Đặt Tên Con Gái Theo Phật Giáo

--- Bài mới hơn ---

  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Đặt Tên Con Theo Phong Thủy
  • 10 Cách Đặt Tên Cho Con Theo Xu Hướng 2021
  • Xu Hướng Đặt Tên Con “ngắn Gọn Và Dễ Gọi” Của Cha Mẹ Người Nhật|Kênh Du Lịch Locobee
  • Ý Nghĩa Tên Hoàng Là Gì & Top #3 Cái Tên Hay, Ý Nghĩa Cho Tên Hoàng
  • Top 69+ Tên Võ Lâm Đẹp, Tên Nhân Vật Hay Trong Game Võ Lâm
  • Tên gắn liền với vận mệnh con trẻ

    1. Đặt tên cho con gái hay theo vần A

    Ái Hồng: Cô gái nhỏ dễ thương.

    Ái Nhi: Con gái nhỏ luôn được yêu thương.

    An Bình: Mẹ mong con luôn bình an.

    An Nhàn: Mẹ mong con có một cuộc sống êm đềm.

    Ánh Dương: Con sáng chói như vầng mặt trời.

    Ánh Ngọc: Con đẹp như một viên ngọc.

    Anh Thi: Cô gái nhỏ yêu kiều.

    Anh Thư: Con là một cô gái mạnh mẽ.

    Ngọc Anh: Bé là viên ngọc trong sáng, quý giá tuyệt vời của bố mẹ

    Nguyệt Ánh: Bé là ánh trăng dịu dàng, trong sáng, nhẹ nhàng

    Diệu Anh: Con gái khôn khéo của mẹ ơi, mọi người sẽ yêu mến con

    Quỳnh Anh: Người con gái thông minh, duyên dáng như đóa quỳnh

    Trâm Anh: Con thuộc dòng dõi quyền quý, cao sang trong xã hội.

    2. Đặt tên cho con gái theo vần B – C

    Bạch Cúc: Đóa cúc trắng bình dị.

    Bạch Loan: Con là cô gái xinh đẹp thanh cao.

    Bạch Tuyết: Con xinh đẹp như công chúa trong chuyện cổ tích.

    Băng Băng: Con thật kiêu sa.

    Bảo Châu: Viên ngọc quý của mẹ.

    Bảo Lan: Loài hoa quý.

    Bảo Quyên: Con chim quý.

    Bảo Tiên: Cô gái quý giá và xinh đẹp của mẹ.

    Bảo Uyên: Cô gái đài các, uyên bác và duyên dáng.

    Bích Chiêu: Con hội tụ nét đẹp như một viên ngọc bích.

    Bích Hà: Dòng sông màu ngọc bích.

    Bích Hợp: Người con gái dịu dàng.

    Bích Loan: Người con gái kiêu kỳ.

    Bích Ngọc: Con là viên ngọc quý.

    Bích Quyên: Con chim màu ngọc bích.

    Bích Thu: Mùa thu màu ngọc bích.

    Gia Bảo: Bé là “tài sản” quý giá nhất của bố mẹ, của gia đình

    Ngọc Bích: Bé là viên ngọc trong xanh, thuần khuyết

    Minh Châu: Bé là viên ngọc trai trong sáng, thanh bạch của bố mẹ

    Bảo Châu: Bé là viên ngọc trai quý giá

    Kim Chi: “Cành vàng lá ngọc” là câu nói để chỉ sự kiều diễm, quý phái.

    Cẩm Hiền: Người con gái hiền thục.

    Cẩm Ly: Con là món đồ quý giá.

    Cẩm Thúy: Con chim quý.

    Cát Cát: Con luôn gặp may mắn trên đường đời.

    Chi Lan: Nhành hoa lan.

    3. Đặt tên con gái theo vần D-H

    Tên con gái từ vần D -H

    Dã Lâm: Con như một khu rừng bí ẩn và quyến rũ.

    Dã Thảo: Hồn nhiên như cỏ.

    Đài Trang: Cô gái đài cát và đoan trang.

    Đan Thanh: Người con gái có nét thanh tao.

    Diễm Châu: Con là viên ngọc sáng.

    Diễm Hương: Mùi hương tràn đầy.

    Diễm Thảo: Loài cỏ đẹp.

    Diễm Trinh: Cô gái trinh trắng.

    Diệp Vy: Cây lá xinh đẹp.

    Diệu Hương: Hương thơm kỳ diệu.

    Diệu Nương: Cô gái tuyệt diệu.

    Đông Đào: Hoa đào nở trong mùa đông.

    Đông Trà: Hoa trà trong mùa đông.

    Duy Mỹ: Con là một cô gái yêu cái đẹp.

    Duyên Mỹ: Xinh đẹp và duyên dáng.

    Ngọc Diệp: là Lá ngọc, thể hiện sự xinh đẹp, duyên dáng, quý phái của cô con gái yêu

    Mỹ Duyên: Đẹp đẽ và duyên dáng là điều bạn đang mong chờ ở con gái yêu đó.

    Nguyệt Cát: Hạnh phúc cuộc đời con sẽ tròn đầy

    Trân Châu: Con là chuỗi ngọc trai quý của bố mẹ

    Quế Chi: Cành cây quế thơm và quý

    Trúc Chi: Cành trúc mảnh mai, duyên dáng

    Xuyến Chi: Hoa xuyến chi thanh mảnh, như cây trâm cài mái tóc xanh

    Thiên Di: Cánh chim trời đến từ phương Bắc

    Ngọc Diệp: Chiếc lá ngọc ngà và kiêu sa

    Nghi Dung: Dung nhan trang nhã và phúc hậu

    Linh Đan: Con nai con nhỏ xinh của mẹ ơi

    Thục Đoan: Hãy là cô gái hiền hòa đoan trang

    Đặt tên cho con gái theo vần G – K

    Gia Linh: Con là điều tốt lành của gia đình.

    Giang Thanh: Dòng sông màu xanh.

    Giao Linh: Điều tốt lành luôn đến với con.

    Hà My: Hàng lông mày đẹp.

    Hà Thanh: Dòng sông xanh.

    Hạ Vy: Mùa hạ dịu dàng.

    Hải Châu: Viên ngọc của biển.

    Hải My: Cô gái nhỏ mà mạnh mẽ.

    Hải Phương: Hướng về phía biển.

    Hải Thanh: Biển xanh.

    Thanh Hà: Dòng sông trong xanh, thuần khiết, êm đềm, đây là điều bố mẹ ngụ ý cuộc đời bé sẽ luôn hạnh phúc, bình lặng, may mắn.

    Hải Vy: Bông hoa giữa biển.

    Hàm Thơ: Cô gái đầy ý thơ.

    Hạnh Dung: Dung mạo hạnh phúc.

    Hạnh Phương: Đi về phía hạnh phúc.

    Hạnh Vi: Luôn làm điều hạnh phúc.

    Hiền Mai: Bông hoa mai hiền thục.

    Hiểu Vân: Đám mây buổi sáng.

    Họa Mi: Con sẽ hát hay như chú chim họa mi.

    Hoài Giang: Dòng sông thương nhớ.

    Hoài Trang: Món trang sức đẹp mãi.

    Hoàng Hà: Dòng sông vàng.

    Hoàng Miên: Cây thảo miên vàng.

    Hoàng Yến: Chim hoàng yến.

    Hồng Đào: Ngon như quả hồng đào.

    Hồng Hạnh: Cuộc đời con có phúc lớn và đức hạnh.

    Gia Hân: Cái tên của bé không chỉ nói lên sự hân hoan, vui vẻ mà còn may mắn, hạnh phúc suốt cả cuộc đời

    Bé như một bông hoa bằng ngọc, đẹp đẽ, sang trọng, quý phái

    Ngọc Hoa: Bé như một bông hoa bằng ngọc, đẹp đẽ, sang trọng, quý phái.

    Lan Hương: Nhẹ nhàng, dịu dàng, nữ tính, đáng yêu

    Quỳnh Hương: Giống như mùi hương thoảng của hoa quỳnh, cái tên có sự lãng mạn, thuần khiết, duyên dáng

    Hồng Khuê: Viên ngọc nhiều hồng phúc.

    Hồng Như: Nhiều hồng phúc.

    Hồng Phương: Đi về phía hạnh phúc.

    Hồng Thảo: Cỏ hạnh phúc.

    Huệ An: Ơn huệ từ trời cao, mẹ mong con bình an.

    Huệ Lâm: Rừng cây nhân ái.

    Huệ Phương: Về phía ân huệ.

    Hương Lâm: Khu rừng mùi hương.

    Hương Mai: Hương hoa mai.

    Hương Thủy: Dòng nước thơm.

    Hương Xuân: Hương thơm mùa xuân.

    Huyền Ngọc: Viên ngọc huyền diệu.

    Huyền Trâm: Trâm Anh, huyền diệu.

    Khả Ái: Con là cô gái xinh đẹp, khả ái.

    Vân Khánh: Cái tên xuất phát từ câu thành ngữ “Đám mây mang lại niềm vui”, Vân Khánh là cái tên báo hiệu điềm mừng đến với gia đình.

    Ngọc Khuê: Một loại ngọc trong sáng, thuần khiết

    Diễm Kiều: Vẻ đẹp kiều diễm, duyên dáng, nhẹ nhàng, đáng yêu.

    Thiên Kim: Xuất phát từ câu nói “Thiên Kim Tiểu Thư” tức là “cô con gái ngàn vàng”, bé yêu của bạn là tài sản quý giá nhất của cha mẹ đó.

    5. Đặt tên cho con gái theo vần L – T

    Ngọc Lan: Cành lan ngọc ngà của bố mẹ

    Mỹ Lệ: Cái tên gợi nên một vẻ đẹp tuyệt vời, kiêu sa đài các.

    Kim Liên: Với ý nghĩa là bông sen vàng, cái tên tượng trưng cho sự quý phái, thuần khiết.

    Gia Linh: Cái tên vừa gợi nên sự tinh anh, nhanh nhẹn và vui vẻ đáng yêu của bé đó.

    Thanh Mai: xuất phát từ điển tích “Thanh mai trúc mã”, đây là cái tên thể hiện một tình yêu đẹp đẽ, trong sáng và gắn bó, Thanh Mai cũng là biểu tượng của nữ giới.

    Tuệ Mẫn: Cái tên gợi nên ý nghĩa sắc sảo, thông minh, sáng suốt.

    Nguyệt Minh: Bé như một ánh trăng sáng, dịu dàng và đẹp đẽ.

    Diễm My: Cái tên thể hiện vẻ đẹp kiều diễm và có sức hấp dẫn vô cùng.

    Kim Ngân: Bé là “tài sản” lớn của bố mẹ.

    Bảo Ngọc: Bé là viên ngọc quý của bố mẹ.

    Khánh Ngọc: Vừa hàm chứa sự may mắn, lại cũng có sự quý giá

    Thu Nguyệt: Trăng mùa thu bao giờ cũng là ánh trăng sáng và tròn đầy nhất, một vẻ đẹp dịu dàng

    Hiền Nhi: Con luôn là đứa trẻ đáng yêu và tuyệt vời nhất của cha mẹ

    Hồng Nhung: Con như một bông hồng đỏ thắm, rực rỡ và kiêu sa

    Kim Oanh: Bé có giọng nói “oanh vàng”, có vẻ đẹp quý phái

    Diễm Phương: Một cái tên gợi nên sự đẹp đẽ, kiều diễm, lại trong sáng, tươi mát

    Bảo Quyên: Quyên có nghĩa là xinh đẹp, Bảo Quyên giúp gợi nên sự xinh đẹp quý phái, sang trọng

    Ngọc Quỳnh: Bé là viên ngọc quý giá của bố mẹ

    Ngọc Sương: Bé như một hạt sương nhỏ, trong sáng và đáng yêu

    Mỹ Tâm: Không chỉ xinh đẹp mà còn có một tấm lòng nhân ái bao la.

    Phương Thảo: “Cỏ thơm” đó đơn giản là cái tên tinh tế và đáng yêu

    Hiền Thục: Hiền lành, đảm đang, giỏi giang, duyên dáng là những điều nói lên từ cái tên này

    Bích Thủy: Dòng nước trong xanh, hiền hòa là hình tượng mà bố mẹ có thể dành cho bé

    Thủy Tiên: Một loài hoa đẹp

    Ngọc Trâm: Cây trâm bằng ngọc, một cái tên gắn đầy nữ tính

    Ðoan Trang: Cái tên thể hiện sự đẹp đẽ mà kín đáo, nhẹ nhàng, đầy nữ tính

    Thục Trinh: Cái tên thể hiện sự trong trắng, hiền lành

    Thanh Trúc: Cây trúc xanh, biểu tượng cho sự trong sáng, trẻ trung, đầy sức sống

    Khánh Chi: Những điều may mắn.

    Khánh Huyền: Điều may mắn và huyền diệu của bố mẹ.

    Khánh My: Cô gái nhỏ mang lại điều may mắn.

    Khánh Quỳnh: Đóa hoa mang lại niềm vui.

    Khánh Vi: Đóa tường vi tốt lành.

    Khúc Lan: Như một đóa hoa lan.

    Kiều Anh: Cô gái đẹp, kiều diễm.

    Kiều Hạnh: Cô gái đẹp và đức hạnh.

    Kiều Mai: Đóa hoa mai kiều diễm.

    Kiều Nguyệt: Vầng nguyệt kiêu sa.

    Kiều Trinh: Điều tốt lành xinh đẹp của bố mẹ.

    Kim Cương: Con là viên kim cương quý giá.

    Con hãy là búp sen trắng toả hương thơm ngát

    Bạch Liên: Hãy là búp sen trắng toả hương thơm ngát

    Ngọc Liên: Đoá sen bằng ngọc kiêu sang

    Mộc Miên: Loài hoa quý, thanh cao, như danh tiết của người con gái

    Hà Mi: Con có hàng lông mày đẹp như dòng sông uốn lượn

    Thương Nga: Người con gái như loài chim quý dịu dàng, nhân từ

    Đại Ngọc: Viên ngọc lớn quý giá

    Thu Nguyệt: Tỏa sáng như vầng trăng mùa thu

    Share this:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Tên Cho Con Trai Lót Chữ Bảo, Đặt Tên Hay Cho Bé
  • 400 Cái Tên Đẹp Cho Con
  • 20 Tên Hay Nhất Giúp Bố Mẹ Đặt Tên Con Trai Năm 2021 Hợp Phong Thủy – Biabop.com
  • Thiết Lập Cấu Hình Dòng Switch 2960, 2960X, 2960S Chuẩn Layer 2, Hướng Dẫn 7 Bước Thiết Lập Cấu Hình Switch Cisco 2960 Nói Chung
  • Cấu Hình Switch Port, Vlans, Trunk, Vtp, Intervlan Routing
  • Bhutan: Đặt Tên Hoàng Tử Theo Nghi Thức Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Đặt Tên Cho Con Trai Họ Hoàng 2021 Tân Sửu Đẹp Hay Và Ý Nghĩa Nhất • Adayne.vn
  • Đặt Tên Cho Con Trai Họ Đỗ Năm 2021 Tân Sửu: 99 Tên Hay Đẹp Ý Nghĩa Nhất • Adayne.vn
  • Trọn Bộ 40 Cái Tên Con Trai 2021 Họ Đặng Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất Bạn Nên Đặt
  • Đặt Tên Con Trai 2021 Họ Lương, 1035 Tên Đẹp Với Ý Nghĩa Dịu Dàng « Học Tiếng Nhật Online
  • Đặt Tên Con Trai Thật Dễ Dàng Với Top Tên Con 2021 Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất
  • GNO – Ngày 16-4 vừa qua, đất nước Bhutan ngập tràn niềm vui và hoan hỷ khi quốc vương làm lễ đặt tên con theo truyền thống Phật giáo.

    Theo đó, toàn thể người dân của “xứ sở hạnh phúc” đã vân tập về cung điện hoàng gia để cầu nguyện và chúc phúc cho hoàng tử vừa chào đời vào tháng 2 của năm nay.

    Hoàng tử được đặt tên là Jigme Namgyel Wangchuck

    Nghi lễ diễn ra trang trọng với sự tham dự của cựu vương Druk Gyalpo, chư Tăng Ni tại ngôi chùa linh thiêng Machen Lhakhang tọa lạc trong hoàng cung.

    Dịp này, toàn thể người tham dự đã dành phút tưởng niệm đến Lama Zhabdrung Ngawang Namgyel, người đã có công thống nhất Bhutan và làm nền tảng để đất nước này phát triển an bình, thịnh vượng cho đến ngày nay.

    Jigme Namgyel Wangchuck là tên mà hoàng tử vừa chào đời được đặt với ý nghĩa sẽ là một con người có đủ nghị lực, biết tu dưỡng thân tâm để kế nghiệp các bậc tiền nhân, vượt qua những thách thức, đưa đất nước Bhutan phát triển vững bền trên căn bản đạo đức Phật giáo.

    Đông đảo người dân Bhutan cầu nguyện cho hoàng tử nhân lễ đặt tên

    “Đây là dịp toàn thể các thành viên của hoàng gia nhiều thế hệ hiện diện đông đủ để cầu nguyện và chúc phúc cho người kế tục. Tôi tin tưởng rằng, hoàng nhi sẽ sống một cuộc sống nhân bản trong ý niệm tận lực phục vụ cho đất nước, luôn rèn luyện nhân cách và duy trì mạch sống Phật giáo tại đất nước mà các bậc tiền nhân đã dày công gầy dựng, truyền bá hàng trăm năm qua” – đương kiêm Quốc vương Bhutan Jigme Khesar Namgyel Wangchuck khẳng định.

    Hoàng tử – người kế vị xuất hiện trong niềm hoan hỷ của hoàng gia

    Mỗi người tham dự đều nhận được hình chân dung của hoàng tử

    “Tôi tin tưởng rằng, hoàng nhi sẽ sống một cuộc sống nhân bản trong ý niệm tận lực phục vụ cho đất nước,

    Không chỉ hoàng gia mà dân chúng, ai cũng hoan hỷ đón mừng hoàng tử cùng sự kiện trọng đại này

    Không chỉ hoàng gia mà dân chúng, ai cũng hoan hỷ đón mừng hoàng tử cùng sự kiện trọng đại này

    Bảo Thiên (theo DW

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Tên Bé Trai Hay Nhất Cho Bố Mẹ Lựa Chọn
  • 100+ Cách Đặt Tên Cho Con Trai Họ Bùi 2021 Ý Nghĩa Mang Đến Thành Công
  • Đặt Tên Cho Con Trai Họ Bùi 2021 Tân Sửu Hay Đẹp Hợp Tuổi Bố Mẹ • Adayne.vn
  • Tên Hay Ở Nhà Cho Bé Trai Bằng Tiếng Anh, Tiếng Nhật & Tiếng Hàn • Adayne.vn
  • Cách Đặt Tên Hay Cho Con Trai Họ Nguyễn 2021 Tân Sửu Đẹp Và Hợp Phong Thủy Nhất • Adayne.vn
  • 57 Vị Phật, Bồ Tát Theo Truyền Thống Phật Giáo Tây Tạng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đức Phật, Các Vị Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thập Điện Diêm Vương Và Các Ngày Lễ Trong Năm
  • Hệ Thống Các Vị Phật, Bồ Tát Và Thần, Quỷ Trong Phật Giáo
  • Các Vị Bồ Tát Trong Phật Giáo
  • Ý Nghĩa Của Hoa Bồ Công Anh Loài Hoa Mang Ước Mơ Đi Xa * Nekko Shop
  • Bồ Công Anh, Loài Hoa Tiên Tri Của Tình Yêu Và Tượng Trưng Cho Những Giấc Mơ
  • Mỗi một vị Phật, mỗi một vị Bồ Tát đều có hình tướng và hạnh nguyện riêng, nhưng các Ngài có chung một điều là đều có lòng thương chúng sinh vô cùng vô tận và làm lợi ích cho hết thảy chúng sinh.

    Đạo sư Liên Hoa Sanh hay Ngài được biết là Guru Rinpoche. Ngài là hoá thân của Đức Phật A Di Đà và Đức Quán Thế Âm Bồ tát. Ngài được coi là Đức Phật thứ hai sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Bậc Thánh vĩ đại đã hàng phục mọi ma quỷ và tà đạo để thiết lập Mật thừa ở Tây Tạng và Ngài nổi tiếng là đấng Thủ Hộ nguyên thủy Bất biến Quang.

    Ngài hứa rằng, cứ mỗi vị Phật ra đời sẽ có 1 tỷ tái sinh của Đức Liên Hoa Sanh để cứu độ chúng sinh khắp mọi nơi. Bất cứ ai có lòng sùng mộ đến Ngài và đọc bài kệ Bảy dòng, Ngài sẽ ngủ ở cửa nhà để bảo vệ và hướng dẫn họ tới giác ngộ.

    Bài kệ Bảy dòng – Bảy Dòng Kim Cương Liên Hoa

    Ngự trên một mặt trăng và mặt trời, Đức Quán Thế Âm là vị Bồ Tát quan trọng nhất trong các vị Bồ Tát.

    Danh hiệu Quan Thế Âm, nghĩa là quan sát, lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để độ cho họ thoát khổ.

    Bồ Tát Quán Thế Âm là hiện thân của Từ Bi, Ngài phát đại nguyện thực hiện sự từ bi đến cùng tận trong đời vị lai nếu chúng sinh vẫn còn còn đau khổ. Vì chỉ có Từ Bi mới giải trừ đau khổ, cũng như chỉ có Trí Tuệ mới diệt được u minh.

    Do đó, Bồ Tát Quan Thế Âm thiết lập tâm đại từ, đại bi mà thực hiện đại thệ nguyện độ sanh của Ngài.

