây sanh

Lăng cha cả vì ngày xưa chỗ đó có cái mộ của ông cha xứ.

Sài gòn thì hình như đó là dấu tín hay đai loại mật khẩu của chiếu chỉ triều đình khi gửi về Gia Định( sài: đốt, gòn là cây gòn).

Mình đọc Sài Gòn Xưa và Nay thì thấy phân tích thế.

Cái tên ngã 5 chuồng chó thì xuất phát từ đâu?

Mỗi khi đi tuần tra, mỗi tiểu đoàn được dắt theo từ 2 -3 con chó nhằm đánh mùi và phát hiện bộ đội ta. Người Sài Gòn lúc đó khi qua đây, đều nghe tiếng chó sủa và thấy lính dắt chó huấn luyện nên dần dần người ta quen hình ảnh này rồi gọi tên ngã năm Chuồng Chó.

Năm 1966, trường này được nâng cấp thành Trung tâm huấn luyện và bổ sung Quân khuyển với quy mô mở rộng, kỹ thuật huấn luyện cũng được cập nhật từ Mỹ. Các chú chó nghiệp vụ này được luyện đánh hơi để kiêm thêm công việc tuần tiễu. Có thời, tất cả các căn cứ quân sự của Mỹ tại Đông Nam Á đều sử dụng quân khuyển do nơi này huấn luyện.

Nguồn gốc tên gọi Đà Nẵng:

Nguồn gốc từ “Đà Nẵng” bắt nguồn từ tiếng Chăm cổ “DAKNAN”, nghĩa là vùng nước rộng lớn. Trong đó, chữ DAK có nghĩa là nước, NAN là rộng, lớn, hoặc già.

Nhiều ý kiến cho rằng Đà Nẵng xuất phát từ nghĩa trong tiếng dân tộc là vùng đất có con sông lớn – chính là sông Hàn ngày nay.

Địa danh DAKNAN hàm ý chỉ vùng sông nước rộng mênh mông (sông lớn hoặc sông già – cửa sông Hàn bây giờ). Người Việt phiên âm ra thành Đà Nẵng. Vào thời Pháp thuộc (và trước đó), địa danh Đà Nẵng thường được gọi là Tourane. vì chữ DAKNAN của dân tộc Chăm mà người Trung Hoa gốc Hải Nam đọc là TOUNAN, do đó mà phiên âm thành Tourane.

Giải Thích Nguồn Gốc, Ý Nghĩa Các Địa Danh Việt Nam

Thành phố Hải Phòng

Hải Phòng hay còn gọi là thành phố hoa phượng đỏ, là thành phố trực thuộc Trung ương gồm 1 thị xã, 4 quận, 8 huyện với 50 phường, 9 thị trấn, 157 xã. Tên Hải Phòng được Phạm Phú Thứ – một đại thần triều nhà Nguyễn đặt năm 1877. Ở đó có cơ quan Hải Phòng sứ, bảo vệ cửa biển.

Bà Rịa

Về địa danh Bà Rịa có 2 cách lý giải khác nhau:

Một bà tên Rịa có công với vùng này trong thế kỷ 19 nên tên bà được đặt cho địa phương.

Do phiên âm tên một nữ thần của người Chăm Po Riyak (thần trấn sóng).

Tuy nhiên thuyết thứ nhất thiếu tư liệu lịch sử nên không có cơ sở khoa học. Hơn nữa địa danh này đã có từ trước thế kỷ 19 (Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức khắc in khoảng năm 1820 đã nói tới).

Thuyết thứ hai có lý hơn vì có cơ sở ngữ âm và lịch sử. Từ địa danh Bà Rịa sinh ra hai địa danh Bà Biên và Bà Chợ.

Biên Hòa

Biên Hòa là thành phố công nghiệp và là tỉnh lỵ của tỉnh. Tên thành phố này có nguồn gốc Hán Việt.

Biên trong biên giới. Hòa trong hòa bình. Biên Hòa ở đây có nghĩa là hòa bình ở biên giới.

Tây Ninh

cũng là một địa danh Hán Việt như Biên Hòa kể trên. Là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam nổi tiếng với địa điểm du lịch núi Bà Đen. Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm Pênh, vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Và Tây Ninh có nghĩa là yên ổn về chính trị ở phía tây.