    Ở giữa trái tim mình, vị Bồ Tát vĩ đại này cầm một cách trìu mến viên ngọc Như ý, biểu hiện Trí tuệ siêu việt rằng sự tử tế sẽ mang lại sự tử tế và hãy hiểu rằng làm hại người khác nghĩa là làm hại chính mình.

    Tất cả mọi thứ xảy ra trong đời con, dù là trực tiếp hay gián tiếp, đều là kết quả của chính những điều con mong muốn. Vì vậy hãy mong muốn ích lợi cho mọi người.

    Hãy đánh thức con người từ bi bên trong con. Hãy sống giống như là vị Bồ Tát của lòng từ bi và hãy chuyển hóa thế giới mà con đang sống thành thế giới đầy lòng từ bi.

    3. Đức Phật Tài Bảo Jambala:

    Đức Jambala hay Ngài còn được gọi là Dzambala. Ngài là vị Phật giúp tiêu trừ sự nghèo khó và tăng trưởng sự ổn định, giàu có.

    “Ngài Jambala cầm một trái cây (hay ngọc như ý tỏa sáng) trong tay phải để thấy rằng nếu chúng ta theo sự tu tập của ngài, chúng ta có thể gặt hái kết quả từ những nỗ lực của bản thân để đạt tới thành tựu và giác ngộ.”

    4. Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát:

    “Đức Văn Thù Sư Lợi, nếu chúng ta đọc đủ theo âm Hán thì sẽ là Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. Ngài là đại diện cho Trí Tuệ vì Đại Trí nghĩa là Trí Tuệ thấu triệt chân lý một cách tường tận và tuyệt đối.”

    Đức Văn Thù màu vàng nhảy múa tay phải cầm kiếm để tiêu diệt vô minh, tay trái cầm Kinh Bát Nhã biểu tượng cho trí tuệ cao nhất của nhà Phật.

    Hai chân Ngài đang nhảy múa biểu tượng cho việc không thể tách rời giữa trí tuệ và phương tiện. Đức Văn Thù ban cho trí tuệ hiểu biết bản chất của thế giới lẫn trí tuệ hiểu biết mọi tính chất tương đối của các sự vật hiện tượng.

    (Đọc: Ôm A ra pa tra na đê)

    Bổn Tôn Đức Tara Trắng hay Ngài còn được biết đến là Bổn Tôn Bạch Độ Mẫu. Ngài là biểu tượng cho lòng từ bi chấp nhận. Màu trắng của Ngài tượng trưng cho sự tịnh hoá, bình an và trí tuệ. Ngài ban cho sự bảo vệ, sự tịnh hoá và hạnh phúc gia đình.

    Ngài có thể giúp chúng sinh thành tựu tất cả những gì họ cần và cũng giúp họ ngăn ngừa các chướng ngại, đặc biệt là chướng ngại cho sự trường thọ của họ. Đó là lý do vì sao thực hành thần chú của Đức Tara Trắng rất phổ biến.

    Thần chú của Đức Tara Trắng:

    Om Tare Tuttare Ture Mama Ayuh Punya Jñana Pustim Kuru Svaha

    (Đọc: Ốm Tha Rế Thu Tha Rế Thu Rê Ma Ma Ai Dà Pun Dà Nha Nà Put Tìm Khu Rù Sô Hà)

    6. Đức Quán Thế Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay

    Đức Quán Thế Âm nghìn mắt nghìn tay, vị Phật với tình yêu thương không bờ bến, mở rộng cánh tay dịu dàng của Người ra mọi hướng, và dùng mọi phương tiện thiện xảo để đánh thức lòng từ bi chân thật trong trái tim mỗi chúng sinh.

    Hãy nhận ra lòng từ bi vốn luôn sẵn có trong con và một cách tự nhiên sức mạnh của một nghìn cánh tay, một nghìn con mắt sẽ xuất hiện nơi con. Con sẽ không bao giờ đơn độc trong thế giới của lòng từ bi, vì có rất nhiều người khác cũng đang trên con đường này.

    Hãy đánh thức những vị Bồ Tát nhiệt thành đang hiện diện bên trong con.

    Hãy đọc tụng Om Mani Padme Hum, và quán tưởng mình chính là vị Phật của lòng từ bi.

    Thần Chú của Ngài Quán Thế Âm – Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn:

    ( Đọc: Ôm ma ni pê mê hung hoặc Ôm ma ni pad mê hum)

    Đức Kim Cương Thủ là vị Phật đại diện cho sức mạnh của tất cả chư Phật. Trong Đại Thừa, Ngài được gọi là Đại Thế Chí Bồ Tát.

    Trong Mật thừa, Ngài hiện thân phẫn nộ nhảy múa trong quầng lửa huy hoàng, tay phải cầm Chày kim cương phát ra sức mạnh sấm sét tiêu diệt mọi kẻ xấu hay điều xấu. Tay trái Ngài cầm sợi dây thòng lọng để trói bắt tất cả những kẻ thù của Pháp. Chân Ngài giẫm đạp lên những thân người đầu voi biểu tượng cho việc Ngài hàng phục được cả Chúa tể của Chư Thiên.

    Trong quá khứ, chúa tể của chư thiên là Mahadeva ngàn tay có sức mạnh nghiêng trời lệch đất, nghĩ rằng mình mạnh nhất toàn bộ vũ trụ, tỏ ra kiêu ngạo coi thường Ngài. Hắn dẫn tất cả thiên binh đến thách thức sức mạnh của Đức Kim Cương Thủ.

    Sau khi khuyên giải mà Mahadeva không nghe, Ngài đã dùng Chày kim cương tiêu diệt hắn chỉ trong một chớp mắt. Sau khi toàn bộ quân đoàn của Mahadeva đã hàng phục Đức Kim Cương Thủ, Ngài dùng thần lực cứu sống Mahadeva trở lại. Nhưng Mahadeva vẫn không hối cải, tiếp tục xông vào định đánh nhau với Ngài.

    Đức Kim Cương Thủ một lần nữa trỏ ngón tay, cướp đi mạng sống của hắn. Mahadeva ngã lăn ra đất, không còn dấu hiệu của sự sống. Với lòng từ bi, Ngài cứu sống Mahadeva một lần nữa. Lần này Mahadeva quỳ xuống dưới chân Ngài, nhận được sự ban phước của Ngài và đạt giác ngộ ngay lập tức.

    Hãy cầu nguyện đến Đức Kim Cương Thủ để vượt qua mọi chướng ngại và ma quỷ bên trong lẫn bên ngoài của bạn.

    Ngài Tara Xanh hay còn được gọi là Đức Lục Độ Phật Mẫu.

    Được sinh ra từ giọt nước mắt bi mẫn của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, Ngài Tara xanh tượng trưng cho lòng từ bi tích cực. Màu xanh của ngài biểu tượng cho thành tựu các hoạt động và phát triển các phẩm chất bên ngoài, bên trong và bí mật.

    Ngài ban cho sự thành công trong các hoạt động và sự kết hợp giữa trí tuệ và hành động. Hãy cầu nguyện và trì tụng thần chú để nhận được sự ban phước từ Ngài Tara Xanh.

    Thần chú của Ngài Tara Xanh:

    Om tare tuttare ture soha

    (Đọc: Ôm tà rê tút tà rê tu rê sô hà)

    Đức Phật Di Lặc là vị Phật tương lai. Ngài sẽ thành Phật ở cõi người sau Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Ngài là vị Phật của tình thương.

    Trong vô số kiếp trước Ngài đã phát bồ đề tâm trước đức Đại Lực Như lai và rất nhiều vị Phật khác. Kể từ đó, Ngài đã dẫn vô số chúng sinh đến giác ngộ bằng giáo pháp của cả 3 thừa: nguyên thuỷ, đại thừa và mật thừa.

    Khi thực hành như 1 vị Bồ tát, Ngài không chỉ thường xuyên thiền định về tình thương rộng lớn mà Ngài còn dạy nó cho nhiều người khác.

    Ngài thường ngồi ở cổng của kinh thành và suy nghĩ sâu sắc về tình thương. Tâm yêu thương của Ngài mạnh tới mức những người đi gần Ngài, chạm vào chân của Ngài liền có được sự chứng ngộ về tình yêu thương vô điều kiện.

    Đức Phật Dược Sư cầm trên tay phải một nhành Arura, mà từ đó mọi loại thuốc ở Tây Tạng được cấu thành. Tay trái Ngài cầm chiếc bát chứa ba loại nước cam lồ chữa bệnh và phục hồi sự sống, chống lão hóa và khai sáng tâm trí.

    Mục đích của Ngài là chữa lành về tâm linh, còn thân thể chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian hữu hạn. Khi nhận ra thế giới này chỉ tồn tại trong ảo giác nhầm lẫn, con sẽ nhận ra tình trạng vật lý cũng là một sản phẩm của tâm con mà thôi.

    Thân thể con chỉ là một phần của tâm. Hãy đánh thức người chữa lành linh thánh bên trong. Nhận ra ốm đau chỉ có thể làm thân thể này không khỏe, nhưng thân này không bao giờ thực sự là con.

    Thần chú của Đức Phật Dược Sư

    Tayata Om Bekandze Bekandze Maha Bekandze Radza Samudgate Soha

    11. Đức Diệu Âm Thiên Nữ – Saraswati

    Diệu Âm Thiên Nữ là vị nữ Phật của nghệ thuật Âm thanh, Biện tài và Trí tuệ. Ngài là phối ngẫu của Đức Văn Thù Bồ Tát.

    Da Ngài trắng như tuyết, mặt đẹp như ngọc, tóc xanh mượt mà, mặc thiên y không một vết may.

    Đang giảng kinh gì mà lỡ quên mất liền lập tức nhớ ra. Đang nói Thần chú gì mà không nhớ thì Thần chú vẫn lưu loát tuôn ra. Nếu như bạn thường xuyên cầu nguyện đến Ngài thì âm thanh lời nói của bạn sẽ trở nên đẹp đẽ, dễ nghe, khiến ai cũng muốn đi theo.

    Ngài cũng là một vị nữ Phật của kỹ nghệ nên bất kỳ ai cần sự khéo léo trong công việc (vẽ tranh, sửa máy tính, chữa bệnh, chơi đàn, nấu nướng…) cũng nên cầu nguyện đến Ngài.

    Om Sarasiddhi Hring Hring

    (Đọc: Ôm sa rà si đi hi ring ring)

    12. Đức Mahakala Như Ý – Cintamani Mahakala

    Đức Mahakala trắng hay còn gọi là Đức Mahakala Như Ý – Cintamani Mahakala, tay Ngài cầm một viên ngọc ban cho con thành tựu mọi ước nguyện. Ngài hiện ra với một nụ cười đầy uy lực bảo vệ sự giàu có và thịnh vượng của những chúng sinh cần đến Ngài.

    13. Đức Kurukulle – Tác Minh Phật Mẫu

    Ngài Kurukulle – Tác Minh Phật Mẫu là một hóa thân của Đức Tara đỏ.

    Ngài có thân hình màu đỏ rực, một mặt, 4 tay. Hai tay Ngài cầm cung tên do Hoa Ưu Bát La Hồng tạo thành: một tay cầm dây móc câu, một tay cầm trượng móc. Quanh mình Ngài quấn 50 chiếc đầu lâu trong tư thế nhảy múa, một chân giẫm đạp lên ma nữ ngoại đạo. Mặt Ngài biểu hiện nửa giận, nửa vui.

    Những ai nương tựa vào Ngài sẽ tăng trưởng tâm vô úy, được Ngài hộ trì không còn e sợ luân hồi sinh tử. Ngài giúp bạt trừ chướng ngại, thu hút mọi ước nguyện đến với người mong cầu, đặc biệt là cải thiện mọi mối quan hệ xung quanh trở nên hòa nhã và yêu thương hơn.

    Thần Chú của Đức Tác Minh Phật Mẫu:

    (Đọc: Ôm Ku rum ku le ri sô hà)

    Ngài Guru Dragpo hay còn gọi là Guru Bọ Cạp là một hóa thân của đức Liên Hoa Sanh.

    Một lần, đức Liên Hoa Sanh đang giảng ở tu viện Samye thì Pehar – là một vị thần chiến tranh, hóa thành một tu sĩ trẻ và hỏi đức Liên Hoa Sanh: Ngài sợ gì nhất? Đức Liên Hoa Sanh trả lời bằng tiếng Tây Tạng Ngài sợ nhất là: “sdig pa” – nghĩa là những nghiệp xấu. Pehar nghe nhầm rằng đức Liên Hoa Sanh nói về con bọ cạp vì trong tiếng Tây Tạng thì bọ cạp cũng gọi là “sdig pa”.

    Ngày hôm sau Pehar hóa thành bọ cạp khổng lồ đến định dọa nạt Đức Liên Hoa Sanh, Ngài liền hóa thành một bậc thầy phẫn nộ – Guru Dragpo, một tay cầm chày kim cương, tay kia bắt bọ cạp và dọa đập chết nó . Pehar bèn hàng phục trước Đức Liên Hoa Sanh và thề sẽ bảo vệ Phật Pháp.

    15. Đức Phật Vô Lượng Thọ – Amitayus

    Đức Vô Lượng Thọ là một hóa thân của Đức Phật A Di Đà.

    Ngài có thân hình màu đỏ, đang ngồi trong tư thế thiền định, hai tay cầm chiếc bình chứa nước cam lồ bất tử. Ngài ban cho đời sống có tuổi thọ dài lâu, không đau buồn, bệnh tật và dẫn những người tin tưởng Ngài đến cõi Tây Phương Cực Lạc.

    Những người theo Phật giáo Tây Tạng thường cầu nguyện đến Ngài khi mắc những căn bệnh hiểm nghèo như ung thư, HIV… bởi sự ban phước không thể nghĩ bàn của Ngài sẽ giúp họ vượt qua về mặt thể chất cũng như tinh thần.

    Bài chú của Đức Phật Vô Lượng Thọ:

    Ganesha là vị hộ Phật của Văn chương, Trí tuệ và đạp bằng mọi chướng ngại. Bụng bự của Ngài Ganesha biểu tượng cho sự thịnh vượng nhưng cũng biểu trưng cho sự rộng lượng và dung chứa vô tận.

    Đầu voi to lớn, tượng trưng cho trí tuệ thông thái, tai to nghe nhiều hiểu rộng. Cái vòi tượng trưng cho những khả năng đặc biệt không ai có được.

    Chiếc vòi có thể khai thông mọi bế tắc, quật ngã cây cối, giúp vượt qua rừng rậm, nhưng cũng lại rất tế nhị, thậm chí nhặt nổi một cây kim! Ngài giẫm lên một con chuột thể hiện cho tốc độ và sự khéo léo. Một ngà bị gãy của Ngài thể hiện cho sự khiêm nhường.

    Hãy cầu nguyện đến đức Ganesha để phát triển tài năng văn chương, trí tuệ, sự khéo léo và sức mạnh vượt qua mọi chướng ngại.

    Thần chú của Ngài Ganesha

    Aum Shreem Hreem Kleem Klowm Gum Ganapathaye Vara Varadha Sarvajanmaye Vasamaanya Swaha (3 lần)

    17. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni:

    Đội chiếc vương miện chế tác từ những viên ngọc của sự tỉnh thức hoàn toàn, Đức Phật – hay Phật tính ở trong trái tim của mọi chúng sinh và biểu hiện ra ngoài thành một vũ trụ sống động.

    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người khai sáng ra đạo Phật, Ngài được thờ ngay giữa chính điện, ngự trên đài sen với tư thế ngồi kiết già, hoặc ngồi kiết già với tay phải cầm hoa sen đưa lên.

    Hãy để tâm con thoát ra khỏi cái bẫy của việc tin rằng có một cái tôi. Khi con nhận ra rằng Đức Phật chỉ đơn giản là bản tính tự nhiên của con thì hạt giống của sự bất tử sẽ tự chín muồi. Mục đích cuối cùng của Đức Phật là đánh thức tâm giác ngộ sẵn có trong mỗi chúng sinh.

    Hãy quán chiếu về Đức Phật linh thánh bên trong, giải phóng con khỏi niềm tin rằng thế giới vật chất và tinh thần là có thật. Khi ấy không còn có gì hiện ra với con ngoài vị Phật tối thượng luôn ngự sẵn bấy lâu nay.

    Nhạc niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật:

    Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni:

    18. Dakini Đầu Sư Tử Simha Mukha:

    Dakini Đầu Sư tử Simha Mukha là một Dakini phẫn nộ và là hoá thân phẫn nộ của nữ Đạo sư Guhiajana, thầy của Đức Liên Hoa Sanh.

    Ngài giúp hàng phục mọi ảnh hưởng tiêu cực và các cuộc tấn công của các lực lượng ma quỷ. Ngài cũng là hoá thân của Đức Vajravarahi (Kim Cương Heo Nái).

    Dưới sự bảo vệ khéo léo và mạnh mẽ của Ngài, khi bạn bị tấn công, hãy cầu nguyện đến Ngài, mọi sự tấn công vào bạn sẽ bị phản ngược lại vào nguồn tấn công (gậy ông đập lưng ông), giúp bạn loại bỏ mọi chướng ngại để nhanh chóng đạt được giác ngộ.

    19. Đức Mã Đầu Minh Vương – Hayagriva:

    Đức Mã Đầu Minh Vương – Hayagriva là hóa thân phẫn nộ của Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngài có 3 đầu, 6 tay, 4 chân và trên đỉnh đầu Ngài là một chiếc đầu ngựa đang hí vang.

    Tất cả mọi thế lực tiêu cực chỉ cần nghe tiếng hí oai hùng của Ngài sẽ run rẩy và hàng phục. Nếu cầu nguyện đến Ngài và được Ngài ban phước, bạn sẽ điều phục được người ác, dứt trừ mọi bệnh tật, đánh lui được đối thủ và tranh luận được thắng lợi.

    20. Đức Kim Cương Tát Tỏa – Vajrasattava:

    Đức Kim Cương Tát Đỏa là một vị Phật có lời nguyện sẽ tịnh hóa tất cả tội lỗi của chúng sinh.

    Khi còn là một vị Bồ Tát, Ngài nguyện rằng: bất kỳ ai đọc câu Thần chú Trăm âm của Ngài thì Ngài sẽ nhận lãnh nghiệp xấu của người đó và chuyển nghiệp tốt của Ngài cho họ. Bất kỳ ai đọc Thần chú của Ngài mà không tiêu trừ bớt nghiệp xấu thì Ngài nguyện không thành Phật.

    Các hành giả Mật thừa nên nương tựa vào sức mạnh tịnh hóa từ Thần chú Trăm âm của Đức Kim Cương Tát Đỏa để nhanh chóng vượt qua mọi lỗi lầm bên ngoài lẫn bên trong và đạt tới giác ngộ.

    Thần chú của Đức Kim Cương Tát Đỏa:

    Om benzar sato sa ma ya ma nu pa la ya

    Benzar sato te no pa

    Tishtha dri dho me bha wa

    Su to ka yo me bha wa

    Su po ka yo me bha wa

    Anu rakto me bha wa

    Sarva siddhi me pra yatsa

    Sarva karma su tsa me

    Tsittam shre yam ku ru hung

    Ha ha ha ha ho bha ga wan Sarva ta tha ga ta benzra ma me muntsa benzri bha

    Ma ha sa ma ya sato

    Hiểu biết sai lầm khi tịnh hóa thông qua đọc thần chú Kim Cang Tát Đỏa

    Đức Phật Bất Động A Súc Bệ là một trong Ngũ Trí Phật và là vị Phật đứng đầu của Kim Cương Bộ ở phương Đông.

    Ngài là biểu tượng của Đại Viên Cảnh Trí – Trí tuệ phản chiếu tất cả mọi sự vật hiện tượng và biết rõ đâu là thật, đâu là giả. Thân Ngài có màu xanh dương thẫm, tay kết ấn thiền định và ôm lấy phối ngẫu màu trắng biểu tượng cho sự kết hợp không thể chia tách của Phương tiện và Trí tuệ.

    22. Đức Kim Cương Heo Nái – Vajravarahi:

    Đức Kim Cương Heo Nái – VajraVarahi

    Ngài là hoá thân phẫn nộ của Đức Kim Cương Du Già Thánh Nữ, chúa tể của mọi nữ hành giả Mật thừa. Trên đầu của Ngài là một chiếc đầu lợn biểu tượng cho việc Ngài chặt đầu của vô minh làm trang sức.

    Trong thời của Đức Phật, có một con quỷ tên là Matrankagu gieo rắc sự kinh hoàng và khủng khiếp khắp 8 thế giới. Ngay cả những chúa quỷ hùng mạnh nhất cũng bị nó hàng phục và nó đe dọa sẽ phá huỷ toàn bộ cõi trời, lật đổ núi Tu Di nơi 33 cõi trời tọa lạc.

    Chư thiên sợ hãi cầu cứu Đức Phật và Đức Phật quyết định để Đức Quán Thế Âm và Đức Kim Cương Du già Thánh Nữ đi hàng phục con quỷ.

    Hai Ngài bay đến vương quốc của quỷ Matrankagu, Đức Quán Thế Âm liền hoá thành Mã Đầu Minh Vương 3 đầu 6 tay, có cánh sau lưng, còn Đức Kim Cương Du Già Thánh Nữ liền hoá thành Kim Cương Heo Nái ôm lấy Đức Mã Đầu Minh Vương trong vũ điệu hoan lạc.

    Đức Mã Đầu Minh Vương hí lên 3 tiếng hào hùng, đưa sợ hãi vào trong tim của Chúa quỷ Matrankagu, còn Đức Kim Cương Heo Nái gầm lên 5 tiếng khiến vợ của Chúa quỷ run rẩy trong hoảng loạn.

    Cả Chúa quỷ lẫn vợ đều đến hàng phục dưới chân hai Ngài nhưng hai Ngài không giết chúng mà quy y và giảng pháp cho chúa quỷ. Sau khi tu hành giác ngộ, chúa quỷ Matrankagu trở thành vị Hộ pháp tối thắng của nhà Phật thường được gọi là Mahakala đen.

    23. Đức Đại Hắc Kim Cương Sáu Tay – Mahakala Sáu Tay:

    Huy hoàng đồng thời cũng đáng sợ! Đức Đại Hắc Kim Cương, vị Hộ Pháp bảo vệ sự phát triển tâm linh, đứng ngay giữa một vầng lửa cháy dữ dội, không có một kẻ thù nào của tâm Giác ngộ, không có một sự điên loạn hoặc tiêu cực nào có thể chịu đựng được lâu dài sự hiện diện của vị Hộ Pháp phẫn nộ này. Sáu tay của Ngài biểu tượng cho sáu ba la mật, mỗi tay trong sáu tay của Ngài là biểu tượng cho việc tăng trưởng sự hào phóng, đạo đức, nhẫn nhục, kiên định, thiền định và trí tuệ. Chiếc dao kim cương sắc bén được cầm vững chắc trên một tay cắt xuyên qua và vượt qua mọi khuôn mẫu tiêu cực của tham – sân – si.

    Nếu con cầu nguyện đến sự bảo vệ của Ngài thì Đức Đại hắc kim cương, Người hoàn toàn không có một chút ngăn ngại nào, luôn dõi theo để đảm bảo rằng con đang ở trên con đường linh thánh.

    Đức Mahakala Sáu tay sẽ luôn bảo vệ và chăm sóc cho con.

    Thần chú của Ngài Đại Hắc Kim Cương Mahakala:

    Om Shri Mahakala Hum Phat

    (Đọc: Ôm si ma ha ka la hum mê)

    24. Đức Hô Kim Cương – Hevajra:

    Đức Hô Kim Cương hay còn gọi là Đức Kim Cương Hỷ Lạc, Ngài có thân thể màu xanh da trời, 8 mặt, 16 tay và 4 chân. Mỗi mặt Ngài có 3 mắt và 4 chiếc răng nanh. Mỗi cánh tay cầm một chiếc sọ máu đang trong tư thế nhảy múa dữ tợn và hoan lạc.

    25. Đức Liên Hoa Thủ Bồ Tát – Padmapani:

    Ngài là biểu trưng của tình thương, sự thanh khiết và khả năng sáng tạo của trí tuệ.

    26. Đức Trừ Chướng Cái Bồ Tát:

    27. Đức Phật Kim Cương Trì – Vajradhara:

    28. Đức Bất Động Minh Vương:

    Là một trong năm Đại Minh Vương của Mật giáo – Bất Động Minh Vương là hoá thân phẫn nộ của Đức Đại Nhật Như Lai để hàng phục những chúng sinh quá cứng đầu và hộ trì Tam Bảo trong những đời vị lai. Sức mạnh và uy lực của Ngài là không thể nghĩ bàn.

    Tay phải Ngài cầm thanh kiếm sắc bén chém đứt tham – sân – si là ba thứ độc hại đối với trí huệ. Tay trái nắm sợi dây có thể trói buộc tất cả những kẻ ỷ mạnh làm càn. Ngọn lửa lớn cháy mãnh liệt sau lưng Ngài có thể thiêu đốt hết thảy mọi phiền não.

    Do đó, tất cả các hình tướng phẫn nộ nhìn có vẻ đáng sợ nhưng đều biểu hiện cho lòng đại bi của Ngài.

    Thần chú của Ngài Bất Động Minh Vương:

    Namo Samanto Vajra Nai Ham

    (Đọc: Nam mô sam an tô gua ra nai ham)

    Là một trong Ngũ Trí Phật và là vị Phật đứng đầu của Liên Hoa Bộ ở phương Tây.

    Ngài là biểu tượng của Diệu Quan Sát Trí – Trí tuệ thấy rõ mọi tính chất khác biệt của các sự vật hiện tượng. Thân Ngài màu đỏ, hai tay kết ấn thiền định. Ngài biểu trưng cho lòng từ bi vô lượng.

    Ngài cũng là biểu tượng của sự tịnh hoá tính tham lam, chuyển hoá thành Diệu Quan Sát Trí.

    Thần chú của Đức Phật A Di Đà:

    (Đọc: Ôm ma ni đê wa ri)

    Thần chú Đức Địa Tạng Bồ Tát:

    Om Ha Ha Ha Win Sam Mo Ti So Ha

    ( Đọc: Ôm ha ha ha quin sam mô ti sô hà)

    Quán Tưởng Thân Tướng Đức Đại Thế Chí Bồ Tát:

    34. Đức Hư Không Tạng Bồ Tát:

    Đức Hư Không Tạng Bồ Tát là một trong bát Đại Bồ tát của Phật giáo.

    Ngài là biểu tượng cho trí tuệ, công đức và tài phú. Bởi vì Ngài có kho tàng mênh mông như hư không vô biên, có thể thỏa mãn hết thảy nhu cầu, khiến cho chúng sinh đạt được lợi ích vô cùng, chính vì thế Ngài có tên như vậy.

    Ngài đội mũ Ngũ Phật, tay phải cầm kiếm lửa, tay trái cầm một cành hoa sen, trên đài hoa là viên ngọc như ý. Ngọc và kiếm biểu tượng cho công đức và trí tuệ.

    Thần chú của Đức Hư Không Tạng Bồ Tát:

    Om Vajra Ratna Om Trah Svaha

    Ý nghĩa Chú của Đức Hư Không Tạng Bồ tát

    35. Đức Thắng Lạc Luân Kim Cương – Chakrasamvara:

    Bánh xe đại dục lạc là một biểu tượng của tâm giác ngộ – khi ham muốn và giận dữ được chuyển hóa thành lòng từ bi đại lạc.

    Ở trung tâm, Đức Phật Phối Ngẫu thiêng liêng hoá hiện thành tinh thần, thân thể và tâm con, và ở bên ngoài chính là thế giới vật chất này! Nam và nữ, lòng từ bi và trí tuệ, phương tiện thiện xảo và tính không, hợp nhất và tạo nên sức sáng tạo mãnh liệt vượt khỏi mọi hy vọng, ham muốn, so sánh và sợ hãi. Không có sự tách rời giữa con và những thứ khác.

    Hãy chuyển hóa những phản ứng dè dặt của con thành sự hòa nhập triệt để vào cuộc sống. Hãy nhìn vào bên trong, con chính là không gian của đại lạc biểu hiện qua sự hài hoà của vũ trụ này!

    Đức Phổ Hiền Bồ tát – Phổ là biến khắp, Hiền là tốt đẹp. Phổ Hiền là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương Pháp giới, tùy mong cầu của chúng sinh mà hiện thân hóa độ.

    10 Hạnh Nguyện của Đức Phổ Hiền Bồ Tát:

    37. Đức Kim Cương Phổ Ba – Vajra Kilaya:

    Đức Kim Cương Phổ Ba (Vajra Kilaya) thân màu lam đen có ba đầu sáu tay.

    Đầu đội mũ năm đầu lâu; trên cổ đeo ba chuỗi đầu người với rắn trang sức; khoác áo da voi và da người; mặc quần da cọp. Sau lưng có hai cánh sắc bén như cây kiếm.

    38. Đức Liên Hoa Thủ Bồ Tát – Padmapani:

    39. Đức Kim Cương Thời Luân:

    Đức Kim Cương Thời Luân là đại biểu cho tất cả chư Phật, Bồ Tát ở mười phương cùng với tổng thể của Phật Giáo Hiển Mật, là chân lý hiển hiện sự tuyệt diệu rất hoàn mỹ.

    40. Đức Khổng Tước Minh Vương:

    Đức Khổng Tước Minh Vương là một trong những hoá thân của Đức Phật A Di Đà.

    Ngài có thân màu trắng, mặc áo lụa trắng mỏng, đầu đội mão báu, cổ đeo dây ngọc, hoa tai, cánh tay đeo vòng xuyến, các thứ trang nghiêm, cưỡi trên Khổng Tước Vương màu vàng ròng, ngồi kiết già trên hoa sen trắng, trụ tướng Từ bi có bốn cánh tay:

    – Bên phải: tay thứ nhất cầm hoa sen tượng trưng cho kính ái, tay thứ hai cầm Câu Duyên Quả tượng trưng cho điều phục.

    Còn đuôi công lại hay phủi trừ vô lượng tai ách, tăng phước, đạt được các điều tốt lành và thành tựu mọi ước nguyện của chúng sinh.

    41. Chaturmukha Mahakala – Đức Mahakala Bốn mặt:

    Tay phải Ngài cầm một thanh kiếm của Đức Văn Thù, tay trái Ngài cầm một chiếc đinh ba trên đó có sọ người biểu tượng cho việc chiến thắng sinh tử. Ngài có thể ban cho trường thọ, giàu có, quyền lực và đặc biệt là trí tuệ Giác ngộ.

    42. Đức Phổ Hiền Như Lai Phối Ngẫu:

    Hình ảnh Đức Phổ Hiền Như Lai Phối Ngẫu biểu hiện sự hòa nhập tuyệt đối của các cặp đối lập: tính không và hình tướng, tâm và vật chất, nam và nữ.

    Hãy quán chiếu về sự hợp nhất linh thánh của vị Phật nam và vị Phật nữ hóa hiện thành thế giới vật chất này, và bản chất của những gì hiện hữu – sẽ được hiển lộ.

    Hãy chữa lành khỏi những ảo tưởng của sự chia tách và phân biệt – hãy quán chiếu về hình ảnh của sự kết nối linh thánh này và biết rằng con chưa bao giờ cô độc.

    43. Cam Lồ Quân Trà Lợi Minh Vương – Amrita Kundali

    Là một trong năm vị Đại Minh Vương của Mật Giáo – hóa thân phẫn nộ của Đức Phật Bảo Sanh, Cam Lồ Quân Trà Lợi dịch âm từ tiếng Phạn – Amrita Kundali, nghĩa là cái bình, chứa đầy nước Cam Lồ tẩy rửa phiền não vô minh của chúng sinh.

    Ngài thị hiện tướng phẫn nộ, hình mạo lại tựa thân Dạ Xoa, nên cũng gọi là Quân Trà Lợi Dạ Xoa Minh Vương.

    44. Đức Quan Âm Trắng Ôm Phối Ngẫu:

    Bao quanh bởi những đoá sen đang nở rộ, mỗi bông hoa đều tượng trưng cho sự thanh tịnh tự nhiên của tâm, những phẩm tính của Đức Quan Âm Trắng thực chất không thể tách rời với phẩm tính của chính con.

    Tình yêu thương vô điều kiện của Ngài là biểu hiện của lòng từ bi chân thật, điều sẽ tự nhiên xuất hiện khi ta nhận ra con và vạn vật vốn là một, giống như các bộ phận trên cùng một cơ thể.

    Thông điệp của Ngài là: Hãy tự giải phóng khỏi những suy nghĩ chỉ phục vụ cho riêng mình, hãy dũng cảm, vị tha và sáng suốt hành động vì lợi lạc của tất cả chúng sinh, đây là sự đảm bảo chắc chắn nhất cho một đời sống lâu dài và hạnh phúc.

    45. Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu:

    Phật Đảnh Tôn Thắng Phật Mẫu là vị Phật của sự trường thọ.

    Tay Ngài nâng Đức Phật A Di Đà làm Thượng Sư, biểu thị hoài ái, tay cầm mũi tên, đại biểu sự khơi dậy lòng từ bi của chúng sinh. Ấn Thí Vô Úy đại diện cho việc dẫn chúng sanh ra khỏi tất cả sự sợ hãi, ấn Thí Nguyện biểu thị sự đáp ứng đầy đủ tất cả tâm nguyện của chúng sanh, tay cầm cây cung biểu thị cho sự chiến thắng tam giới.

    Trên bàn tay kiết ấn Định nâng bình cam lồ giúp chúng sinh vô bệnh tật, sống lâu. Chày kim cang đôi hình chữ thập biểu thị hàng ma, trừ tai chướng để sự nghiệp thành tựu, dây trói đại biểu cho việc hàng phục tất cả chúng sinh khó điều phục.

    46. Hàng Tam Thế Minh Vương:

    Hàng Tam Thế Minh Vương là biểu tượng cho sự hàng phục ba độc tham – sân – si và hàng phục ba cõi: Dục Giới, Sắc Giới, Vô Sắc Giới.

    Thân Ngài màu xanh, có ba mặt, tám cánh tay hoặc bốn mặt tám cánh tay. Ngồi trên hoa sen, lửa rừng rực. Hai tay thứ nhất kết Hàng Tam Thế Ấn.

    Bên trái: tay thứ hai cầm cây cung, tay thứ ba cầm sợi dây, tay thứ tư cầm cây Tam Xoa Kích. Bên phải: tay thứ hai cầm mũi tên, tay thứ ba cầm cây kiếm, tay thứ tư cầm cái chuông Ngũ Cổ.

    Phàm các quyến thuộc của các ma quỷ có ý quấy rối người tu hành, khi nghe được Chân Ngôn của Hàng Tam Thế Minh Vương thì chẳng những không có cách gây chướng, thậm chí còn trở thành tôi tớ theo hầu người tu hành.

    47. Đức Phật Bất Không Thành Tựu:

    Là một trong Ngũ Trí Phật và là vị Phật đứng đầu của Nghiệp Bộ ở phương Bắc. Ngài là biểu tượng của Thành Sở Tác Trí – Trí tuệ thành tựu mọi loại mục tiêu.

    Là một trong Ngũ Trí Phật và là vị Phật đứng đầu của Bảo Sanh Bộ ở phương Nam. Ngài là biểu tượng của Bình Đẳng Tánh trí – Trí tuệ thấy rõ sự bình đẳng của tất cả các Pháp.

    Thân Ngài sắc vàng, tay phải trong ấn thí nguyện, tay trái trong ấn thiền định. Ngài biểu trưng cho công hạnh bố thí siêu việt, độ sinh, tăng ích, và ban cho tất cả những gì quý giá nhất.

    Ngài cũng là biểu tượng của sự tịnh hoá tính kiêu ngạo, chuyển hoá thành Bình Đẳng Tánh Trí.

    49. Kim Cương Dạ Xoa Minh Vương:

    Là một trong năm vị Đại Minh Vương của Mật Giáo. Kim Cương Dạ Xoa Minh Vương là hóa thân Phẫn nộ của Đức Như Lai Bất Không Thành Tựu.

    Ngài có ba mặt sáu cánh tay. Mặt chính giương mở năm con mắt, hai mặt bên trái bên phải đều có ba mắt, đầu có Mã Vương Kế (tóc trên đầu dựng đứng bên phải như ngựa chạy giận hét).

    Nâng cao chân trái, duỗi chân phải đứng trên hai đài sen, hàng phục tất cả Dạ Xoa, cho nên hiện ra hình tướng dũng mãnh quả cảm. Đặc biệt là tay cầm cái chuông biểu thị cho việc dùng tiếng chuông trấn kích chúng sinh, tượng trưng cho Trí Bát Nhã cảnh ngộ quần mê, hàng phục yêu ma.

    Vị Minh Vương này có thể ăn thịt hết tất cả chúng sinh xấu ác, tiêu tai trừ nạn, tiêu phục tà trược.

    50. Đức Phật Tì Lô Giá Na – Đại Nhật Như Lai:

    Là một trong Ngũ Trí Phật và là vị Phật đứng đầu của Phật Bộ ở trung tâm.

    51. Đức Bí Mật Tập Hội Kim Cương:

    Đức Bí Mật Tập Hội Kim Cương là hoá thân phẫn nộ của Đức Phật A Súc Bệ của Kim Cương Bộ.

    Trong quá trình sinh ra và trưởng thành, con đã liên tục cô lập mình thành một cái tôi riêng biệt và tạo ra sự tách rời ngày một cứng đặc hơn với “phần còn lại của vũ trụ”.

    Tuy thế bên trong con luôn khao khát được hoà nhập trở lại với sự toàn thể này. Đức Bí Mật Tập Hội Kim Cương ban cho sự hướng dẫn để con có thể hoà nhập hoàn toàn vào sự thật bằng con đường hoan lạc.

    Sự hoà nhập này bao gồm toàn bộ hiện thực của con, thế giới vật chất, tinh thần và thế giới tâm linh.

    Với chỉ một búi tóc, một bầu ngực và một mắt tượng trưng cho chỉ có duy nhất một Sự Thật Tuyệt Đối “Đại Toàn Thiện”.

    Ngài là hiện thân của trí tuệ nguyên thủy. Ngài là vị nữ hộ pháp đặc biệt chuyên bảo vệ giáo lý Đại Toàn Thiện.

    53. Đức Kim Cương Khủng Bố – Yamataka:

    Hay còn gọi là Đức Kim Cương Khủng Bố, là hóa thân phẫn nộ của Đức Văn Thù. Giống như quái vật hung tợn được hồi sinh, vị Phật trong hình tướng phẫn nộ này hướng cơn giận dữ siêu việt của Ngài chống lại các lực lượng của cái chết và sự hủy diệt.

    54. Đức Kim Sí Điểu – Garuda:

    Đức Kim Sí Điểu – Garuda mình người, có đầu và cánh của chim đại bàng là biểu tượng cho sức mạnh dữ dội, tốc độ, sự dũng cảm và tinh thần thượng võ.

    Ngài là một chiến binh hùng mạnh xông tới một cách nhanh chóng và dũng mãnh trước kẻ thù là những con rắn tượng trưng cho vô minh và hiểm độc.

    Một lần vỗ cánh của Ngài bay được 336 vạn dặm. Cơn gió tạo ra từ cánh Ngài có thể tạo thành cuồng phong che phủ bầu trời.

    Trong nhà Phật, Ngài là một vị Hộ Pháp toàn năng. Người nương tựa đến Ngài có thể tránh khỏi tai nạn và bệnh tật, hàng phục được oan gia, làm tan rã quân địch và gặp được người thân ở phương xa.

    Pháp môn của Ngài thường được tu tập cùng với Pháp môn của Đức Kim Cương Thủ và Đức Mã Đầu Minh Vương.

    55. Đức Kim Cương Dạ Ma Vương – Yama:

    Đức Kim Cương Dạ Ma Vương là vị Hộ pháp trí tuệ của Tối thượng Du già Mật tông.

    Thân thể Ngài màu xanh đậm, đầu trâu giận dữ với cái miệng há to. Ngài có ba mắt, hai sừng nhọn hoắt và tóc dựng đứng.

    Tay phải Ngài dang ra cầm một chiếc gậy đầu lâu, tay trái hướng lên trên vung dây thòng lọng. Đầu đội vương miện năm đầu lâu khô.

    Người quấn tràng hoa năm mươi đầu lâu đẫm máu. Mắt tròn mở to nhìn phối ngẫu đang nhảy múa cùng Ngài. Cả hai Ngài đều đứng trên lưng một con trâu xanh, đang giẫm đạp lên một thân thể đàn ông trần truồng, bao quanh hai Ngài là lửa da cam cháy dữ dội biểu tượng cho ngọn lửa của Sự Tỉnh Thức Nguyên Thuỷ.

    56. Đức Bạch Tán Cái Phật Mẫu – Sitatapatra:

    Sinh ra từ đỉnh đầu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, tay Ngài cầm chiếc lọng báu màu trắng, che chở cho tất cả chúng sinh trong cả tam thiên đại thiên thế giới.

    57. Đức Như Ý Luân Quan Âm – Cintamani Cakra:

    Được biết đến như là: “Người lắng nghe được tiếng khóc của thế giới”, Đức Như Ý Luân Quan Âm luôn đến với con để giúp đỡ con khi con cầu nguyện. Người sẽ giải trừ phiền não, đau khổ trong con và giúp con đạt ước nguyện.

    Thân Người màu trắng giống như mặt trăng mùa thu và sáng tỏ như một viên ngọc không tỳ vết. Ngài tỏa ra ánh sáng vô lượng của sự thanh khiết.

    Ngài là sự thật hoàn hảo, tròn đầy và không thể tách rời với những gì đang hiện hữu. Ở trong mỗi các con đều có một vị Phật từ bi, là Đức Như Ý Luân Quan Âm.

    Hãy sống giống như Đức Như Ý Luân Quan Âm – Đức Phật của lòng từ bi tích cực, và hãy tưới mát thế giới này bằng tình thương trong sáng.

    (Nguồn: Fanpage Quan Âm Bồ Tát)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Các Vị Phật Và Chức Vụ
  • Ý Nghĩa Danh Hiệu Của Chư Phật
  • Nguồn Gốc Tên Các Tháng Trong Tiếng Anh
  • Ý Nghĩa Của 12 Con Giáp Trong Phong Thủy
  • Tất Tần Tật Chuyện Về 12 Con Giáp Ở Việt Nam Và Các Nước Ít Người Biết
  • Các Vị Bồ Tát Trong Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Của Hoa Bồ Công Anh Loài Hoa Mang Ước Mơ Đi Xa * Nekko Shop
  • Bồ Công Anh, Loài Hoa Tiên Tri Của Tình Yêu Và Tượng Trưng Cho Những Giấc Mơ
  • Ý Nghĩa Hoa Anh Đào
  • Ý Nghĩa Hoa Anh Đào Biểu Tượng Quốc Hoa Của Nhật Bản
  • Ý Nghĩa Và Biểu Tượng Hoa Anh Đào
  • Xưởng tranh tượng Phật Mandala nêu tên các vị Bồ tát phổ biến trong Phật giáo Đại Thừa, Kim Cương Thừa và Phật giáo Nguyên Thủy

    – Quan Thế Âm bồ tát (Avalokitesvara Bodhisattva): Đại diện cho lòng từ bi vĩ đại trong Phật giáo Đại Thừa, là trợ thủ đắc lực thường đứng bên tay trái của đức Phật A Di Đà.