Trà Vinh

là thành phố nằm bên bờ sông Tiền, là tỉnh lỵ tỉnh Trà Vinh. Thành phố Trà Vinh nằm trên Quốc lộ 53 cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 200 km. Trà Vinh xuất phát từ “prha trapenh” có nghĩa là ao, ao Phật hay ao linh thiêng. Vì cho rằng ngày xưa người ta đã đào được tượng Phật dưới ao ở vùng đất này. Đây là một địa danh gốc Khmer.

Kon Tum và Plei Ku ( Plây Ku)

Là hai trong năm tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên.

Trong đó Kon trong Kon Tum có nghĩa là làng, Tum có nghĩa là hồ ao. Vậy Kon Tum có nghĩa là làng có nhiều ao, hồ. Địa danh Kon Tum là địa danh có gốc dân tộc thiểu số mà cụ thể là dân tộc Ba Na.

Plei cũng mang nghĩa là làng, Ku có nghĩa là cái đuôi, phần cuối. Địa danh Plei Ku có nghĩa là làng cuối. Đây là địa danh gốc dân tộc Gia Rai

Quảng Nam

Là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam mà người ta vẫn hay gọi là ” Quảng Nôm”. Nổi tiếng với nhiều địa du lịch như phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn,…

Có thể thấy được miền Trung có khá nhiều địa danh mang yếu tố quảng. Bởi vì đây là một dải đất hẹp nên việc đặt tên các địa danh mang yếu tố quảng là với mong muốn sự rộng lớn, bao la vì từ quảng mang nghĩa như vậy.

Quảng Nam ở đây thì mang ý nghĩa mở rộng về phía nam.

Tam Kỳ

(Còn nữa….)

Là một thành phố trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, địa danh này có gốc Hán Việt. Có thể giải thích như sau: tam có nghĩa là ba, kỳ là nhánh, ba nhánh tức ngã ba. Vậy Tam Kỳ là ngã ba

Xem phần 1

Nguồn Gốc Một Số Địa Danh Nam Bộ

Thành phố Cần Thơ

Miền Nam, đặc biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người Việt và người Khmer sống chung với nhau,văn hoá đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Điều đó biểu hiện rõ nét qua một số địa danh. Một số nơi, tên gọi nghe qua thì rất Việt Nam nhưng lại bắt nguồn từ tiếng Khmer; người Việt đã Việt hoá một cách tài tình.

Mỹ Tho: Trường hợp Mỹ Tho cũng tương tự. Sự kết hợp hai thành tố có ngữ âm hoàn toàn Việt Nam, “mỹ” và “tho”, không tạo nên một ý nghĩa nào theo cách hiểu trong tiếng Việt. Những tài liệu thích ứng về lịch sử và sinh hoạt của người Khmer trong vùng thời xa xưa đã xác định địa phương này có lúc đã được gọi là “Srock Mỳ Xó” (xứ nàng trắng). Mình gọi là Mỹ Tho, đã bỏ đi chữ Srock,chỉ còn giữ lại Mỳ Xó thôi.

Nhà thờ Chánh Tòa – Mỹ Tho

Sóc Trăng Theo cố học giả Vương Hồng Sển, đúng ra phải gọi là Sốc Trăng. Sốc Trăng xuất phát từ tiếng Khmer “Srock Khléang”. Srock có nghĩa là xứ, cõi. Khléang là kho chứa vàng bạc của vua. Srock Khléang là xứ có kho vàng bạc nhà vua. Trước kia người Việt viết là Sốc Kha Lăng, sau nữa biến thành Sốc Trăng.

Tên Sốc Trăng đã có những lần bị biến đổi hoàn toàn. Thời Minh Mạng, đã đổi lại là Nguyệt Giang tỉnh, có nghĩa là sông trăng (sốc thành sông, tiếng Hán Việt là giang; trăng là nguyệt).Đến thời ông Diệm, lại gọi là tỉnh Ba Xuyên,châu thành Khánh Hưng. Bây giờ trở lại là Sóc Trăng.

Chế Vỹ Tân: Nguồn Gốc Địa Danh…

NGUỒN GỐC CỦA MỘT SỐ ĐỊA DANH THUỘC NINH THUẬN VÀ BÌNH THUẬN

Kì01.