    – Đại Thế Chí bồ tát (Mahasthamaprapta Bodhisattva): Đại diện cho ánh sáng trí tuệ trong Phật giáo Đại Thừa, cũng là trợ thủ đắc lực thường đứng bên tay phải của đức Phật A Di Đà.

    – Địa Tạng Vương bồ tát (Ksitigarbha Bodhisattva): Bồ tát của chúng sanh cõi địa ngục. Bồ tát này rất phổ biến trong Phật giáo Đại Thừa tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

    – Văn Thù Sư Lợi bồ tát (Manjushri Bodhisattva): Đại diện cho trí tuệ hoàn hảo, một vị Bồ tát quan trọng trong Phật giáo Kim Cương Thừa.

    – Kim Cương Thủ bồ tát (Vajrapani Bodhisattva): Đại diện cho sức mạnh trong Phật giáo Tây Tạng, ngài là người bảo vệ của Đức Phật, có đầy đủ sức mạnh và sự can đảm của tất cả chư Phật.

    – Di Lặc bồ tát (Maitreya Bodhisattva): Vị Bồ tát duy nhất được tôn kính trong Phật giáo Nguyên Thủy. Ngài được cho là vị Phật tương lai sẽ đến trái đất giảng pháp và cứu chúng sinh khi những lời dạy của Phật Thích Ca bị lãng quên.

    Khi nói về lòng từ bi và lý tưởng của Bồ tát, chúng ta đang nói về những người bình thường, với thân thể, cái trí, cuộc sống này, những vấn đề…Những người có thể tìm thấy sự quảng đại, nỗ lực và trí tuệ ngay ở đây và bây giờ. Chúng ta nhận ra rằng, Bồ tát là những người luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Họ là một người bình thường tiến vào cuộc đời theo hướng của Đức Phật. Bạn và tôi, thực ra là bất cứ ai hướng sự chú ý, cuộc sống của họ, để thực hành lối sống của một vị Phật đều là Bồ tát.

    Bồ tát là một thuật ngữ được phiên âm từ tiếng Phạn Bodhisattva hay Bồ đề tát đỏa trong Hán-Việt. Từ Bodhi có nghĩa là giác ngộ hay thức tỉnh và sattva có nghĩa là một thực thể, bản chất hay tinh thần. Từ Bồ tát có thể được hiểu là “Một người có trí tuệ Bát Nhã” hoặc “Một người có bản chất giác ngộ”.

    Nghĩa của từ “Bồ tát” trong tiếng Pali (Bodhisatta) là “Một người cam kết với sự khai sáng”. Từ “satta” có nghĩa là “cam kết, cố định hoặc ý muốn hướng về phía trước”.

    Các vị Bồ tát được cho là có phẩm chất tương đồng với các vị Phật về trí tuệ, từ bi và quyền năng. Lòng từ bi thúc đẩy họ giúp đỡ những người khác, sự thông thái cho họ biết cách làm thế nào để đạt hiểu quả cao nhất và quyền năng tích lũy cho phép họ hành động theo những cách kỳ diệu.

    Rất nhiều người, ngay cả bản thân tôi thường xuyên cầu nguyện Quan Thế Âm, đọc Chú Đại Bi hay thần chú Om Mani Padme Hum khi gặp khó khăn trong cuộc sống. Bằng một cách nào đó mà tôi không thể giải thích được, mọi khó khăn đều được giải quyết theo một cách tự nhiên và bất ngờ nhất. Tôi xin phép gọi đó là “Sự ngẫu nhiên huyền diệu của Bồ tát”.

    Tuy nhiên, hãy coi Bồ tát nhưng một đòn bẫy hay chỗ dựa tinh thần giúp chúng ta vững bước trên con đường thoát khổ. Vì tôi thấy nhiều người chỉ quan tâm đến việc cầu nguyện mà không hành động để biến đổi trạng thái đau khổ của họ, điều này rất nguy hại. Nó cũng giống như bạn ngồi dưới gốc dừa và cầu cho trái dừa rớt xuống để uống vậy.

    Bồ tát xuất hiện phổ biến trong văn hoá dân gian như một vị thần cứu rỗi, họ đảm nhận một vai trò thật sự thông qua sự tiến hoá của những ý tưởng trước đây, và thông qua sự hợp nhất với các vị thần trong tín ngưỡng dân gian địa phương.

    Một thần thoại đặc biệt quan trọng ở Đông Á là Dharmakara. Theo kinh điển, Dharmakara là một vị Bồ tát mà lời thề nguyện của Ngài đã được nhận ra trước khi trở thành Phật A Di Đà.

    Ý nghĩa của Bồ tát trong Phật giáo

    Trong Phật giáo thời kỳ đầu, Bồ tát có nghĩa là “những kiếp trước của một vị Phật”.

    Trong Phật giáo Đại Thừa, Bồ tát là từ đề cập đến những người cam kết đạt được giác ngộ vì lợi ích của chúng sanh. Trở thành Bồ tát là mục tiêu chính của Đại Thừa.

    Bồ tát được đề cập trong Phật giáo Đại Thừa như là nhân vật tôn thờ. Các vị Bồ tát như Quan Thế Âm, Địa Tạng Vương hay Văn Thù Sư Lợi là những nhân vật cầu nguyện của đa số Phật tử theo trường phái này.

    Trong Phật giáo thời kỳ đầu

    Trong Phật giáo thời kỳ đầu tại Ấn Độ và trong một số truyền thống sau đó, bao gồm Phật giáo Nam Tông (Theravada Buddhism) thì thuật ngữ Bồ tát được sử dụng chủ yếu để chỉ những hóa thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong nhiều kiếp quá khứ.

    Bồ tát trong các văn bản Phật giáo thời kỳ đầu dùng để chỉ:

    Đức Phật lịch sử trước khi giác ngộ

    Cuộc sống hiện tại của Đức Phật tương lai Di Lặc (Maitreya – Metteya)

    Thuật ngữ Bồ tát ban đầu có nghĩa như “Một con người đang trên đường trở thành một vị Phật”. Những kiếp trước của Bồ tát Thích Ca Mâu Ni được kể trong Pali Jataka, một tập hợp những câu chuyện dân gian mà sau này đã trở thành nền tảng cho các truyện ngụ ngôn của Aesop (nhà văn nổi tiếng của Hy Lạp).

    Trong Phật giáo Đại Thừa

    Đại Thừa không mong muốn giác ngộ hoàn toàn để thoát khỏi vòng luân hồi. Họ làm như vậy vì lòng từ bi vĩ đại mong muốn giải phóng chúng sinh khỏi đau khổ.

    Phật giáo Đại Thừa tin rằng, bất cứ ai thực hiện khát vọng thức tỉnh (Bodhicittotpada) đều có thể trở thành Bồ tát. Theo giáo lý Đại Thừa, trong suốt lịch sử vũ trụ, không có khởi đầu nên không có kết thúc, nhiều người đã cam kết trở thành Phật.

    Kết quả là vũ trụ bao trùm một phạm vi rộng lớn các vị Phật tiềm năng, từ những người vừa bước lên con đường Phật quả (Buddhahood), cho tới những người đã trải qua thời gian dài sống trong quá trình tu luyện và do đó, họ đã có được sức mạnh siêu nhiên.

    Một trong những tác phẩm vĩ đại nhất của văn học Phật giáo trong thế kỷ 8 là “Hướng dẫn trở thành Bồ tát” của Shantideva. Bồ Tát Hạnh (Bodhicaryavatara) gồm mười chương chi tiết về việc thực hành các hoàn thiện Ba la mật (paramitas) và rèn luyện Bồ đề tâm (Bodhicitta), nhờ đó một người có thể trở thành Bồ tát.

    Kinh điển Đại Thừa dường như đã được phát triển thêm sau này, bởi vì họ nhận ra rằng, một số người mà sao này được gọi “Tiểu thừa” đã thu hẹp khái niệm về con đường Phật giáo. Những người chỉ quan tâm đến việc giải phóng bản thân khỏi đau khổ mà không quan tâm đến phúc lợi của chúng sanh.

    Một số người cho rằng, sự định hướng này đã mâu thuẫn với sự nhấn mạnh ban đầu của Đức Phật, rằng các môn đệ của Ngài “đi vì lợi ích của nhiều người”, và với mối quan tâm không mệt mỏi của mình đối với phúc lợi của người khác. Vì vậy, các nhà truyền giáo Đại Thừa đã nhìn lại cuộc đời của Đức Phật để lấy cảm hứng. Trước khi giác ngộ, Đức Phật hay Bồ tát được cho là đã trải qua vô số kiếp sống để phát triển lòng từ bi vĩ đại trong một trí tuệ hoàn hảo.

    Các câu chuyện Jataka được đề cập ở trên chứa đựng một bộ sưu tập văn hoá dân gian rộng lớn, trong đó, Bồ tát dù ở dạng con người hay động vật, đều có những hy sinh to lớn trong việc giúp đỡ chúng sinh thoát khỏi đau khổ.

    Lấy cảm hứng từ những câu chuyện thần thoại và thực tế của Đức Phật, những người theo Đại Thừa đã đề cao tầm quan trọng của lòng từ bi trong quá trình học và thực hành pháp. Thay vì lý tưởng A la hán, sự giải phóng cá nhân của Phật giáo Nguyên Thủy, lý tưởng Bồ tát là mục tiêu chính của Đại Thừa để đạt được giác ngộ.

    Đối với các hành giả Đại Thừa, trí tuệ và từ bi là 2 yếu tố không thể tách rời nếu muốn trở thành một vị giác ngộ hoàn hảo. Để nhìn thấy bản chất thật của thực tại, thì phải biết ý tưởng về các thực thể riêng biệt là một ảo tưởng hết sức nguy hiểm.

    Như một nhân vật tôn thờ

    Phật giáo Đại Thừa mở rộng phạm vi các đối tượng tôn thờ trong quá trình hình thành và phát triển trường phái của mình. Đức Phật Thích Ca luôn luôn là một nhân vật tôn kính lớn lao đối với những người theo đạo Phật. Bản thân Ngài cũng khuyến khích việc tôn kính các vị Phật trước cũng như Đức Phật tương lai Di Lặc.

    Do đó, nếu nói rằng không có tôn thờ, sùng kính, thờ phụng trong Phật giáo thì không chính xác. Tuy nhiên, Phật giáo Đại Thừa đã mở rộng phạm vi của các hình tượng tôn sùng bằng cách giới thiệu thêm nhiều chư Phật và Bồ tát mới. Tại sao chuyện này lại xảy ra?

    Có thể có trường hợp các nhân vật Phật giáo tiền nhân hoặc không phải là Phật giáo nhưng được kết hợp vào truyền thống Phật giáo để làm hình tượng cho sự thúc đẩy trạng thái giác ngộ. Điều này có vẻ như là trường hợp của Kim Cương Thủ, người đã bắt đầu sự sống như một Yaksha, một người bảo vệ của Đức Phật trong một số kiếp quá khứ. Một số học giả cũng cho rằng, Văn Thù Sư Lợi bồ tát bắt đầu như một nhạc sĩ thiên đường, hay các Tara (Lục Độ Phật Mẫu) đã bắt đầu cuộc đời như Durga, một vị thần Bà la môn (Brahmin).

    Dường như một số vị Bồ tát trong Phật giáo xuất hiện như những biểu hiện tự phát trong quá trình thực hành thiền định. Đối với những người hành thiền, những hình ảnh có ý nghĩa và ổn định xuất hiện như là kết quả của tâm trí đạt đến trạng thái tinh thần bất bình thường.

    Những hình ảnh này được gọi là nimittas. Một vị thiền sư có tinh thần đặc biệt tinh tế có thể nhìn thấy, ví dụ, một hồ nước lấp lánh hoặc một viên ngọc sáng trên một nền đen vô hạn.

    Có thể suy đoán rằng, một thiền giả khi có trải nghiệm đặc biệt mạnh với lòng từ bi trong trạng thái thiền, và một tầm nhìn rõ ràng về một nữ thần xinh đẹp, yêu thương đang bước ra từ hoa sen để giúp chúng sinh. Và như thế, Tara được “sinh ra”.

    Trong một số trạng thái của thiền, biên giới giữa tâm vô thức và ý thức có thể vượt qua một cách dễ dàng hơn, và tâm trí lúc đó sẽ thấy mọi thứ theo một cách mang tính biểu tượng hơn, như những gì chúng ta thấy trong giấc mơ nhưng với một mức độ chánh niệm sâu sắc chứ không phải ảo giác mơ màng. Một số kinh điển Đại Thừa có thể đã bắt đầu theo cách này.

    Những người hành thiền nhiều kinh nghiệm đã khuyến khích người khác suy ngẫm về những hình ảnh tự phát sinh, và do đó truyền thống Nghi quỹ hay Thành tựu pháp (sadhana) được hình thành. Việc hình dung các vị Bồ tát trong thực hành thiền đã được đón nhận rộng rãi.

    Kết luận

    Bồ tát là những sinh mệnh cống hiến hết mình cho sự đánh thức phổ quát, hay sự giác ngộ của mọi người. Họ tồn tại như các hướng dẫn hay nhà cứu trợ chúng sinh. Họ là những hình mẫu minh họa cuộc sống thánh thiện mà chúng ta phải học hỏi để tiêu trừ đau khổ trên thế giới.

    Bồ tát có thể tuyệt vời với sức mạnh, lòng từ bi và trí tuệ, nhưng họ cũng có thể trở nên bình thường như người hàng xóm bên cạnh chúng ta. Bồ tát xuất hiện bất cứ nơi nào mà hành động tốt đẹp được thực hiện.

    Trên con đường Bồ tát, chúng ta đi theo những giáo lý về lòng quảng đại, kiên nhẫn, hành vi đạo đức, cân bằng, thiền định, và cái nhìn sâu sắc vào thực tế để biết điều gì là cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Vì vậy, chúng ta có thể sống theo một cách có lợi cho người khác và chính mình. Chúng ta học cách từ bi với bản thân và học cách nhận ra rằng, chúng ta không tách biệt với những người mà chúng ta tưởng là xa lạ.

    Đối với tôi, Bồ tát không phải là người mà chúng ta nghĩ là họ. Bồ tát chỉ đơn giản là những sinh vật bình thường đang làm theo những lời dạy của đức Phật. Bồ tát xuất hiện trên những nếp nhăn của cuộc đời bạn. Bồ tát đang sống trong khu phố của bạn, chờ đợi để nói lời “Chào buổi sáng” với bạn.

    Bồ tát là những vị giảng sư đang làm hết mình cho hạnh phúc của mọi người. Bồ tát là những ông bố bà mẹ ngày đêm chăm lo cho con cái. Bồ tát là những người con hiếu thảo yêu thương cha mẹ…Bồ tát là cậu bé 8 tuổi đang cố cứu con chim bị rơi xuống nước.

    Bồ tát giống như bạn và tôi. Bồ tát không phải là người mà chúng ta nghĩ là họ. Bồ tát không giới hạn trong một số ít các nhân vật đáng kinh ngạc hay những người nổi tiếng. Bồ tát không phải là người mà chúng ta nghĩ là họ. Chúng ta không thể hiểu được Bồ tát tuyệt vời như thế nào. Tất cả chúng ta đều là Bồ tát, trong một khoảnh khắc nào đó của cuộc đời. Khi bạn đang đọc bài viết này, rất nhiều Bồ tát đang giúp đỡ người khác bên ngoài. Họ là những nhân vật kỳ diệu, ban phước cho tất cả chúng sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Các Vị Phật, Bồ Tát Và Thần, Quỷ Trong Phật Giáo
  • Đức Phật, Các Vị Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thập Điện Diêm Vương Và Các Ngày Lễ Trong Năm
  • 57 Vị Phật, Bồ Tát Theo Truyền Thống Phật Giáo Tây Tạng
  • Tên Các Vị Phật Và Chức Vụ
  • Ý Nghĩa Danh Hiệu Của Chư Phật
  • Trong Phật Giáo Bắc Tông, Tu Sĩ Và Phật Tử Được Đặt Tên Theo Những Nguyên Tắc Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cây Phát Lộc Cây Phong Thủy Tốt
  • Tên Tiếng Nga 2021 ❤️1001 Tên Con Trai, Con Gái Hay Nhất
  • Stt Tiếng Nga Hay Nhất 2021❤️ Top Status Tiếng Nga Hay
  • List Sách Hay Về Âm Nhạc
  • Cách Viết Tắt Chữ Việt Không Dấu
  • Trong Phật giáo Bắc tông, tu sĩ được đặt tên theo dòng ph ái. Tu sĩ sau khi vào chùa tu, được thầy đặt cho tên, gọi là pháp tự. Tên được đặt dựa vào cá tính của người ấy, có được sau khi đã thọ giới Sa Di giới ( 10 giới), gọi là Giới danh.

    Khi đi cầu pháp ở một vị thầy giỏi về giáo lý, sẽ được đặt tên gọi là . Thầy phú pháp đặt tên này để ấn chứng một sự thụ đắc nào đó của người theo học. Có dòng ph ái thường ra hai bài kệ song song, một dùng đặt pháp danh, một dùng đặt pháp hiệu. Tên đặt theo bài kệ gọi là tên Húy ( pháp danh), dùng ghi vào bài vị sau khi người tu sĩ qua đời. Từng chữ trong bài kệ tiêu biểu cho một thế hệ truyền thừa. Như bài kệ của dòng Đạo Bổn Nguyên, có câu đầu là “Đạo Bổn Nguyên thành Phật tổ tiên…”. Chữ Đạo thuộc đời thứ 31 do Đạo Mẫn khai sáng bài kệ. Như vậy, chữ Bổn thuộc đời thứ 32, và chữ thuộc đời thứ 33, như Nguyên Thiều, người có công đầu mang Phật giáo vào Đàng Trong…

    Đạo hiệu là tên vua phong. Thụy hiệu là tên đặt sau khi người tu sĩ đã mất. Trong Phật giáo, kh ái niệm là tín đồ không thật sự rõ ràng. Thời Đức Phật còn tại thế, những người chưa xuất gia, cảm mến đường hướng và giáo thuyết của Đức Phất, hỗ trợ cho tăng đoàn phẩm vật, hoặc nghe họ nói pháp… đều được xem là thí chủ. Sau khi đức Phật viên tịch, những người xuất gia có số đệ tử đông đúc, theo từng hệ ph ái riêng. Từ nay, kh ái niệm tín đồ đã tương đối được rõ ràng hơn, còn gọi là Phật tử.

    Một tín đồ Phật giáo phải là một người đã tiến hành lễ thọ “tam quy, ngũ giới”. Thọ tam quy là quy y Tam Bảo, tức trở về (quy) dựa vào (y) Tam Bảo ( Phật, pháp, tăng). Thọ ngũ giới là phát nguyện giữ gìn năm giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Thọ tam quy ngũ giới, người đó đã được xem là một Phật tử, tu hành tại gia, được đặt cho tên đạo, gọi là pháp danh.

    Thông thường, pháp danh được đặt theo chữ đầu của bài kệ thuộc dòng ph ái mà bổn sư truyền giới đã theo. Bổn sư thuộc đời nào thì đệ tử sẽ dưới đó một đời. Nếu bổn sư thuộc thế hệ truyền thừa của dòng Lâm Tế, ph ái Liễu Quán, đời thứ 38 thì đệ tử phải thuộc đời thứ 39. Đấy là cách đặt tên pháp danh áp dụng cho những người đã xuất gia.

    Còn đối với Phật tử tại gia, sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vào năm 1964, có Hiến chương của giáo hội, cách đặt tên của Phật tử thông thường có chữ đầu là Minh đi kèm với tên, dành cho nam giới và chữ đầu là Diệu, đi kèm với tên, dành cho nữ giới… như nam Phật tử Minh Thọ, nữ Phật tử Diệu Nghĩa…

    Đứng đầu các tên là họ Thích, vì được quan niệm theo đạo Phật, tất cả đều là con của Phật, có họ của đức Thích Ca. Tuy nhiên tên gọi có cả họ thường chỉ được dùng cho hàng tăng sĩ đã xuất gia.

    Người nam có họ Thích rồi kèm theo pháp danh, người nữ có họ Thích nữ kèm theo pháp danh. Như Hòa thượng Thích Thiện Chiếu, ni sư Thích nữ Như Thanh…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Share Miễn Phí List Code Omg 3Q Update 2021
  • List Code Omg 3Q Cập Nhật Update Hiện Nay 2021
  • Free Code Omg 3Q Full Được Update Liên Tục 2021
  • Tải Omg 3Q Lậu Hack Vip, Full Knb 2021
  • Gọi Tên 5 Hậu Vệ Hay Nhất Thế Giới Hiện Nay
  • Trong Phật Giáo Bắc Tông,tu Sĩ Và Phật Tử Được Đặt Tên Theo Những Nguyên Tắc Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Triết Lý “tánh Không” Trong Phật Giáo
  • Ý Nghĩa Tên Lam Là Gì
  • Ý Nghĩa Tên Lam, Gợi Ý Bộ Đệm Hay Ghép Với Tên Lam
  • Hướng Dẫn Chơi Roblox Chi Tiết Nhất Từ A Đến Z Cho Người Mới
  • 10 Bộ Phim Hấp Dẫn Nhất Về Loài Rồng Từ Các Nền Điện Ảnh Thế Giới
  • Trong Phật giáo Bắc tông, tu sĩ được đặt tên theo dòng phái. Tu sĩ sau khi vào chùa tu, được thầy đặt cho tên, gọi là pháp tự. Tên được đặt dựa vào cá tính của người ấy, có được sau khi đã thọ giới Sa Di giới (10 giới), gọi là Giới danh.

    Khi đi cầu pháp ở một vị thầy giỏi về giáo lý, sẽ được đặt tên gọi là pháp hiệu. Thầy phú pháp đặt tên này để ấn chứng một sự thụ đắc nào đó của người theo học. Có dòng phái thường ra hai bài kệ song song, một dùng đặt pháp danh, một dùng đặt pháp hiệu. Tên đặt theo bài kệ gọi là tên Húy (pháp danh), dùng ghi vào bài vị sau khi người tu sĩ qua đời. Từng chữ trong bài kệ tiêu biểu cho một thế hệ truyền thừa. Như bài kệ của dòng Đạo Bổn Nguyên, có câu đầu là “Đạo Bổn Nguyên thành Phật tổ tiên…”. Chữ Đạo thuộc đời thứ 31 do Đạo Mẫn khai sáng bài kệ. Như vậy, chữ Bổn thuộc đời thứ 32, và chữ Nguyên thuộc đời thứ 33, như Nguyên Thiều, người có công đầu mang Phật giáo vào Đàng Trong…

    Đạo hiệu là tên vua phong. Thụy hiệu là tên đặt sau khi người tu sĩ đã mất. Trong Phật giáo, khái niệm là tín đồ không thật sự rõ ràng. Thời Đức Phật còn tại thế, những người chưa xuất gia, cảm mến đường hướng và giáo thuyết của Đức Phất, hỗ trợ cho tăng đoàn phẩm vật, hoặc nghe họ nói pháp… đều được xem là thí chủ. Sau khi đức Phật viên tịch, những người xuất gia có số đệ tử đông đúc, theo từng hệ phái riêng. Từ nay, khái niệm tín đồ đã tương đối được rõ ràng hơn, còn gọi là Phật tử.

    Một tín đồ Phật giáo phải là một người đã tiến hành lễ thọ “tam quy, ngũ giới”. Thọ tam quy là quy y Tam Bảo, tức trở về (quy) dựa vào (y) Tam Bảo (Phật, pháp, tăng). Thọ ngũ giới là phát nguyện giữ gìn năm giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Thọ tam quy ngũ giới, người đó đã được xem là một Phật tử, tu hành tại gia, được đặt cho tên đạo, gọi là pháp danh.

    Thông thường, pháp danh được đặt theo chữ đầu của bài kệ thuộc dòng phái mà bổn sư truyền giới đã theo. Bổn sư thuộc đời nào thì đệ tử sẽ dưới đó một đời. Nếu bổn sư thuộc thế hệ truyền thừa của dòng Lâm Tế, phái Liễu Quán, đời thứ 38 thì đệ tử phải thuộc đời thứ 39. Đấy là cách đặt tên pháp danh áp dụng cho những người đã xuất gia.

    Còn đối với Phật tử tại gia, sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vào năm 1964, có Hiến chương của giáo hội, cách đặt tên của Phật tử thông thường có chữ đầu là Minh đi kèm với tên, dành cho nam giới và chữ đầu là Diệu, đi kèm với tên, dành cho nữ giới… như nam Phật tử Minh Thọ, nữ Phật tử Diệu Nghĩa…

    Đứng đầu các tên là họ Thích, vì được quan niệm theo đạo Phật, tất cả đều là con của Phật, có họ của đức Thích Ca. Tuy nhiên tên gọi có cả họ thường chỉ được dùng cho hàng tăng sĩ đã xuất gia.

    Người nam có họ Thích rồi kèm theo pháp danh, người nữ có họ Thích nữ kèm theo pháp danh. Như Hòa thượng Thích Thiện Chiếu, ni sư Thích nữ Như Thanh…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Đổi Mật Khẩu Wifi Modem Viettel Đơn Giản
  • Vinaphone, Viettel, Mobifone Đồng Loạt Tự Đổi Tên Nhằm Khuyến Khích Người Dân Ở Nhà
  • Viettel, Vinaphone, Mobifone Đồng Loạt Đổi Tên Nhà Mạng Thành “hãy Ở Nhà”, “stay Home” Trên Smartphone Để Lan Toả Thông Điệp Cách Ly Xã Hội
  • 100+ Tên Hay Ở Nhà Cho Bé Gái Và Bé Trai 2021
  • Knet Liệt Kê Những Nhóm Nhạc Có Tên Gọi Mà Ngay Cả Non
  • Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoài Bão Hướng Về Tổ Quốc, Về Nhân Dân
  • Decor Để Bàn Tam Tượng Hoàng Lộc Rsd08
  • Fandom Hanbin (Ngô Ngọc Hưng) Quyên Góp, Xây Nhà Cho Trẻ Em Mồ Côi
  • Ý Nghĩa Của Hoa Quỳnh Loài Hoa Nở Về Đêm Tượng Trưng Cho Tình Yêu Chung Thủy • Nekko Shop
  • Loài Hoa Chỉ Nở Vào Ban Đêm
  • Mọi người muốn có tên pháp danh cần phải quy y thì được gọi là phật tử, còn những người chỉ muốn lấy một cái tên để cầu mạnh khỏe, hay vì mục đích ý nghĩa riêng khi nhờ thầy đặt cho thì việc đó cũng chỉ là có một cái tên hiệu để gọi mà thôi. 

    Vì đạo một đời mà tu sửa 

    Quay đầu chuyển đổi nghiệp khi xưa 

    Khai tâm chơn chánh xua màn tối 

    Mở trí thông hành xóa mây mưa 

    Y áo sửa sang lo trọn vẹn 

    Mõ Chuông chỉnh đốn để xin thưa 

    Mười phương phát nguyện cùng Tam Bảo 

    Lạy Phật quy y cũng đã vừa! 

    – (Nguyễn Tâm)

    Theo đạo Phật tức là chúng ta hành theo những điều chỉ dạy của đức Phật về sự từ bi vô lượng, thương độ hữu chúng sinh. Những người hay đi chùa thì đều biết về Tam quy ngũ giới. Đó là nơi chúng ta có thể trở về tìm lại suối nguồn chân hạnh phúc mà ta đã vô tình đánh mất từ thửa nào, một nơi nương tựa tâm linh vững chắc, quay về nương tựa Tam Bảo đó cũng chính là lúc chúng ta có một cuộc sống có ý nghĩa và an lành hơn. 

    Giáo lý nhà Phật, cũng như đức Phật có quy định là có bốn hàng đệ tử Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni là những người xuất gia, còn Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di là những cư sĩ tại gia là cận sự nam và cận sự nữ luôn phụng sự Tam bảo. Theo một lẽ thông thường thì để có pháp danh tức nói nôm na là tên ở chùa thì cần phải Quy y Tam Bảo. Cái tên đó do sư thầy bổn sư đặt và lúc đó chúng ta mới là một phật tử chân chính, đệ tử của đức Phật. Đệ tử tại gia thì sẽ làm lễ Quy y trở thành một đệ tử của đức Phật và thọ năm giới. 

    Đối với một số chùa thì ngày Rằm, lễ lớn hay chùa đó tổ chức Quy y thì đệ tử sẽ phải có mặt. Trong lễ Quy y đối với một số nơi vùng sâu, xa xôi thì có thể tại tư gia của một gia đình phật tử, ở đó thiết lập một bàn thờ Phật và một bàn cho sư thầy bổn sư, sau đó thầy sẽ làm lễ Quy y, truyền năm giới cơ bản cho phật tử tại gia rồi thầy sẽ đặt tên (pháp danh). Tên pháp danh thì sẽ tùy theo thầy bổn sư đặt có thể là theo dòng kệ các phái, cũng có thể đặt theo tên chùa hoặc đặt nữ là Diệu nam là Tự hay Thiện… cái đó sẽ tùy mỗi cách đặt tên của thầy bổn sư.

    Chúng ta sống ở đời nhiều nên sẽ có những tập khí của cuộc sống ngoài đời, nên theo cá nhân con xin pháp danh qua mạng sẽ giống như chúng ta xin một món đồ, món ăn… Vậy tại sao ngay bây giờ mình không tách riêng biệt giữa đời và đạo, con nghĩ như vậy mình sẽ có cơ hội nhận diện bản thân mình rõ hơn.

    Có nhiều người xin các thầy đặt cho một pháp danh qua mạng thì con chỉ có vài điều chia sẻ rằng đó chỉ là tên gọi mà thôi và khi đã xin pháp danh tức là chúng ta đang hạnh theo lời đức Phật, thiên hướng một phần ý niệm về Phật giáo. Vậy tại sao chúng ta không thu xếp một ngày nào đó tới một ngôi chùa và bạch thầy trụ trì xin làm lễ Quy y Tam Bảo và trong lễ Quy y đó sẽ có tên pháp danh. Con thấy hành động đó rất dễ thương. Điều đó không mấy khó khăn mà còn rất ý nghĩa.

    Hãy xem trong một bát canh

    Oán sâu thành biển, hận thành non cao

    Muốn xem nguồn gốc binh đao

    Lắng nghe lò thịt tiếng gào đêm thâu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Hiệu (Nguyễn Long Thao)
  • Bố Mẹ Nên Biết Nếu Muốn Đặt Tên Con Theo Cầu Thủ Quang Hải, Tiến Dũng
  • Đặt Tên Cho Con Gái Tiếng Đức, Những Cái Tên Được Ưa Thích Nhất Ở Đức
  • Ý Nghĩa Tên Thắng Là Gì Và Cách Chọn Tên Đệm Cho Tên Thắng
  • Ý Nghĩa Của Câu ” Đức Lưu Quang” Trên Cuốn Thư Câu Đối.
  • Tổng Quan Kinh Pháp Hoa – Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành Phố Hà Nội

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Phẩm Tựa Thứ Nhất Kinh Pháp Hoa
  • Hoa Phong Lan Tím Ở Nước Nào Và Ý Nghĩa Hoa Lan Hồ Điệp Tím
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Của Loài Hoa Phong Lan
  • Loài Hoa Của Vẻ Đẹp Quý Tộc
  • Sứ Giả Của Sự May Mắn Và Hạnh Phúc
  • TỔNG QUAN KINH PHÁP HOA

                                                                                                               Đại đức Thích Đạo Phong

    I.GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC KINH PHÁP HOA

    1.Thời gian, bối cảnh ra đời và sự hình thành kinh Pháp Hoa

    a. Thời gian ra đời của kinh Pháp Hoa

    Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh lớn của hệ thống Kinh tạng Đại thừa Phật giáo, được các học giả phương Tây cho là một trong hai mươi Thánh thư phương Đông. Sự nghiên cứu về mặt lịch sử ra đời, cũng như khái quát bố cục nội dung kinh là điều cần thiết cho việc học tập, nghiên cứu kinh Pháp Hoa.

    Theo các tài liệu về lịch sử Phật giáo hiện đại như cuốn Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận của Kimura – Taiken, cũng như một số tài liệu khác thì Phật giáo Đại thừa xuất hiện tại Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ I trước Tây lịch cho đến thế kỷ thứ I sau Tây lịch, tức là vào khoảng 500 năm sau khi Phật nhập diệt. Đại thừa Phật giáo phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ thứ II trở đi, sự phát triển Phật giáo Đại thừa là tất yếu để đáp ứng nhu cầu của thời đại. Trước Pháp Hoa, các kinh điển Đại thừa khác đã xuất hiện khá phong phú như kinh Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, kinh Duy Ma Cật..vv. Kinh Pháp Hoa xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ thứ II, bằng chứng của sự xuất hiện là vào thời điểm này có Bồ tát Long Thụ, tác giả của bộ Đại Trí Độ Luận, sống vào cuối thế kỷ thứ hai, đã trích dẫn kinh Pháp Hoa. Sự xuất hiện của kinh Pháp Hoa là sự tổng hòa, dung hợp tư tưởng Đại thừa của các bộ kinh trên.

    b. Bối cảnh ra đời của kinh Pháp Hoa

    Sau khi Đức Phật nhập diệt 100 năm, do những quan điểm, giải thích giáo lý, giới luật có sự khác biệt giữa các nhóm, các phái và giữa các vùng khác nhau cho nên giáo đoàn bắt đầu phân phái. Tổng cộng có đến 20 bộ phái.

    Tăng đoàn của mỗi phái cố gắng thiết lập cho mình một căn cứ địa về mặt địa lý cũng như về mặt tư tưởng để củng cố học thuyết và bộ phái của mình. Đường lối sinh hoạt và tu tập của chư Tăng ngày càng cách biệt với quần chúng và quần chúng cũng không biết theo ai. Sinh khí của giáo lý thực tiễn cứu khổ ban đầu bị xói mòn, khô cứng, dần dần đi vào tư biện triết học. Phật giáo Ấn Độ trong tình trạng như vậy bị co cụm với những lý thuyết khô khan.

    Trong khi đó, triết lý Bà-la-môn đang có chiều hướng phát triển và tranh chấp ảnh hưởng với Phật giáo, nhu cầu phát triển đổi mới, tạo tác dụng thực tiễn của giáo lý vào đời sống xã hội là một nhu cầu bức xúc.

    Trong bối cảnh ấy, Phật giáo Đại thừa xuất hiện, những người Phật tử trí thức và đầy tâm huyết muốn thấy Phật giáo có sự sống sinh động và có tác dụng tích cực như thời Đức Phật, họ đứng lên khởi xướng phong trào mới là Đại Thừa (Mahayana), tức cỗ xe lớn chứa được nhiều người đến nơi Phật quả.  Phật giáo truyền thống được coi là Tiểu thừa tức cỗ xe nhỏ, ích kỷ, chỉ thành tựu A-la-hán quả.

    Sự va chạm giữa Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Tiểu thừa đã xảy ra một cách mạnh mẽ, đến độ không ai chấp nhận ai. Những kinh điển Đại thừa lần lượt xuất hiện phát dương lý tưởng Đại thừa, giải thích giáo lý mang tính tích cực và đại chúng hơn. Bát Nhã là bộ kinh lớn xuất hiện khá sớm, triển khai tư tưởng Chân không, tích cực đả phá Tiểu thừa, cho rằng Thanh văn và Duyên giác không phải là con của Phật. Kinh Hoa Nghiêm chủ trương pháp giới duyên khởi, nhưng vẫn coi Tiểu thừa là thấp kém hạ liệt. Đến Duy Ca Mật thì Tiểu thừa bị chỉ trích thậm tệ. Sự đả phá, chỉ trích lẫn nhau đã dẫn đến không chấp nhận nhau làm cho Phật giáo suy yếu. Nhu cầu về con đường hòa giải trở nên cấp thiết, xu hướng phê phán sự xung đột và mâu thuẫn trong Phật giáo ngày càng mạnh, tạo áp lực nhất định vào tâm tư của thời đại.

    Trong bối cảnh đó, Kinh Pháp Hoa xuất hiện, chủ trương hòa giải mọi mâu thuẫn gay gắt của các dòng tư tưởng Phật giáo Đại thừa trước đó đối với giáo lý truyền thống, tạo sự thống nhất về tư tưởng và đường lối Phật giáo. Mặt khác, kinh Pháp Hoa cũng tổng hợp những tư tưởng cốt tủy của kinh Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm, kinh Duy Ma, đồng thời mở ra chân trời mới cho mọi con người trong xã hội: Mọi người đều có Phật tính và đều có khả năng thành Phật.

    c. Sự hình thành kinh Pháp Hoa.

    Thể loại văn học của kinh điển Phật giáo có 12 thể loại khác nhau như Trường hàng, Trùng tụng, Cô khởi..vv. Trong kinh Pháp Hoa có đồng thời nhiều thể loại khác nhau, sự hình thành của kinh Pháp Hoa trải qua bốn giai đoạn.

    Giai đoạn thứ nhất: Hình thành phần Trùng tụng. Trùng tụng tức là phần kệ tụng ở trong kinh. Khi đọc kinh Pháp Hoa, phần trùng tụng là những đoạn thi kệ lập lại những ý đã được nói trong phần trường hàng.

    Khi mới xuất hiện, kinh điển thường được viết bằng thi kệ mà không viết bằng văn xuôi, bởi hình thức kệ tụng truyền miệng dễ học thuộc hơn. Do đó với kinh Pháp Hoa, những phần trùng tụng xuất hiện trước, và đó là giai đoạn đầu kinh Pháp Hoa xuất hiện.

    – Giai đoạn thứ hai: Hình thành phần Trường hàng. Trong giai đoạn thứ hai của sự hình thành kinh Pháp Hoa, người ta thêm vào phần văn xuôi, tức là phần trường hàng, với mục đích làm cho những đoạn trùng tụng rõ nghĩa hơn lên.

    Giai đoạn thứ ba:  Phát triển thêm phần Trường hàng. Giai đoạn thứ ba của sự hình thành Pháp Hoa là sự phát triển thêm phần trường hàng, tức là phần văn xuôi. Tại vì khi các học giả so các bản tiếng Phạn với nhau, thấy có những bản trong đó phần trường hàng ngắn hơn phần trường hàng của những bản khác.

    – Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn kinh được thêm vào những phẩm mới.

    2. Ngôn ngữ – cấu trúc và nội dung kinh Pháp Hoa

    a. Ngôn ngữ và cấu trúc kinh Pháp Hoa

    Ngôn ngữ của con người chỉ biểu đạt được những thứ bình thường trong cuộc sống, có ý nghĩa tương đối, mang tính cách phiến diện. Trong khi đó chân lý thì toàn diện và siêu việt, có ý nghĩa tuyệt đối. Cho nên dù sử dụng ngôn ngữ tinh xảo bao nhiêu cũng không thể chuyển tải hết sự thật của chân lý.

    Để biểu đạt, chuyển tải chân lý cho người nghe dễ hiểu, dễ linh ngộ, kinh Pháp Hoa sử dụng phương pháp truyền đạt chân lý cao siêu qua những thứ bình thường, thông dụng trong thế giới tương đối, gần gũi với đời sống con người.

    Ngôn ngữ kinh Pháp Hoa sử dụng để diễn đạt mục tiêu không phải là sự kiện bên ngoài mà chính là sự thật chứa ở bên trong. Đó là ngôn ngữ mang tính biểu tượng, nói cách khác, ngôn ngữ kinh Pháp Hoa là ngôn ngữ biểu tưởng.

    Bố cục của kinh Pháp Hoa được trình bày theo hình thức chương, hồi. Toàn kinh có 7 quyển và 28 phẩm: 1. Phẩm Tựa; 2. Phẩm Phương Tiện; 3. Phẩm Thí Dụ; 4. Phẩm Tín Giải; 5. Phẩm Dược Thảo Dụ; 6.Phẩm Thụ Ký; 7. Phẩm Hóa Thành Dụ; 8. Phẩm Ngũ Bách Đệ Tử Thụ Ký; 9. Phẩm Học Vô Học Thụ Ký; 10. Phẩm Pháp Sư; 11. Phẩm Hiện Bảo Tháp; 12. Phẩm Đề Bà Đạt Đa; 13. Phẩm Trì; 14. Phẩm An Lạc Hạnh; 15. Phẩm Tùng Địa Dũng Xuất; 16. Phẩm Như Lai Thọ Lượng; 17. Phẩm Phân Biệt Công Đức; 18. Phẩm Tùy Hỷ Công Đức; 19. Phẩm Công Đức Pháp Sư; 20. Phẩm Thường Bất Khinh Bồ tát; 21. Phẩm Như Lai Thần Lực; 22. Phẩm Chúc Lũy; 23. Phẩm Dược Vương Bồ tát; 24. Phẩm Diệu Âm Bồ tát; 25. Phẩm Quán Thế Âm Bồ tát; 26. Phẩm Đà la ni; 27. Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bản Sự; 28. Phẩm Phổ Hiền Bồ tát Khuyến Phát.

    b. Nội dung kinh Pháp Hoa

    Thông thường kinh Pháp Hoa được giới thiệu qua hai hình thức:

    Giới thiệu kinh qua khái niệm về Tích môn và Bản môn của tông Thiên Khai: Kinh Pháp Hoa chia làm 2 phần: 14 phẩm đầu thuộc Tích môn, 14 phẩm sau thuộc Bản môn.

    + Phần Tích môn: Tích môn là phần giáo lý nói về dấu tích của Đức Phật có sinh ra, lớn lên, xuất gia, thành đạo, nhập diệt, dạy giáo lý thoát khổ ở cõi thế gian này. Trong kinh, phần nào thuyết pháp ở núi Linh Thứu thì thuộc về Tích môn, còn gọi là Chân lý tương đối.

    + Phần Bản môn: Bản môn là phần gốc, là nền tảng của Tích môn. Nghĩa là Đức Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp. Phật hiện hữu suốt chiều dài của thời gian và phổ biến cả không gian. Chân lý của Bản môn là tuyệt đối. Nhờ giáo lý Bản môn mà lý giải tất cả chúng sinh đều thành Phật, vì tất cả chúng sinh đều có Phật tướng. Đây là điểm đặc thù của Pháp Hoa.

    3. Vị trí – vai trò của kinh Pháp Hoa trong hệ thống kinh điển

    a. Vị trí kinh Pháp Hoa

    Khi nghiên cứu về bất cứ bộ kinh nào, đầu tiên là xác định xem bộ kinh đó có vị trí như thế nào trong hệ thống giáo lý nói chung, Kinh tạng nói riêng. Phán định về giáo lý, tông Thiên Thai đem giáo lý nói trong một đời của Đức Phật phân chia thành Ngũ thời, Bát giáo.