CÀ NÁ Trước đây cũng như hiện nay, Cà Ná là một địa điểm du lịch của cực nam Trung bộ, nổi tiếng về cảnh đẹp núi biển ôm sát nhau. Cà Ná còn là vùng có những cây mai vàng năm cánh rất đẹp. Mỗi độ xuân về, toàn đồi núi khu vực này rực lên một màu vàng nhạt tựa như một bức tranh huyền ảo… Cách biển một cây số về hướng Tây, tọa lạc một làng Chăm – làng Rabha Ralauw – nay không còn nữa. Phía trên nữa có con suối nước rất trong, chảy róc rách quanh năm; trước kia người dân địa phương gọi là Suối Tiên, ngày nay chính là Suối Vĩnh Hảo… Lúc bấy giờ, từ “Quốc lộ số 1” (ngày nay), lại có một con đường tẻ lên làng Chăm và Suối Tiên. Ngã ba đó, người Chăm gọi là Canah kluw (đọc là Chanah klău); Canah có nghĩa là tẻ ra, kluw nghĩa là ba (ngã ba). Người Việt đọc trại ra thành “Cà ná lâu”, về sau chữ “lâu” này rụng đi, chỉ còn lại “Cà na”.

THỊ NẠI hay NẠI Dọc theo duyên hải miền Trung Việt Nam, chúng ta tìm thấy nhiều địa danh mang tên Thị Nại hoặc Nại. Tại tỉnh Ninh Thuận, thôn Dư Khánh thuộc xã Khánh Hải, huyện Ninh Hải, cũng có tục danh là NẠI. Vậy thì “Nại” này có nguồn gốc từ đâu? Xưa kia, người Chăm sinh sống dọc bờ biển thường làm nghề đánh cá. Mỗi buổi sáng hay buổi chiều đều có các thuyền đánh cá tấp vào một vài nơi nhất định (nơi có những cư dân đông đúc) để bán cá. Do đó, về lâu về dài, những nơi này hình thành những “chợ nhỏ”, chủ yếu là để bán cá tươi cho người địa phương và các dân buôn. “Chợ nhỏ” đó tên Chăm là darak naih (darak là chợ, naih là nhỏ), đọc là “tàrạk neh”. Người Kinh dịch chữ darak là Thị, còn chữ naih lại ngỡ là danh từ riêng, nên cứ gọi là Né hay Thị Né. (Sự chuyển đổi từ phụ âm cuối Chăm h sang thanh hỏi hay nặng trong tiếng Việt là điều thường gặp). Vì thế, chữ Né và Thị Né đọc trại ra thành NẠI hay THỊ NẠI, và các từ này tồn tại cho đến ngày hôm nay.

SÔNG DINH Tại thị xã Phan Rang – Tháp Chàm thuộc tỉnh Ninh Thuận, có con sông Cái từ thượng nguồn chảy về biển, băng ngang qua phía Nam thị xã này. Người địa phương gọi con sông đó là Sông Dinh. Từ Dinh này có phải có nguồn gốc từ tiếng Chăm không? Theo chúng tôi, có lẽ từ Dinh xuất phát từ chữ DING (đọc là Tìng) của người Chăm. Ding có nghĩa là phố, nau ding có nghĩa là đi xuống phố. Con sông chảy ngang phố (phía nam Phan Rang), người Chăm gọi là KRAUNG DING (có nghĩa là Sông Phố), và người Kinh phiên âm ra thành SÔNG DINH, theo âm tiếng Chăm đọc trại ra.

SÔNG MAO Sông Mao là một địa danh thuộc tây bắc huyện Bắc Bình tỉnh Bình Thuận, trước đây (sau giải phóng) là huyện lỵ của huyện Bắc Bình. Theo hiểu biết của chúng tôi, từ Sông Mao có nguồn gốc khá lí thú! Qua sự giải thích của một thân hào Chăm, chúng ta có thể hiểu như sau: Trong khu vực Sông Mao bây giờ có đồng ruộng của người Chăm tục gọi là Hamu Pa-auk (đọc là pa-ó, nghĩa là cây xoài). Cạnh ga Sông Mao có một con sông nhỏ người Chăm gọi là kraung pa-auk. Người Kinh dịch thành SÔNG PA-Ó. Chuyển đổi âm từ P của Chăm sang M của Việt: từ Sông Pa-ok được viết là Sông MA-Ó. Vả lại thời Pháp thuộc dấu sắc ở nguyên âm o không thể hiện được trên máy đánh chữ (ó thành o), vì vậy trong các văn bản hành chánh thời đó ta thường thấy viết Sông Ma-o. Sau này, dấu ngang rụng đi do cách đọc gộp thành một âm của những người Pháp (thời Pháp thuộc), cuối cùng ta có từ SÔNG MAO của ngày hôm nay.