    • Ngũ thời

    + Thời Hoa Nghiêm: Sau khi thành đạo, bộ kinh Phật thuyết đầu tiên là “Kinh Hoa Nghiêm” trong 21 ngày. Bộ “Kinh Hoa Nghiêm” này có 3 quyển Thượng, Trung và Hạ. Theo truyền thuyết, trên nhân gian chúng ta chỉ có quyển Hạ; quyển Thượng và Trung đều được lưu giữ dưới long cung. Bồ tát Long Thụ sau khi học hết những văn tự ở nhân gian, Ngài liền đi đến Long cung đọc tụng tạng Kinh; quyển Hạ này do Bồ tát học thuộc dưới Long cung mà viết ra. Bồ tát Long Thụ có biệt tài xem qua liền thuộc, cho nên ngài đến Long cung xem qua một lượt bộ “Kinh Hoa Nghiêm” và truyền quyển Hạ này lên nhân gian.

    + Thời Phương Đẳng: Thứ ba là “Thời Phương Đẳng”. “Phương” là bốn phương, “đẳng” là bình đẳng. Trong Hóa pháp, thời Phương Đẳng thuộc về Thông giáo. Vì sao gọi là Thông giáo? Vì nó “Thông tiền thông hậu, thông đại thông tiểu”, đã thông Tạng giáo của Tiểu thừa ở trước, lại thông Biệt giáo của Đại thừa ở sau; cũng chính là thông “A Hàm” ở trước, lại thông cả “Bát Nhã” ở sau. Thông giáo là cửa đầu tiên đến với đại thừa; “Phương Đẳng” này thuộc về Thông giáo, thông cả Tam thừa cùng học.

    + Thời Bát Nhã: Thời thứ tư là “Bát Nhã”. Bát Nhã thuộc về giáo nào trong Bát giáo? Trong Hóa pháp, Bát Nhã thuộc về Biệt giáo. Biệt giáo là cửa đầu tiên đến với đại thừa. Vì sao gọi là “Biệt giáo”? Vì Bát Nhã “Biệt tiền biệt hậu”, sai biệt với “A Hàm” và “Phương Đẳng” ở trước, lại khác luôn “Pháp Hoa” và “Niết Bàn” ở sau. Bát Nhã lại “Biệt tiểu biệt đại”, sai biệt với “Tạng giáo”và “Thông giáo” ở trước và “Viên giáo” ở sau, nên gọi là “Biệt”. Biệt giáo là điểm kết của Đại thừa, cũng chính là lúc phải “Chuyển giáo phú tài”. “Chuyển giáo” là chuyển đổi quyền giáo của tam thừa; “phú tài” là chuẩn bị nói một Phật thừa viên mãn của Pháp Hoa.

    Bát Nhã đầy đủ 3 nghĩa: Văn tự Bát Nhã, Quán chiếu Bát Nhã, Thật tướng Bát Nhã.

    Văn tự Bát Nhã: Tất cả mọi Kinh, Luật, Luận đều thuộc về Văn tự Bát Nhã. Đây là văn tự xuất thế gian, chẳng phải văn tự thế gian; văn tự thế gian không diễn đạt được Bát Nhã, chỉ nói được trí tuệ thế gian.

    Thật tướng Bát Nhã: Thật tướng là gì? “Cái gọi thật tướng, chính là vô tướng vậy”, xưa nay vốn không có tướng, nhưng lại đầy đủ tất cả tướng, hàm nhiếp tất cả tướng; tất cả tướng đều lưu xuất từ vô tướng, đó chính là “Thật tướng” Bát Nhã. Dùng Văn tự Bát Nhã làm cơ sở cho Quán chiếu Bát Nhã, là tự tướng vốn có bên trong của tất cả mọi người. Đây gọi là “Bát Nhã”.

    + Thời Pháp Hoa và Niết Bàn: Thứ năm là “Thời Pháp Hoa và Niết Bàn”. Pháp Hoa chính là bộ Kinh Pháp Hoa hiện chúng ta đang học. Phật nói bộ Kinh Pháp Hoa trong suốt 8 năm, nói Niết Bàn trong vòng một ngày một đêm, nên nói “Pháp Hoa, Niết Bàn chung tám năm”. Kinh Pháp Hoa nói lên lý rốt ráo, là pháp môn cứu cánh nhất.

    Đức Phật trước nói Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã đều vì dọn sẵn đường để nói Kinh Pháp Hoa, nên bộ kinh này được gọi là ‘Khai quyền hiển thật” (mở ra phương tiện để hiển bày lý chân thật). Kinh Pháp Hoa là chân tâm, chân thân, Pháp thân, đồng thời cũng là Ứng thân, Báo thân Phật. Cho nên những người nghiên cứu Phật pháp đều cho rằng kinh Pháp Hoa là một bộ kinh rốt ráo nhất trong các bộ kinh. Trong Phật giáo thường nói: “Khai tuệ đích Lăng Nghiêm, Thành Phật đích Pháp Hoa”.

    Tức là bộ kinh để khai mở trí tuệ chính là “Kinh Lăng Nghiêm”; còn muốn thành Phật, nhất định phải học “Kinh Pháp Hoa”. Cho nên kinh Pháp Hoa có vị trí quan trọng nhất trong hệ thống giáo lý Phật giáo.

    – Bát Giáo: Tông Thiên Thai lại phân định giáo lý thành Tám giáo. Trong tám giáo chia thành bốn Giáo Hóa Pháp và bốn Giáo Hóa Nghi. Bốn Giáo Hóa pháp và bốn Giáo Hóa nghi cũng giống như phương thuốc và vị thuốc; Bốn giáo Hóa nghi là cách thức, cách làm của Phật khi giáo hóa chúng sinh, giống như bác sĩ cho toa thuốc. Bốn giáo Hóa pháp là pháp môn giáo hóa chúng sinh, giống như vị thuốc được uống.

    + Bốn giáo Hóa pháp: Đó là Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo:

    Tạng giáo: Chính là giảng về tam tạng “Kinh, Luật, Luận”, nói pháp “Nhân Duyên, Tứ Đế”, chủ yếu dạy cho hàng Nhị thừa, thứ đến dạy Bồ tát.

    Thông giáo: Là điểm khởi đầu của Đại thừa, nói về “Tứ Chân Đế” và “Lục Độ” không sinh diệt, thông cả Tam thừa cùng học, là pháp Tam thừa cùng tu, lấy Bồ tát Thông giáo làm đối tượng chính, nhị thừa làm đối tượng phụ.

    Biệt giáo: Là điểm kết của Đại thừa, dùng pháp Đại thừa vô thượng nói pháp môn Bát Nhã “Nhất thiết pháp không” để dạy Bồ tát Biệt giáo.

    Viên giáo: Thuần viên độc diệu, nói “Trung đạo thật tướng” sự lý viên dung, chỉ một Phật thừa không xen tạp ba giao trước. Viên giáo lại chia làm 2 loại: “Đồng viên và Biệt viên”. Một thừa pháp chung căn cơ cho cả tam thừa, gọi là “Đồng viên”, như “Kinh Pháp Hoa”, chủ yếu dạy cho Bồ tát lợi căn tối thượng, kế dạy cho bậc Thánh tam thừa. Một thừa pháp hoàn toàn khác với căn cơ tam thừa, chỉ dành riêng cho bậc đại căn viên đốn, gọi là “Biệt viên”, như “Kinh Hoa Nghiêm”, lấy Bồ tát lợi căn tối thượng làm đối tượng.

    + Bốn giáo Hóa Nghi: Đó là Đốn giáo, Bí mật giáo và Bất định giáo:

    Đốn giáo: Vì sao gọi là Đốn? Viên giáo chính là giáo viên dung tối thượng, nếu như thêm “Đốn” sẽ lập tức thành Phật, không cần chờ đợi, tức khắc thành Phật. Chữ Đốn là lập tức, hốt nhiên, hốt nhiên khai ngộ.

    Tiệm giáo: Tiệm là tu hành từng bước, khai ngộ từ từ. Ba giáo A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã ở trước Kinh Pháp Hoa đều thuộc Tiệm giáo.

    Bí Mật giáo: Bí mật giáo Bí Mật Phật thuyết. Giáo Bí Mật là gì? Là những thần chú đã được tuyên thuyết. Tất cả những thần chú này đều gọi là “Bí Mật”. Bí Mật là “Vị bỉ thuyết nhi thử bất tri,vị thử thuyết nhi bỉ bất tri”; dạy pháp cho người kia, người này không biết; dạy pháp cho người này, người kia cũng không biết, không biết lẫn nhau.

    Bất định giáo: Là thuyết pháp không có nhất định, như nói “Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” (pháp còn phải bỏ, huống gì chẳng phải pháp). Pháp luôn luôn hoạt động, nên không nhất định.

    Tóm lại, trong hệ thống Kinh Tạng Phật giáo thì kinh Pháp Hoa có vị trí cao nhất, điều này thể hiện trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy Bồ Tát Tú Vương Hoa rằng: “Này Tú Vương Hoa, trong các dòng nước như là sông, ngòi, kênh, rạch thì biển là lớn nhất; trong các kinh thì kinh Pháp Hoa này là lớn nhất”.

    b. Vai trò của kinh Pháp Hoa.

    Một đặc điểm khác đã đưa kinh Pháp Hoa lên ngôi vị cao nhất trong hệ thống kinh điển Đại Thừa là cái khả năng dung hợp, chấp nhận mọi bộ phái trong đạo Phật.

    Đạo Phật có nhiều bộ pháp khác nhau, khi Đại thừa Phật giáo xuất hiện thường chỉ trích Phật giáo Tiểu thừa. Những người theo Đại thừa chê những người theo Tiểu thừa là “Tiêu nha bại chủng”. Tức những người theo Tiểu thừa là những người tiếp nhận hạt giống từ bi, trí tuệ, giải thoát, an lạc từ Phật Pháp, mà không gieo trồng và phát triển để những hạt giống này trở thành những gì tốt đẹp cho nhân loại, thì họ chỉ làm cho hỏng những hạt giống của Phật Pháp.

    Kinh Pháp Hoa ra đời đóng vai trò quan trọng trong công cuộc hàn gắn sự đổ vỡ của các trường phái Phật giáo. Mặt khác đặt lại giá trị của mọi đường lối tu tập và nhất là giá trị tâm thức hướng thiện, hướng thượng của mọi chúng sinh. Sự tồn tại của Đức Phật là vĩnh cửu, mọi hiện tượng dưới con mắt người giác ngộ đều là biểu hiện chân lý. Ý tưởng này đã làm nền tảng cho tư tưởng Đại thừa và con đường thực hành Bồ-tát hạnh.

    Với một đường lối dung hòa, với tư tưởng phóng khoáng siêu thoát, Kinh Pháp Hoa đã đạt được mục đích của mình là khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến. Có lẽ cũng vì vậy mà kinh được tôn thờ quý kính, hành trì và phổ biến một cách sâu rộng. Vì vậy cho nên vai trò của kinh Pháp Hoa rất lớn ở trong truyền thống Phật giáo Đại thừa.

    4. Lịch sử phiên dịch và truyền bá kinh Pháp Hoa

    Kinh Pháp Hoa được phiên dịch từ tiếng Phạn ra nhiều thứ tiếng như tiếng Hán, tiếng Tây Tạng, tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Việt…vv.

    a. Tại Trung Quốc: Kinh Pháp Hoa được dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán từ rất sớm, những bộ Kinh Pháp Hoa được dịch ra tiếng Hán như:

    1. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh– 7 quyển, do ngài Cưu Ma La Thập (Kumarajiva) đời Diêu Tần dịch năm Hoằng Thủy thứ 4 (402 TL)
    2. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh – 8 quyển cũng do ngài Cưu Ma La Thập đời Diêu Tần dịch năm Hoằng Thủy thứ 8 (406 TL)
    3. Pháp Hoa Tam Muội Kinh – 6 quyển, do ngài Chi Cương Lương Tiếp (Kalasivi) đời Ngô dịch năm 255 TL.
    4. Tất Đàm Phần Đà Lị Kinh – 6 quyển, do ngài Pháp Hộ (Dharmaraksaq) đời Tây Tấn dịch khoảng năm 256 TL.
    5. Tất Đàm Phần Đà Lị Kinh – 6 quyển, do ngài Đàm Ma La Sát dịch vào niên hiệu Thái Thủy thứ nhất đời Tấn Vũ Đế.
    6. Chính Pháp Hoa Kinh – 10 quyển, cũng do ngài Pháp Hộ dịch năm 286 TL vào thời Tây Tấn.
    7. Thiêm Phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh – 7 quyển, do ngài Xà Na Hốt Đa và ngài Đạt Ma Cấp Đa cùng nhau dịch ở năm 601 TL đời Tùy.

    Ngoài ra một số dịch bản khác vẫn được ghi lại trong Thư Mục Trung Quốc, nhưng không thấy lưu truyền. Trong những bản dịch vừa kể trên, bản dịch của ngài Cưu Ma La Thập thì được phổ cập nhất.

    b. Tại Việt Nam: Sự nghiệp phiên dịch kinh luận của người Việt Nam cũng được phát triển rất sớm và rất mạnh vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ hai. Lịch sử dịch Kinh Pháp Hoa của người Việt Nam có thể chia làm ba thời kỳ khác nhau: thời kỳ chữ Hán, thời kỳ chữ Nôm và thời kỳ chữ Quốc Ngữ.

    + Thời kỳ chữ Hán: Đạo tràng phiên dịch kinh điển Phật giáo ở Giao Châu đã được thành lập sớm nhất vào thời Hậu Hán, gọi là trung tâm  Luy Lâu. Tại trung tâm Luy Lâu, một bộ Kinh Pháp Hoa gồm 6 quyển được dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán vào năm 256 TL và từ đó đạo tràng Giao Châu càng thêm sáng chói trên văn đàn Trung Quốc. Tiếp theo đó một số tu sĩ Việt Nam được Trung Quốc mời vào cộng đồng phiên dịch tại Trường An (theo tài liệu trong Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh).

    + Thời kỳ chữ Nôm: Các nhà sư Việt Nam rất tinh thông Hán học và cũng rất giàu lòng yêu nước, yêu văn hóa dân tộc. Với tinh thần độc lập tự chủ sẵn có, các nhà sư này muốn thoát ly ảnh hưởng văn hóa Bắc thuộc, liền sử dụng ký hiệu Quốc Âm để chuyển ngữ kinh Phật thành ra chữ Nôm. Hiện nay nhiều tài liệu Phật Giáo bằng ảnh hưởng Quốc Âm (chữ Nôm) vừa mới tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam được xem là những tác phẩm sớm nhất. Bộ Quốc Dịch Pháp Hoa Kinh bằng chữ Nôm hiện còn giữ tại Đông Dương Văn Khố Tokyo đã nói lên tinh thần sáng tạo và độc lập tự chủ của tiền nhân.

    + Thời kỳ Quốc Ngữ: Người đầu tiên biên soạn thành bộ kinh Pháp Hoa bằng Việt Ngữ chính là cư sĩ Đoàn Trung Côn. Vào năm 1937, cư sĩ Đoàn Trung Côn dựa theo hai bản dịch của chữ Pháp và chữ Hán để biên soạn gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh. Mười năm sau, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh căn cứ vào bộ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh bằng chữ Hán của ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Việt Ngữ để giúp cho các giới Phật tử tiện việc trì tụng và nghiên cứu. Đến nay thì có rất nhiều bản dịch tiếng Việt kinh Pháp Hoa khác nữa như bản dịch của Hòa Thượng Tuệ Hải, Hòa Thượng Trí Quang..vv

    Sự nghiên cứu và lưu truyền Kinh Pháp Hoa rất sâu rộng, ở Ấn Độ, Bồ tát Long Thụ khi trước tác Đại Trí Độ Luận đã dẫn chứng Kinh Pháp Hoa và Ngài có một tác phẩm giải thích Pháp Hoa và Pháp Hoa Thích Luận. Ngài Thế Thân, một Luận sư nổi tiếng có lược dịch và giải thích Pháp Hoa qua bộ Pháp Hoa Luận. Ở Trung Hoa, những bản chú giải, sớ giải về Pháp Hoa của các nhà nghiên cứu Phật học qua các thời đại rất nhiều, nổi bật là Trí Giả Đại sư, căn cứ vào kinh Pháp Hoa để thành lập lên của tông Thiên Thai, đồng thời trước tác các tác phẩm nổi tiếng như Pháp Hoa Huyền Nghĩa, Pháp Hoa Văn Cú..vv.

    II. NĂM TẦNG HUYỀN NGHĨA KINH PHÁP HOA

    1. Thích Danh

    a. Phương pháp lập đề

    Trong năm tầng huyền nghĩa, đầu tiên là Thích danh, tức là giải thích tên kinh, đó là huyền nghĩa thứ nhất. Trước khi giải thích bất cứ một bài kinh nào, phải tìm hiểu phương pháp lập đề của bộ kinh đó là gì. Thông thường có bảy phương pháp lập đề như sau:

    1. Đơn Nhân Lập Đề: Lấy riêng tên người để lập đề, như kinh Phật thuyết A Di Đà.
    2. Đơn Pháp Lập Đề: Lấy riêng Pháp để lập đề, như kinh Niết Bàn. Niết Bàn vốn là một pháp; Niết nghĩa là bất sinh, Bàn nghĩa là bất diệt. Niết Bàn là pháp không sinh không diệt.
    3. Đơn Dụ Lập Đề: Lấy riêng Dụ để lập đề, như Kinh Phạm Võng là dùng ví dụ đặt thành tên kinh.
    4. Nhân Pháp Lập Đề: Phối hợp Nhân và Pháp để lập đề. Ví như kinh Văn Thù Vấn Bát Nhã. Bồ tát Văn Thù là người, Bát Nhã là pháp.
    5. Nhân Dụ Lập Đề: Phối hợp Nhân và Dụ để lập đề. Ví dụ như kinh Như Lai Sư Tử Hống Kinh. Như Lai là một trong 10 đức hiệu của Phật, Như Lai là người. Sư tử hống là dụ.
    6. Pháp Dụ Lập Đề: Phối hợp Pháp và Dụ để lập đề. Như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Diệu Pháp là pháp, Liên Hoa là dụ.
    7. Cụ Túc Nhất Đề: Phối hợp cả Nhân – Pháp và Dụ thành một đề đầy đủ. Như Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Đại Phương Quảng là pháp, Phật là Nhân, Hoa Nghiêm là Dụ.

    Tóm lại, kinh này lấy Diệu Pháp Liên Hoa làm tên. Tức là phối hợp Pháp và Dụ để lập đề. Vì Diệu Pháp là pháp khó hiểu, khó nắm bắt, nên dùng hoa sen làm ví dụ cho Diệu Pháp nhằm người nghe dễ hiểu.

    b. Giải thích tên: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

    – Giải thích từ Kinh: Chữ Kinh là tên chung, tất cả pháp Phật nói đều gọi là kinh. Chữ Kinh trong đạo Phật bao hàm các ý nghĩa cơ bản là Quán – Nhiếp – Thường – Pháp.

    1. Nhiếp: Nghĩa là “nhiếp trì sở hóa cơ” thâu nhiếp hết mọi căn cơ để hóa độ. Tất cả chúng sinh đều được hóa độ, người nào thích dùng vị chua, ngọt, đắng, cay, mặn, trong kinh đều có đủ; ai thích tu theo pháp môn nào, trong kinh cũng không thiếu.
    2. Thường: Là vĩnh viễn không đổi. Những kinh điển từ khi Phật nói cho đến nay, không ai có thể sửa đổi, một chữ cũng không thêm không bớt; không tăng không giảm, nên gọi là “Kinh”.
    3. Pháp: Chính là “phương pháp”. Phương pháp trong kinh nói là phương pháp mà chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều nói. Tất cả chúng sinh trong quá khứ, hiện tại, vị lai đều phải y chiếu theo những phương pháp đó mà tu học, nên gọi là “pháp”.

    Chữ Kinh còn có rất nhiều nghĩa khác nữa. Kinh, theo tiếng Phạn là Tu-đa-la (Sutra); Trung Hoa dịch là Khế kinh. Khế tức là khế hợp, trên thì khế hợp với tâm Phật, dưới thì khế hợp với tâm chúng sinh. Cho nên, Phật, chúng sinh, tâm, cả ba đều không khác biệt nhau; đây cũng chính là nghĩa chữ kinh.

    – Giải thích Diệu Pháp: Diệu là mầu nhiệm không thể nghĩ bàn; Pháp là pháp môn để đạt đến sự giác ngộ cuối cùng. Diệu Pháp là pháp môn mầu nhiệm không thể nghĩ bàn, vượt ra ngoài sự suy lường tính toán, đoạn tuyệt ngôn ngữ. Pháp môn mầu nhiệm này gọi là Phật tri kiến, Linh Giác căn bản (bản giác), hay Chân Tâm mầu nhiệm, Bản tướng chân thường..vv.

    Giải thích từ Liên Hoa: Liên hoa tức là hoa sen. Hoa sen có đặc tính hy hữu, siêu việt hơn các loài hoa khác ở chỗ nó sinh trưởng từ bùn lầy mà không nhiễm hôi tanh, vẫn tỏa hương thơm ngát. Hoa sen dụ cho Diệu Pháp, cho Chân tâm của chúng chúng tôi Chúng sinh tuy sống ở cõi Ta bà uế trược nhưng chân tâm mầu nhiệm thường hằng thanh tịnh. Ca dao tục ngữ Việt Nam cũng nói về hoa sen như sau:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng là xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

    Theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa, hoa sen có ba dụ: Vì có sen nên có hoa; Hoa nở thì sen hiện; Hoa rụng thì sen thành.

    Hoa sen sở dĩ có ba dụ là vì Diệu Pháp nhiệm màu khó giải thích, phải mượn ví dụ để cho dễ hiểu. Hoa sen là biểu tượng cho Nhân (hoa) và Quả (sen) phát sinh cùng một lúc, cũng như Diệu Pháp là thể hiện Quyền (phương tiện) và Thật (chân thật) đồng một bản thể. Vì thế Đức Phật dùng hoa sen để dụ Quyền và Thật của Diệu Pháp.

    + Vì có sen nên có hoa: gồm hai thí dụ:

    Dụ thứ nhất – vì Thật nói Quyền: Thật là pháp chân thật tức là Nhất Thừa và Quyền là pháp phương tiện tức là Tam thừa. Sen ở đây là dụ cho Thật và Hoa ở đây là dụ cho Quyền. Đức Phật vì pháp chân thật của Nhất Thừa mà thiết lập pháp Quyền (phương tiện) của Tam thừa. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói rằng: “Mặc dù chỉ bày nhiều thứ đạo, nhưng kỳ thật không ngoài Phật Thừa”.

    Dụ thứ hai – Từ nơi Bản Môn hiển bày Tích Môn: Bản Môn nghĩa là chỉ cho pháp Thân căn bản của đức Phật Thích Ca đã có từ vô thủy, đã thành Phật từ lâu xa, cũng gọi là Cổ Phật. Tích Môn nghĩa là chỉ cho Hóa Thân của đức Phật Thích Ca, có dấu tích lịch sử đản sinh, xuất chúng tôi cũng gọi là Tân Phật. Sen ở đây là dụ cho Bản Môn (Cổ Phật) và Hoa ở đây là dụ cho Tích Môn (Tân Phật). Pháp Thân của đức Như Lai thuộc Bản Môn đã thành Phật từ lâu xa, nhưng vì muốn độ chúng sinh nên mới sinh vào nơi nước Ca Tỷ La Vệ làm Hóa Thân thuộc Tích Môn. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Đúng ra ta thật sự đã thành Phật từ lâu xa, chỉ vì giáo hóa chúng sinh mà nói rằng, ta mới xuất gia và chứng đặng Tam Bồ Đề”.

    + Hoa nở thì sen hiện. Cũng có hai ví dụ:

    Dụ thứ nhất – là khai Quyền hiển Thật. Khai Quyền nghĩa là mở bày pháp phương tiện và Hiển Thật nghĩa là thể hiện pháp chân thật. Hoa nở ở đây là dụ cho Khai Huyền và Sen Hiệu ở đây là dụ cho Hiền Thật. Thí dụ này là biểu tượng Đức Như Lai quyền khai ba thừa để hiển bày pháp chân thật của Nhất Thừa. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Khai phương tiện môn để chỉ bày tướng chân thật”.

    Dụ thứ hai – khai Tích hiển Bản: Khai Tích nghĩa là mở bày Hóa Thân thuộc Tân Phật và Hiền Bản nghĩa là hiển bày Pháp Thân thuộc Cổ Phật. Hoa Nở ở đây là dụ cho khai mở Tích Môn và Sen Hiện ở đây là dụ cho hiển bày Bản Môn. Cho nên Kinh Pháp Hoa nói: “Tất cả thế gian đều cho ta nay mới đắc đạo. Ta thật sự đã thành Phật từ vô lượng vô biên na do tha kiếp cho đến nay”.

    Hoa rụng thì sen thành. Cũng có hai thí dụ:

    Dụ thứ nhất – bỏ Quyền lập Thật: Bỏ Quyền nghĩa là phế bỏ pháp phương tiện của Tam Thừa và lập Thật nghĩa là thiết lập pháp chân thật của Nhất Thừa. Hoa rụng ở đây là dụ cho bỏ Quyền và sen thành ở đây là dụ cho lập Thật. Thí dụ này là biểu tượng đức Như Lai phế bỏ pháp phương tiện của ba Thừa để kiến lập pháp chân thật của Nhất Thừa. Cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Đúng ra xả  bỏ phương tiện, chỉ nói đạo vô thượng”.

    Dụ thứ hai – bỏ Tích lập Bản: Bỏ Tích nghĩa là phế bỏ Tân Phật thuộc Hóa Thân và lập Bản nghĩa là thiết lập Cổ Phật thuộc Pháp Thân. Hoa rụng ở đây là dụ cho bỏ Tích (Tân Phật) và sen thành ở đây là dụ cho lập Bản (Cổ Phật). Cho nên kinh Pháp Hoa nói: “Các đức Như Lai, pháp đều như thế; vì độ chúng sinh, thật sự không hư”.

    Như vậy, Hoa sen biểu tượng cho nguyên lý nhân quả đồng thời.

    Hoa sen có hai phần: Cánh và Nhụy của hoa thì thuộc về Nhân (hoa); Gương và Hạt thì thuộc về Quả (sen). Một đóa sen gồm có cánh nhụy và gương hạt đều thể hiện cùng một lúc gọi là nhân quả đồng thời, nghĩa là Quả không ngoài Nhân và Nhân không ngoài Quả. Quả tức là Nhân và Nhân tức là Quả. Từ ý nghĩa này người tu Diệu Pháp là tạo nhân thì Thể Tướng Chân Tâm nhất định hiện bày là quả.

    Tóm lại, Liên hoa biểu thị cho diệu pháp, liên hoa chính là diệu pháp, diệu pháp cũng chính là liên hoa. Liên hoa là dụ cho bộ kinh này. Diệu Pháp Liên Hoa là biệt danh của bộ kinh này. Biệt nghĩa là “đặc biệt” bởi vì nó khác biệt, nó không cùng tên với các kinh điển khác của Phật.

    2. Hiển Thể.

    Sau khi giải thích về tên kinh, chúng ta phải làm rõ thể của bộ kinh. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa lấy Thật Tướng làm thể. Trong kinh nói: “Thật Tướng vô tướng, vô sở bất tướng”. Tất cả các tướng đều do “Thật Tướng” sinh ra. Không chỉ tất cả tướng, mà tất cả chư Phật, tất cả Bồ Tát, tất cả Thanh văn, Duyên giác cũng đều từ “Thật Tướng” sinh ra, cho đến tất cả vạn sự vạn vật đều từ “thật tướng” sinh ra. Thể của bộ Kinh này, chính là “chư Pháp thật tướng”; cho nên tất cả chư Phật, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác, cho đến tất cả chúng sinh đều từ kinh Pháp Hoa sinh ra.

    3. Minh Tông

    Tên kinh đã biết, thể cũng đã nhận rõ, vậy rốt cuộc bộ kinh này lấy cái gì làm tông chỉ? Bộ kinh này lấy “Nhất Thừa nhân quả” làm tông chỉ. Ban đầu Phật nói có ba thừa, cuối cùng Đức Phật nói kinh Pháp Hoa, quy tất cả các thừa về một thừa duy nhất, đó chính là Phật thừa. Trong kinh nói: “Duy nhất Phật Thừa, cánh vô dư thừa”. Kinh Pháp Hoa dùng hoa sen để biểu đạt cho diệu pháp là để nói lên ý nghĩa nhân quả có cùng một lúc. Bởi đối với hoa sen thì khi hoa sen nở là có hạt sen, hoa quả đồng thời. Bộ kinh này lấy “Nhất Thừa nhân quả” làm tông; nhân là “nhân Phật”, quả là “quả Phật”, nên gọi là “nhất thừa nhân quả”.

    4. Luận Dụng

    Dụng tức là lực dụng, tác dụng của kinh điển. Kinh Pháp Hoa lấy việc đoạn nghi sinh tín làm dụng. Khi cơ duyên của chúng sinh tròn đầy, Đức Phật dùng Đại Thừa Diệu Pháp để khai thị, trên phương Tích Môn thì khiến họ dứt hẳn cái nghi về quyền để sinh cái tin về thật; trên phương diện Bản Môn thì khiến họ dứt hẳn cái nghi ngờ gần để sinh cái tin nơi xa. Tức dứt bỏ mọi nghi ngờ để tin vào Nhất Phật thừa nên gọi Đoạn Nghi Sinh Tín làm dụng.

    5. Giáo Tướng

    Kinh Pháp Hoa lấy Vô Thượng Đề Hồ làm giáo tướng. Thánh nhân tỏ lòng dạy bảo gọi là giáo, phân biệt đồng dị gọi là Tướng. Sự mầu nhiệm của kinh Pháp Hoa thì rất thuần nhất và tròn sáng, dung hợp tất cả Tam thừa về một Phật thừa duy nhất. Nhưng sự khác biệt của nó là biến ra từng mảng các giáo lý của kinh, cũng như dụ cho chất Đề Hồ. Cũng như Đề hồ vậy, sữa lấy từ bò, rồi từ sữa làm ra lạc, từ lạc làm ra sinh tô, từ sinh tô làm ra thục tô, thục tô tinh luyện làm đề hồ. Đề hồ mới là tinh túy nhất làm ra từ sữa, là hơn tất cả. Cho nên gọi Vô Thượng Đề Hồ làm giáo tướng.

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Hoa Hồng Xanh Lá (Lục)
  • Màu Hoa Đặc Biệt Từ Biến Đổi Gen!!
  • Hoa Hồng Xanh – Loài Hoa Đặc Biệt Với Những Ý Nghĩa Đặc Biệt
  • Nguồn Gốc Đặc Biệt Và Ý Nghĩa
  • Truyền Thuyết Hoa Hồng Xanh Là “Nữ Hoàng” Của Các Loài Hoa Tượng Trưng Cho Tình Yêu
  • Ý Tưởng Đặt Tên Cho Con Trai Họ Lê Theo Nho Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Dịch Vụ Đặt Tên Cho Con Theo Tứ Trụ, Kinh Dịch, Phân Tích Ngũ Hành
  • Tư Vấn Đặt Tên Cho Con Trai, Con Gái Theo Mệnh Mộc
  • Đặt Tên Cho Con Theo Phong Thủy Năm Giáp Ngọ 2014
  • Đặt Tên Công Ty Theo Phong Thủy Miễn Phí
  • Đặt Tên Con Theo Các Loài Hoa
  • Nguồn gốc dòng họ Lê

    Lê là dòng họ lớn thứ 3 trong danh sách những dòng họ phổ biến nhất ở nước ta.

    Đặt Tên Cho Con theo 4 HỌ lớn nhất Việt Nam

    Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đã có rất nhiều vị anh hùng dân tộc, danh nhân nổi tiếng mang họ Lê.

    Điển hình nhất có thể kể tới hai triều đại nhà Lê hưng thịnh: Tiền Lê, Hậu Lê. Gắn liền tên tuổi hàng loạt vị minh quân lưu danh sử sách như: Vua Lê Đại Hành, Lê Thánh Tông, Lê Nhân Tông, Lê Lợi,…

    Hay các nhân vật đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng đất nước:

    + Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương: Lê Hồng Phong

    + Đại tướng Lê Đức Anh

    + Đại tướng – Bộ trưởng Bộ Công An: Lê Hồng Anh

    + Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam: Lê Duẩn

    + Nhà bác học Lê Quý Đôn

    + Nhà từ điển học Lê Khả Kế,…. Và còn rất nhiều người con mang họ Lê đã ghi tên tuổi của mình vào trang sử sách vàng son của dân tộc.

    Nếu con bạn may mắn được sinh ra và mang dòng máu họ Lê. Gia tộc đã sản sinh ra không biết bao nhiêu vị anh hùng tài ba kiệt xuất này, ắt hẳn đó là một niềm tự hào, lấy làm vinh dự. Chính vì thế, việc Đặt tên cho con trai Họ Lê rất cần được bố mẹ quan tâm, lựa chọn tên phù hợp. Giúp phò trợ cho bé yêu được thuận lợi và thành công trên bước đường tương lai.

    Mách bạn cách Đặt Tên Cho Con trai họ Lê ý nghĩa

    Thực ra, không riêng gì họ Lê mà ở những dòng họ khác, vấn đề đặt tên gì cho con luôn là mối quan tâm hàng đầu của bậc bố mẹ. Không chỉ có tên con trai mới được chăm chút, cân nhắc lựa chọn, mà tên con gái càng cần bố mẹ suy nghĩ, đắn đo nhiều hơn. Ở bài viết này chỉ xin đi sâu vào một nội dung, đó chính là đặt tên cho con trai họ Lê.

    Top 50 gợi ý Đặt tên cho con trai Họ Lê hay nhất 2021

    + Lê Anh Dũng: mạnh mẽ, can đảm, sẵn sàng vượt qua mọi thử thách, khó khăn trong cuộc sống, hội tụ khí chất anh hùng của bậc tiền nhân họ Lê.

    + Lê Bảo Châu: con chính là viên ngọc quý giá của bố mẹ, của cả gia đình, dòng họ.

    + Lê Gia Hưng: gia đình sẽ hạnh phúc, hưng thịnh, làm ăn phát đạt từ khi có con yêu.

    + Lê Hiếu: bố mẹ hy vọng con sẽ trở thành một người con hiếu thảo, giàu tình nhân ái, bao dung, yêu thương giúp đỡ mọi người.

    + Lê Đức Thành: vừa có đức, vừa có tài năng, nhất định con sẽ thành công.

    + Lê Trung Kiên: trung thành và kiên cường, hai tố chất cần có của đấng nam nhi đại trượng phu, nhất định sẽ đưa con đến thành công.

    + Lê Minh Trí: trí tuệ, thông minh sáng suốt, hiểu lý lẽ, nhìn thấu mọi sự trên đời

    + Lê Đình Bảo: mạnh mẽ, kiên cường, vững chãi, là chỗ dựa vững chắc, đáng tin cậy

    + Lê Hoàng Triết: con sẽ có một tương lai giàu sang phú quý, có cốt cách của người lãnh đạo thành công.

    + Lê Nhật Trường: con tài giỏi, mạnh mẽ, kiên cường, giàu ý chí nghị lực, thông minh. Nhất định tương lai con sẽ gặp nhiều điều tốt đẹp, may mắn, tiền đồ sáng sủa như vầng dương.

    Đặt Tên Cho Con trai họ Lê theo tư tưởng Nho giáo “quen mà lạ”

    Nho giáo là gì?

    Nho giáo, hay còn gọi là đạo Nho, đạo Khổng. Đây là một hệ thống đạo đức, triết lý giáo dục, triết lý nhân sinh, xã hội, chính trị được Khổng Tử đề xuất và giảng dạy cho môn sinh của mình. Mục đích của Nho giáo chính là nhằm để giáo huấn, răn dạy con người sống và làm theo lẽ phải, phân định được đúng sai, cùng chung tay góp sức xây dựng nên một xã hội hòa bình, hưng thịnh, mọi người yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.

    Theo quan niệm Nho giáo, nếu là nữ nhi nhất định phải tuân theo “Tứ đức tam tòng”, thước đo nhân cách là ở 4 đức tính “Công dung ngôn hạnh”. Còn ở đấng quân tử, bậc đại trượng phu cần đề cao 5 đức tính cao đẹp: “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín”.

    Ý tưởng Đặt tên cho Con trai họ Lê gắn liền đức tính người quân tử

    Khi đặt tên cho con, bố mẹ căn cứ theo nhân sinh quan của Nho giáo. Từ đó gửi gắm ý niệm mong muốn con khi lớn lên sẽ trở thành người đàn ông mạnh khỏe, thông minh lỗi lạc, tài giỏi, có ý chí, xứng đáng được nhiều người quý mến, nể trọng.

    5 đức tính vàng của đạo Khổng nhằm hướng con người trở thành một người nhân nghĩa, chín chắn, trưởng thành, có lòng bao dung độ lượng và sẵn sàng giúp đỡ người khác.

    Đặt tên cho con trai họ Lê tên Nhân

    Nhân, có nghĩa là người, chỉ những nét tính cách hay, giá trị cốt lõi bên trong. Chữ Nhân cũng chính là chữ đầu tiên trong 5 đức tính của đạo Khổng. Đặt tên con chữ Nhân thể hiện mong muốn của bố mẹ cầu mong con lớn lên sẽ trở thành một người lương thiện, nhân hậu, biết yêu thương giúp đỡ người khác, luôn làm việc tốt thì ắt nhận được quả ngọt. Đó cũng chính là đạo lý nhân quả ở đời.

    + Lê Anh Nhân

    + Lê Bảo Nhân

    + Lê Châu Nhân

    + Lê Hà Nhân

    + Lê Hậu Nhân

    + Lê Hoàng Nhân

    + Lê Kha Nhân

    + Lê Khánh Nhân

    + Lê Kiệt Nhân

    + Lê Phúc Nhân

    + Lê Phước Nhân

    + Lê Phương Nhân

    + Lê Thành Nhân

    + Lê Thiện Nhân

    + Lê Tú Nhân

    Đặt tên cho con trai họ Lê tên Lễ

    Lễ tức là lễ nghi, phép tắc, lễ nghĩa chuẩn mực trong đời sống xã hội. Lễ hình thành do quan niệm đạo đức và phong tục tập quán từ lâu đời. Bố mẹ đặt con tên Lễ với mong muốn con sau này sẽ trở thành người nhân nghĩa, biết phép tắc. Biết quý trọng những chuẩn mực đạo đức, đối đãi thân thiện, ôn hòa với mọi người xung quanh. Bày tỏ sự tôn kính, khiêm nhường.

    Gợi ý cách đặt tên cho con trai họ Lê tên Lễ:

    + Lê Hữu Lễ

    + Lê Ngọc Lễ

    + Lê Tín Lễ

    + Lê Vạn Lễ

    + Lê Tôn Lễ

    Đặt tên cho con trai họ Lê tên Nghĩa

    Nghĩa – chỉ đức tính sống có đạo lý, biết trước biết sau, tôn trọng lẽ phải, chính nghĩa. Đặt tên cho con là Nghĩa với mong ước con lớn lên sẽ là người sống theo chính đạo, công bằng, là chỗ dựa đáng tin cậy, vững chắc cho mọi người. Thế mới là đấng “chính nhân quân tử” đích thực. Đồng thời, bố mẹ cũng gửi gắm kỳ vọng con sẽ trở thành người vừa có tài vừa có đức, gây dựng được tiếng tăm, danh nghĩa, làm rạng danh gia đình, dòng tộc.

    Tham khảo một số tên gợi ý hay sau đây:

    + Lê Đại Nghĩa

    + Lê Đức Nghĩa

    + Lê Danh Nghĩa

    + Lê Hiếu Nghĩa

    + Lê Hoàng Nghĩa

    + Lê Hữu Nghĩa

    + Lê Mạnh Nghĩa

    + Lê Minh Nghĩa

    + Lê Nhân Nghĩa

    + Lê Quang Nghĩa

    + Lê Trọng Nghĩa

    + Lê Văn Nghĩa

    + Lê Xuân Nghĩa

    Đặt tên cho con trai họ Lê tên Trí

    Trí – là đức tính thứ 4 trong 5 đức tình tốt đẹp cần có của người quân tử. Người có trí, trước tiên là có trí tuệ, thông thái, lỗi lạc, từ đó biết suy xét trước sau và hành động theo đúng lẽ phải.

    Giải nghĩa Hán Việt, “trí” là từ chỉ trí tuệ, trí khôn, chỉ những người có học thức uyên thâm, quảng đại, tài giỏi. Đặt tên con là Trí với hy vọng tương lai con sẽ là đứa trẻ có học thức, thông minh, thấu hiểu đạo lý làm người. Có tương lai tiền đồ sán lạn, hanh thông.

    Một số tên gợi ý:

    + Lê Anh Trí

    + Lê Đại Trí

    + Lê Dân Trí

    + Lê Đạt Trí

    + Lê Dũng Trí

    + Lê Gia Trí

    + Lê Hải Trí

    + Lê Kiên Trí

    + Lê Lâm Trí

    + Lê Mẫn Trí

    + Lê Minh Trí

    + Lê Quang Trí

    + Lê Quân Trí

    + Lê Vũ Trí

    Đặt tên cho con trai họ Lê tên Tín

    Đức tính quân tử cuối cùng của người quân tử theo đạo Khổng chính là chữ Tín. Tín, tức là lòng trung thực, đức tính thủy chung, uy tín để khiến người khác có thể trông cậy, tin tưởng.

    Đặt tên con họ Lê tên Tín thể hiện rất nhiều mong ước, khát vọng của đấng sinh thành. Rằng mai sau con lớn lên sẽ trở thành người sống biết đạo nghĩa, có nhân cách, phẩm chất cao đẹp. Luôn lấy chữ tín làm kim chỉ nam hàng đầu. Trở thành chỗ dựa về lòng tin đáng tin cậy cho mọi người xung quanh. Những người luôn giữ được chữ tín, rất dễ thành công trong công việc và cuộc sống, được mọi người yêu mến, kính trọng.

    Một số gợi ý Đặt tên cho con họ Lê tên Tín:

    + Lê Anh Tín

    + Lê Bảo Tín

    + Lê Chí Tín

    + Lê Duy Tín

    + Lê Mạnh Tín

    + Lê Vĩnh Tín

    + Lê Minh Tín

    + Lê Xuân Tín

    + Lê Trung Tín

    Tạm kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Tên Họ Của Con Khác Họ Cha Mẹ Có Được Không?
  • Đặt Tên Cho Con Theo 12 Chòm Sao: Bạn Đã Nghĩ Đến Chưa?
  • Cách Đặt Tên Cho Con Gái Độc Đáo Và Thú Vị Nhất Theo Chòm Sao
  • Đặt Tên Cho Con Theo 12 Chòm Sao: Bạn Đã Nghĩ Đến Chưa? * Hello Bacsi
  • Đặt Tên Cho Con Thế Nào Mới Tốt
  • Hệ Thống Các Vị Phật, Bồ Tát Và Thần, Quỷ Trong Phật Giáo

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Vị Bồ Tát Trong Phật Giáo
  • Ý Nghĩa Của Hoa Bồ Công Anh Loài Hoa Mang Ước Mơ Đi Xa * Nekko Shop
  • Bồ Công Anh, Loài Hoa Tiên Tri Của Tình Yêu Và Tượng Trưng Cho Những Giấc Mơ
  • Ý Nghĩa Hoa Anh Đào
  • Ý Nghĩa Hoa Anh Đào Biểu Tượng Quốc Hoa Của Nhật Bản
  • Đức Phật Cồ Đàm (Siddhattha Gotama) hay Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) là cái tên đã ăn sâu vào tâm thức của người Việt và chúng ta được nghe kể rất nhiều về cuộc đời của ông qua các truyền thuyết Phật giáo được lưu lại trong văn bản kinh sách, thế nhưng, nếu tiếp cận cuộc đời của ông dưới góc nhìn lịch sử thì sẽ thấy quá nhiều điểm mờ. Cũng giống như Jesus Christ, Thích Ca Mâu Ni không để lại nhiều vết tích khảo cổ (dù có nhiều thánh tích và kinh văn ghi ghép). Năm sinh và năm mất của Thích Ca Mâu Ni không được xác định chính xác, chỉ được ước đoán vào khoảng thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 5 Trước công nguyên, cùng thời đại với một nhà truyền giáo khác là Mahavira, người sáng lập Jain giáo (1). Có một sự tương đồng trong cuộc đời của Thích Ca Mâu Ni và Mahavira, đó là hai ông đều là các hoàng tử rời bỏ cung vàng điện ngọc để tu luyện và đắc đạo rồi rao giảng triết thuyết của mình để cứu rỗi dân chúng.