* Trong Tagalau4.

Kì02.

Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết mà các sách địa lý thường gọi là “Tam Phan”, được cả nước biết đến là do đặc điểm ít mưa nhiều nắng nhất nước. Đây là 3 địa danh thuộc cực nam Trung bộ, xưa kia thuộc đất Panduranga, tiểu bang cực nam của xứ Champa cũ. Theo chúng tôi tìm hiểu thì cả 3 từ này đều có nguồn gốc từ tiếng Chăm.

PHAN RANG là biến dạng của từ Chăm: PA-NRANG, hay còn được gọi là PANDARANG. Đó là từ địa phương viết theo tiếng Chăm hiện đại (akhar thrah) để chỉ vùng tỉnh Ninh Thuận ngày nay. Thông thường các nhà nghiên cứu Việt nam và nước ngoài hay nhầm lẫn giữa 2 danh từ Pandarang và Panduranga vì cho 2 từ này chỉ là một (đồng nghĩa với nhau). Sự thật không phải thế, vì Panduranga là tiếng Phạn (Sanscrit) dùng để chỉ vùng đất chung của cả 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay, đúng hơn là cả một phần của Đồng Nai nữa, vì các sách cổ Chăm luôn nhắc đến Đồng Nai thượng và Đồng Nai hạ, khi nói đến Panduranga (theo E.Durand. P.B.Lafont và L.Finot).

PHAN RÍ: Đây là phiên âm của danh từ Chăm PA-RIK, địa danh chỉ vùng nằm giữa KRONG (tức sông Lòng Sông hay huyện Tuy Phong hôm nay) và PAJAI (tức Phố Hài). Panrang – Kraung – Parik – Pajai là 4 vùng chính của Panduranga cũ đang có đông cư dân Chăm. PHAN THIẾT: Đây là sự biến dạng của từ Chăm HAMU LITHIT (Ruộng Lithit). Người Chăm thường gọi tắt là Mu Thit, nên trước đây được phiên âm là Man Thiết (thời Pháp thuộc) trước khi trở thành Phan Thiết của ngày hôm nay.

LADI: tức là vùng huyện Hàm Tân bây giờ (thuộc tỉnh Bình Thuận), xưa kia là đất Nưgar LADIK của xứ Panduranga cũ (đọc là La-tik theo âm Chăm). Danh từ LADIK được phiên âm thành La Di ngày nay.

SÔNG LA NGÀ: Đây là con sông bắt nguồn từ bình nguyên Lâm Đồng, chảy qua các huyện phía nam tỉnh Bình Thuận để đổ xuống biển Đông. Vậy, từ La Ngà có nguồn gốc từ đâu? Đây không phải là một danh từ Chăm. La Ngà có nguồn gốc từ tiếng Kơho, vì sông này có dòng chảy băng qua các vùng cư trú của đồng bào Kơho. Vào mùa hạ, sông này khô nước, lòng sông nổi lên nhiều đá cuội đen trắng lấp lánh dưới ánh mặt trời giống như một bãi phơi hạt mè màu trắng đen vậy. Vì thế mà người Kơho đặt tên con sông này là sông LƠNGA – sông Hạt Mè (Lơnga là hạt mè (vừng – theo Từ điển Việt – Kơho, Sở VHTT Lâm Đồng, 1983, tr.164). Người Việt phiên âm là La Ngà. Người Kơho còn gọi con trâu trắng có chấm đen li ti là “rơpu lơnga” (con trâu hạt mè).

CỔ HỦ: là tục danh của làng Mỹ Tường thuộc xã Nhơn Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Làng này tọa lạc gần biển, và trước đây mang địa danh là BAL HUH của Champa cũ (Bal: thủ đô, đây là thủ đô tạm thời khi phải di chuyển về phía nam do chiến cuộc cũng như sau này chuyển về Bal Ywa, Bal Lai, Bal Caung (1)… trước khi đến Bal Canar ở Phan Rí là thủ đô cuối cùng). Sau này khi không còn Bal nữa, người Chăm chỉ gọi gọn địa danh này là HUH. Chính từ HUH này đã được phiên âm biến thành Cổ Hủ.

HÒA LAI: là một địa danh ở bắc Ninh Thuận thường được gọi là Ba Tháp, thuộc xã Tân Hải, huyện Ninh Hải. Trên quốc lộ số 1, du khách bắt gặp hai ngọn tháp Chăm cổ kính tọa lạc phía đông con đường, cách ranh giới Khánh Hòa – Ninh Thuận khoảng 8 km (ngọn thứ ba đã bị đổ nát từ lâu). Nơi đây chính là HÒA LAI. Xưa kia địa danh này mang tên là BAL LAI (thủ đô đã điêu mất). Chính từ Bal Lai này đã được phiên âm thành Hòa Lai.

GÒ ĐỀN là tên gọi của một làng Công giáo tọa lạc giữa Hòa Lai và Hộ Diêm, thuộc xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh NinhThuận. Khu vực này là một gò lớn, và ở giữa gò ấy có một cái đền của người Chăm. Đền này đã đổ nát và ngay trên địa điểm đó bây giờ nhà thờ Công giáo được xây dựng lên. Vậy địa danh Gò Đền mang đặc điểm của khu đât này: đất GÒ có ĐỀN của người dân tộc Chăm.

GÒ SẠN là tên gọi một làng nằm sát phái bắc Gò Đền. Đây cũng là vạt đất gò cao tiếp nối với vạt đất Gò Đền. Vạt đất này là đất sạn (đá sỏi nhỏ). Chính vì đặc điểm này mà người dân địa phương mới đặt tên là Gò Sạn.

CÀ ĐÚ, CHÀ BANG Đây là tên gọi 2 hòn núi ở phía bắc và phía nam tỉnh Ninh Thuận.

CÀ ĐÚ là hòn núi ở phía tây Đầm Nại, thuộc xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải. Nơi đây có làng mang tên là làng Cà Đú (nay đổi lại thành thôn Lương Cách). Cà Đú là một từ Chăm xuất phát từ tên gọi hòn núi KAĐUK nói trên. Từ Kađuk được phiên âm ra tiếng Việt là Cà Đú. CHÀ BANG là tên gọi hòn núi ở phía bắc thôn Văn Lâm (cách chừng 7 km) thuộc xã Phước Nam, huyện Ninh Phước. Người Chăm thường gọi là Cơk Cabbang, có nghĩa là hòn núi có ngọn tẻ đôi như “cabbang” (chữ V). Người Việt phiên âm thành Chà Bang.

PALEI RƠM (đọc là râm). Từ RƠM này rất gần gũi với người Chăm, nhưng rất ít người Chăm hiểu nghĩa chính xác của nó là gì. Xin nói rõ Palei Rơm là tục danh của thôn Văn Lâm (thuộc xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận). Từ trước đến nay đại đa số người Chăm chỉ hiểu từ “râm” là rừng rậm; từ đó suy diễn ra một cách lôgic là trước đây khu vực này toàn rừng rú rậm rạp, đầy thú dữ. Nhưng khi đọc lại các văn bản cổ Chăm, ta mới hiểu từ “râm” còn có nghĩa khác là: “đất gò” (đất cao), nhất là khi tra cứu từ điển Malaysia thì ta càng sáng tỏ hơn, chữ “râm” đúng có nghĩa là “đất gò”. Vậy “Palei Rơm” có nghĩa là thôn Đất Gò, và nói theo tiếng Chăm thông thường là Palei Tabbok (đọc là tabôk). Rõ ràng chúng ta đang sử dụng từ ngữ đó mà không nhận ra Tabbok Gah: chỉ ấp Gò Dưới, Tabbok Krưh: chỉ ấp Gò Giữa, và Ram Ngauk để chỉ ” ấp Gò Trên” đó sao?

(1) Chú thích: thứ tự này là do tác giả suy luận theo lôgic từ biển lên giữa đất liền, và từ bắc xuôi về nam tại Pandarang, chứ không tìm ra trong tư liệu nào. Vậy tính chính xác không được đảm bảo.

* Trong Tagalau5.

Kì03.

ĐÀ NẴNG. Là biến dạng của từ Chăm DAKNAN. Theo tài liệu của cụ Bố Thuận (nhà nghiên cứu Chăm, gốc Phan Rí, sống vào đầu thế kỷ XX) thì chữ dak có nghĩa là nước (Chăm cổ), nan hay nưn (tức lanưng) là rộng. Địa danh Daknan hàm ý chỉ vùng sông nước rộng mênh mông (cửa sông Hàn bây giờ). Người Việt phiên âm ra thành Đà Nẵng. Tourane. Vào thời Pháp thuộc (và trước đó), địa danh Đà Nẵng thường được gọi là Tourane. Vậy từ Tourane này do đâu mà ra? Cũng theo tài liệu của cụ Bố Thuận thì chữ DAKNAN của Chăm người Trung Hoa gốc Hải Nam đọc là TOUNAN, do đó mà phiên âm thành Tourane.

CÙ LAO CHÀM. Đó là một hòn đảo ở ngoài khơi tỉnh Quảng Nam. Trước đây, cù lao này là nơi cư trú của các dân chài Chăm (tức Chàm) và dĩ nhiên mang tên Chăm. Rất tiếc hôm nay không ai còn nhớ. Về sau, qua biến đổi của lịch sử, người Chăm đã di tản đi nhiều nơi (có lẽ đông nhất là Hải Nam của Trung Quốc) và người Việt gọi địa danh này là Cù lao Chàm, nghĩa là cù lao của người Chăm cư trú trước đây.

SÔNG CAM LỘ. Sông Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị, có lẽ có nguồn gốc từ chữ Ca Lo, hay còn gọi là Khu Lu, và danh từ này đã được phiên âm ra thành Cam Lộ của ngày nay.

BỒNG MIÊU. Bồng Miêu là một vùng đồi núi thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Xưa kia những đồi này có nhiều vàng mà người Chăm đã từng khai thác. Chính vì vậy mà vùng này mang địa danh Chăm là Bbon Amưh (Đồi vàng), và được phiên âm thành Bồng Miêu.

TRÀ BỒNG, SƠN TRÀ, TRÀ KHÚC, TRÀ MI. Đó là những địa danh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Những từ ngữ này gợi lại những âm Chăm: Chữ Trà là phiên âm của chữ phạn Jaya (một trong 4 họ chính thống Ôn, Trà, Ma, Chế của người Chăm).

SÔNG ĐÀ RẰNG. Đó là con sông chảy qua phía nam Thành phố Tuy Hòa, Tỉnh Phú Yên. Từ Đà Rằng mang âm Chăm và có nguồn gốc từ chữ Dairios (tên của con sông này trước kia). Chính từ này lại được phiên âm từ chữ Dak Riong, có nghĩa là sông sâu hầm hố (từng chữ một: hầm hố liên tiếp). Từ chữ Dairios, người Việt phiên âm thành Đà Rằng.

ĐẬP ĐỒNG CAM. Đập Đồng Cam tọa lạc tại Phú Yên, nơi có đồng ruộng lúa nước lớn nhất miền Trung. Đập này xưa kia chắc chắn mang tên Chăm nhưng nay không ai còn nhớ nữa. Người Việt đặt tên đập này là Đập Đồng Chàm, nghĩa là đập của đồng lúa người Chàm trước đây. Nhưng vào thời Pháp thuộc, người Pháp viết là Cam (chữ Cam họ viết theo bộ chữ cái Chăm theo hệ thống latinh hóa của E.Aymonier trong đó chữ C mang âm Ch). Nhưng hôm nay chúng ta đọc theo chữ cái Việt thành “Cam” thay vì Cham.

VẠN GIÃ. Dãy núi trùng điệp tạo ra Đèo Cả ở bắc Khánh Hòa trước đây mang tên Kauthara (cũng là tên Tiểu vương quốc của Thánh địa Po Nagar). Nhiều học giả Chăm khẳng định từ Vạn Giã là biến dạng của chữ Kauthara vậy.

NHA TRANG. Thành phố thuộc xứ Kauthara cũ, người Chăm thường gọi là Ia Trang (Ia là nước, Trang là đan chéo) hàm ý chỉ nơi có hai luồn nước chảy đan chéo nhau. Danh từ Ia Trang được phiên âm ra thành Nha Trang ngày nay. Cũng có một nhận định khác là chữ Trang (trong Ia trang) có nghĩa là lau, sậy. Và từ Ia Trang dùng để chỉ vùng sông nước có nhiều lau sậy.

* Trong Tagalau6.

VN:F [1.9.22_1171]

please wait…

Rating: 7.4/10 (19 votes cast)

VN:F [1.9.22_1171]

Rating: +2 (from 2 votes)

,

7.4

out of

10

based on

19

ratings

Bạn đang xem bài viết Tìm Hiểu Nguồn Gốc Tên Gọi Các Địa Danh Trên Đất Nước Việt Nam trên website Uplusgold.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!