    Majjhima Nikaya (Trung Bộ Kinh – quyển thứ 2 trong số 5 quyển Nikāya) có nhắc đến chi tiết Thích Ca Mâu Ni đàm luận với một vị tu sĩ của Mahavira là Nigantha Dighatapassi và thu phục cư sĩ Jain giáo Upali tham giao giáo đoàn của Thích Ca Mâu Ni. Như vậy, ta có thể thấy, ở thời điểm Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, có một sự cạnh tranh giữa Phật giáo và Jain giáo, và cả hai giáo phái này đều đi ngược lại các truyền thống của Bà La Môn giáo đang thống trị ở Ấn Độ với các lề luật khắc nghiệt và sự phân biệt đối xử giữa các đẳng cấp. Không chỉ Phật giáo và Jain giáo, nhiều giáo phái và trường phái tư tưởng cũng nở rộ trong thời gian này như Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambalī, Pakudha Kaccāyana, and Sañjaya Belaṭṭhaputta, những vị được nhắc tới trong “Samaññaphala Sutta”(có nghĩa là “Qủa trái của đời sống chiêm niệm”, trích từ quyển 1 của Nikāya) (2). Các nhà nghiên cứu dự đoán thời đại của Đức Phật trùng với cuộc chinh phạt Thung lũng Indus của đế chế Achaemenid dưới thời đại trị vì của vua Darius I (3).

    Không có nhiều văn bản lịch sử ghi chép về Đức Phật trong vòng một đến hai thế kỷ sau thời đại của ông. Chỉ đến thời vua Ashokha vào giữa thế kỷ 3 TCN, Đức Phật mới được đề cập đến trong các đạo luật của vị vua này, và trên Trụ đá Rummindei khi Ashokha tưởng niệm cuộc hành hương của mình tới Lumbini, nơi được cho là ghi dấu sự kiện Đức Phật ra đời (7). Bản thảo Phật giáo lâu đời nhất được lưu lại tới nay là các văn bản Phật giáo Gandhāran, được tìm thấy ở miền đông Afghanistan và bảo quản tại Thư viện Anh quốc, được viết bằng ngôn ngữ Gāndhārī trên vỏ cây bạch dương, có niên đại từ thế kỷ I TCN đến thế kỷ 3 SCN. (8)

    “Then like Indra himself, and having tamed his senses,-desiring to return home he mounted his roble steed; and having made him turn back as he looked for his friends, from that moment he sought no more the desired forest.” (9)

    “Thế rồi, giống như chính Indra, sau khi đã thuần hóa được các giác quan của mình, – với mong muốn quay trở về nhà người đã cưỡi lên con ngựa cao quý của mình; sau khi quay lại để tìm kiếm bạn bè, từ khoảnh khắc đó người không còn tìm kiếm khu rừng mơ ước nữa.”

    Các cuốn kinh khác thuộc dòng đại thừa như Mahāvastu (kể về Lokottaravāda, chi phái Phật giáo đầu tiên theo quan điểm của đại thừa và thừa nhận sự siêu việt của Đức Phật), Lalitavistara Sūtra (tên tiếng Việt: Kinh Phổ Diệu, kể về sự đản sinh của Đức Phật) đều đề cập đến cuộc đời của Đức Phật và có niên đại vào khoảng thế kỷ thứ 3 SCN. Những chi tiết trong hai bộ kinh này khá tương đồng với Nidānakathā trong hệ kinh tiểu thừa bằng tiếng Pali, có niên đại khoảng thế kỷ 5 SCN. Qua các cuốn kinh này, ta được biết rằng cuộc đời Đức Phật được chia làm 3 giai đoạn:

    • Khi Đức Phật là một vị bồ tát dưới sự trị vì của Phật Dīpankara ( Nhiên Đăng) và những câu chuyện tiền kiếp.
    • Khi Đức Phật đầu thai làm thái tử rồi bỏ đi tu, thiền định và chứng ngộ
    • Những cuộc đàm luận cùng với giáo đoàn

    Nếu lược bỏ tất cả các huyền thoại mang nhiều màu sắc kỳ ảo, ta có thể biết những điều sau về Đức Phật dù không quá chắc chắn: Có một quý tộc của bộ tộc Shakya sống ở vùng núi Hymalaya, giáp ranh giữa Ấn Độ và Nepal hiện nay, đã từ bỏ ngôi vua để tu hành. Ông có thể đã trải qua nhiều pháp môn đang hiện hành ở Ấn Độ lúc bấy giờ, nhưng rồi ông đã chọn con đường thiền định và chiêm niệm trong tĩnh lặng dưới gốc cây bồ đề. Bằng con đường thiền định và chiêm niệm, ông đã có những nhận định về bản chất của thực tại và sự sống. Ông bắt đầu đi rao giảng những gì mình chiêm nghiệm và thu hút không ít các tín đồ. Cùng thời đại với ông cũng có nhiều nhà tư tưởng khác cùng rao giảng các triết thuyết khác nhau. Tư tưởng của ông được các đệ tử nhiều đời lan truyền nhưng họ cũng không quên bổ sung các chi tiết để phù hợp với trình độ, quan điểm, thân phận và nhiệm vụ họ phải gánh vác (chúng ta sẽ đi sâu vào điểm này ở phần I-2). Dù ông có những quyền năng huyền diệu như trong các cuốn kinh Phật đã thuật lại hay không thì tư tưởng của ông được phản chiếu qua ghi chép của nhiều thế hệ đệ tử cũng đã thay đổi thế giới, hướng con người vượt qua sự vô minh để đạt tới tự do đích thực.

    Lần đại hội tập kết kinh điển thứ ba được tổ chức dưới sự bảo trợ của vua Ashokha vào khoảng 325 TCN. Ashokha là quân vương của đế quốc Magadha (phiên âm Hán Việt: Ma Kiệt Đà). Vùng đất của đế quốc này thuộc đồng bằng sông Hằng, bang Bihar – Ấn Độ ngày nay. Vào thế kỷ thứ 4 TCN, đế quốc này đã thâu tóm được miền Bắc Ấn, sau đó rơi vào sự đô hộ của Alexandria Đại Đế nhưng triều đại triều đại Maurya đã phục hưng lại quyền lực của quý tộc người Ấn. Ashokha là một trong số các vị vua của triều đại Maurya, người đã thống nhất Ấn Độ. Với tiềm lực quân sự và chính trị của mình, vua Ashokha đã truyền bá Phật giáo đến Srikanka, Đông Nam Á, Tây Á, Trung Đông… Nguyên nhân của cuộc tập kết lần thứ ba này là do những mâu thuẫn trong tăng đoàn về vấn đề pha tạp giáo lý ngoại giáo với giáo lý của Đức Phật. Về hình thức, lần tập kết đại hội này vãn giống hai lần tập kết trước, và đi đến sự thống nhất trong hệ thống kinh điển bằng việc tổ chức bộ Tripiṭaka (tức Tam Tạng: gồm Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng) và bổ sung Kathàvatnu (tức Thuyết Sự) được soạn bởi Moggaliputta-tissa – chủ tọa của đại hội, vào Luận Tạng. Trong lần tập kết này, Moggaliputta-tissa phủ nhận toàn bộ các giáo lý mà ông cho là dị giáo mà chỉ thừa nhận những gì ông cho là Phật giáo chân chính. Tuy nhiên, cuộc tập kết kinh điển lần thứ ba này chỉ được ghi chép lại trong Luật tạng của Phật giáo Thượng tọa bộ trong khi Đại chúng bộ lại không hề được nhắc tới.

    Đại hội tập kết kinh điển lần thứ tư là tên gọi chung của hai cuộc tập kết tại Srilanka (25TCN) và Kashmir (78SCN). Dấu tích của hai cuộc tập kết kinh điển này còn được lưu lại đến nay bằng văn bản. Đây có thể xem làm những lần đầu tiên kinh Phật được ghi lại bằng chữ, bởi vì họ bắt đầu ý thức được sự nguy hiểm của việc không lưu trữ kinh điển trong khi chiến tranh liên miên có thể gây ra cái chết của các trưởng lão dẫn đến thất truyền giáo lý. Kinh văn sau lần tập kết ở Srilanka được ghi chép trên lá cọ, còn tại Kashmir được ghi chép trên các lá bằng đồng. Kinh văn trong lần tập kết kinh điển tại Kashmir không được Theravāda thừa nhận vì đây là cuộc tập kết của các tu sĩ trong phái Sarvastivada ( tức Nhất thiết hữu bộ )- chi phái Phật giáo hoạt động chủ yếu ở Kashmir và Gandhara. Giáo lý của Nhất thiết hữu bộ nằm giữa tiểu thừa và đại thừa, trình bày quan điểm về bản chất của tồn tại.

    Ở cái nhìn của Đại chúng bộ, bác bỏ những luật cấm đối với các tu sĩ thuộc dòng này chính là sự hướng tới tự do. Những người theo Đại chúng bộ cho rằng mười vị trưởng lão phản đối việc nới lỏng giới luật sau lần tập kết kinh điển lần thứ hai là chấp vào giới luật – những điều mà Thích Ca Mâu Ni đã dặn dò Ananda rằng có thể thay đổi tùy theo thời thế. Sau lần tập kết kinh điển lần thứ hai, hơn mười ngàn người thuộc Đại chúng bộ đã tổ chức một cuộc tập kết kinh điển riêng với tên gọi “Tuyên đọc của Đại chúng bộ”. Sự tập kết kinh điển của Đại chúng bộ bị Thượng tọa bộ công kích, cho rằng Đại chúng bộ đã bịa đặt và lắp ghép các kinh điển theo ý mình. Tuy nhiên, khi Fumio Masutani, một học giả Phật giáo thực hiện so sánh giáo lý trong hai bộ kinh điển của Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ thì không thấy có nhiều khác biệt. Cho đến nay, vẫn có nhiều quan điểm cho rằng Thượng tọa bộ là Phật giáo chính thống còn Đại chúng bộ là dị giáo, và vấn đề này cần phải được xem xét một cách cẩn trọng với cái nhìn rộng mở và công tâm. (11)

    Đại chúng bộ có sự khác biệt với Thượng tọa bộ về quan niệm thực tại. Đại chúng bộ cho rằng tất cả đều chỉ là hư huyễn, cho dù là tuyệt đối hay tương đối, Niết bàn hay Luân Hồi, thế gian hay xuất thế gian. Những khái niệm ấy không thực sự trường tồn và không phải là chân thực và Đức Phật là người siêu vượt khỏi thế giới hư huyễn mà chúng ta đang mắc kẹt trong đó. Trong khi ấy, Thượng tọa bộ lại quan niệm rằng Đức Phật chỉ như người thường và có những hạn chế, còn các A la hán là những vị có được “thể tính cao khiết” (12).

    Niên đại của các kinh điển của Đại chúng bộ không thể xác định rõ ràng, tuy nhiên, lịch sử Trung Quốc ghi nhận những kinh điển của Đại chúng bộ bắt đầu được lưu truyền và dịch sang tiếng Hán vào cuối thời Đông Tấn ( đầu thế kỷ 5 SCN). Trong suốt thời kỳ Ngũ Hồ Loạn Hoa và Nam Bắc triều kéo dài từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 7, Phật giáo Đại chúng bộ được lan truyền ở Trung Hoa. Thái độ của các quân vương Trung Hoa đối với Phật giáo rất khác nhau, có vị yêu thích Phật giáo, có vị bài trừ Phật giáo, điều đó cho thấy Phật giáo đã có sức ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Trung Hoa bấy giờ.

    Một vấn đề khác cần được xem xét đó là Hīnayāna (Tiểu thừa) và Mahāyāna (Đại thừa). Trước nay, các nhà nghiên cứu và các tu sĩ đều đồng nhất Tiểu thừa với Thượng tọa bộ còn Đại thừa với Đại chúng bộ nhưng quan điểm này có nhiều điểm đáng bàn cãi.

    Đại thừa là pháp tu của bồ tát với nguyên lý đạt đến giác ngộ toàn triệt bằng vì mục đích cứu rỗi chúng sinh. Dấu vết cổ xưa nhất được ghi lại của khái niệm này là trong kinh Saddharma Puṇḍarīka Sūtra (Diệu pháp liên hoa hay kinh Pháp hoa) có niên đại trong khoảng từ thế kỷ I TCN đến thế kỷ I SCN. Khái niệm này ban đầu có thể không hẳn để chỉ một chi phái mà là một phong trào để kích thích sự tinh tấn trong tu hành ở các tu sĩ và quan điểm cho rằng có sự liên đới giữa Đại thừa và Đại chúng bộ là bởi các kinh sách của Đại chúng bộ đều được coi là những kinh điển quan trọng của Đại thừa. Những kinh điển Đại thừa được lưu truyền hiện nay đều là những bản kinh đã được dịch sang tiếng Hán và chúng đều không hướng tới việc thành lập một giáo phái hay tổ chức thờ phụng, mà chỉ đề xướng tu khổ hạnh, ẩn cư trong rừng núi và thực hành thiền định. Về sau, Đại thừa phân chia thành hai phái lớn là Mādhyamika (Trung quán tông) và Vijñaptimātravādin (Duy thức tông), trong đó Trung quán tông đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành Kim cương thừa còn các kinh điển của Duy thức tông được lan truyền rộng rãi ở Trung Hoa vào thời Đường nhờ đại sư Huyền Trang.

    Các nhà nghiên cứu cho rằng khái niệm “tiểu thừa” là một khái niệm được thêm vào để tạo ra sự tương phản với “đại thừa” khi phong trào này lan rộng trong Phật giáo. Rất khó có thể định nghĩa chi phái nào của Phật giáo có xu hướng “tiểu thừa”. Tuy nhiên, tiểu thừa thường được gán với Phật giáo Thượng tọa bộ tuy nhiên có nhiều chi phái nhỏ của Thượng tọa bộ vẫn tiếp thu tư tưởng đại thừa (13). Cho đến nay, khái niệm “tiểu thừa” đã bị bác bỏ khỏi Phật giáo.

    Với sự phân nhánh và chuyển mình phức tạp với rất nhiều chi phái nhỏ, Phật giáo có một hệ thống kinh điển đồ sộ được tập kết và ghi chép, chỉnh sửa, dịch thuật liên tục. Rất khó có thể biết được Thích Ca Mâu Ni đã thực sự giảng giải những gì cho đệ tử của mình, tuy nhiên, các trước tác kinh điển Phật giáo vẫn ẩn chứa đâu đó tinh thần tự do mà Thích Ca Mâu Ni đã truyền lại cho thế gian.

    Bảng niên đại từ khi Đức Phật thuyết pháp đến khi Thiền tông lan truyền ở Trung Hoa

    Lưu ý: Các niên đại được ghi chỉ mang tính tương đối và vẫn còn nhiều tranh cãi

    II – Phật giáo đang thờ ai?

    Giáo lý Phật giáo cũng không khuyến khích cầu nguyện mặc dù truyền thống cầu nguyện đến nay trở nên rất phổ biến ở đa số các chi phái Phật giáo. Một khái niệm tương tự với cầu nguyện là pràrthanà (có nghĩa là mong ước, phát nguyện) nhưng không phải cho lợi ích của bản thân mình mà vì điều thiện cho người khác hoặc sự hướng tới Phật (14). Tuy nhiên sự cầu nguyện này thường bị các tín đồ hiểu lầm thành sự cầu nguyện cho bản thân và những người thân của mình có một đời sống gặp nhiều an lành, may mắn. Sự hiểu lầm này có thể được hình thành nên do tâm thức thờ cúng nguyên thủy mà người dân vẫn quen thuộc trong mọi nền văn hóa dành cho các vị thần ban phúc giáng họa. Do đồng nhất Phật giáo với tục thờ cúng thần linh nên các vị Phật và bồ tát cũng dần mang ý nghĩa ban phúc giáng họa trong suốt quá trình phát triển của Phật giáo. Đặc biệt với Phật giáo đại thừa vốn tôn sùng Quán Thế Âm bồ tát vì niềm tin rằng vị này có ý nguyện cứu khổ cứu nạn nên có thể giúp người dân tránh được tai ương.

    Niềm tin của Phật giáo đại thừa về Bodhisattva (bồ tát) lại càng kích thích sự tôn sùng Phật giáo mù quáng trong giáo chúng. Phật giáo đại thừa tin rằng bồ tát là những vị đạt được trí tuệ nhưng có nguyện nhận mọi đau khổ của thế gian vào mình và cứu rỗi thế gian. Trong các bài giảng nguyên thủy và kinh điển của Thượng tọa bộ, bồ tát không mang ý nghĩa như vậy, mà được sử dùng để ám chỉ những vị tu sĩ phát nguyện trở thành một vị Phật và được một vị Phật tại thế tiên đoán về khả năng thành Phật. (15) Khái niệm bồ tát được đề cập cổ xưa nhất trong các truyền thuyết về sự ra đời của Đức Phật (Tiền kiếp của Đức Phật vốn là một vị bồ tát chưa đắc quả vị Phật) và những truyền thuyết này được lưu trong Jātakas (Bản sinh bộ) thuộc truyền thống Thượng tọa bộ, Đại chúng bộ không thừa nhận những Jātakas được soạn trong triều đại của vua Ashokha. (16) Các vị vua của Sri Lanka thường tự nhận hoặc được ca tụng là bồ tát vì họ đã phát nguyện hành động vì người dân trong suốt quãng thời gian từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ 15, thậm chí một vài vị còn nói rằng họ đã nhận được tiên đoán về quả vị Phật từ kiếp trước. (15) Bên cạnh các vị “bồ tát tại thế”, một loạt các vị bồ tát siêu việt cũng được tôn sùng và thờ phụng tại nhiều tăng viện cùng với sự ảnh hưởng của xu thế đại thừa (Nguồn gốc của các vị bồ tát này sẽ được đề cập ở phần II-2).

    Đáng lưu ý là các Stupa (có nghĩa là “gò, đống”) – các công trình bảo tháp lưu giữ các thánh tích hoặc tượng Phật và các cao tăng được xây dựng khắp Ấn Độ, đặc biệt bắt đầu dưới thời Ashokha. Đây là hình thức sơ khai của chùa mà Phật giáo Trung Quốc vẫn gọi. Các tu sĩ thường đi vòng quanh các Stupa để thể hiện sự sùng kính. (17) Khi du nhập vào Trung Quốc, bảo tháp được xây thành một quần thể với chùa (tự). Bắt nguồn của khái niệm “tự” để gọi nơi các sư tu hành và truyền bá Phật pháp đến từ sự kiện hai vị sư từ Thiên Trúc sang thăm Trung Quốc vào thời Hán Minh Đế. Lúc bấy giờ, do chưa có cơ sở Phật giáo tại Trung Quốc nên triều đình nhà Hán đã sắp xếp cho hai ông ở trong Hồng Lô Tự, một dinh dành cho quan lại nên từ đó “tự” được sử dụng để gọi các ngôi chùa. (18) Một thuyết khác cho rằng từ “Tự” là phiên âm tiếng Hán của stupa và cấu trúc chùa Trung Hoa là sự phát triển của bảo tháp ở Gandharan. (19). Ngôi chùa trong văn hóa Trung Hoa không chỉ là nơi tu tập và thuyết pháp của các sư, khi được dung hợp với Đạo giáo thần tiên, chùa trở thành nơi chúng sinh đến cầu xin may mắn. Đặc biệt khi Tịnh Độ tông được truyền vào Trung Hoa, truyền thống thờ cúng và cầu nguyện càng được phổ biến rộng rãi, lấn át mục đích tu tập và thuyết pháp.

      Bảng thống kê các vị Phật, bồ tát và thần, quỷ phổ biến trong Phật giáo

    Phân loại theo quả vị và dựa trên quan niệm của đại thừa

    Thích Ca Mâu Ni

    Bodh Gaya: Nơi Đức Phật thành đạo. Đạo tràng được xây dựng lại nhiều lần bắt đầu từ thời vua Ashokha

    Kushinagar: Nơi Đức Phật nhập Niết Bàn. Tại đây còn vết tích tượng Phật và cột đá ghi lại sự việc được dựng dưới thời vua Ashokha

    Lumbini: Địa danh không rõ ràng và chỉ được xác định bởi cột đá được dựng dưới thời vua Ashokha

    Sarnath: Nơi Phật thuyết pháp đầu tiên. Di tích còn lại là tháp Dhamekh dưới triều đại Gupta (Thế kỷ VI)

    Được đề cập đến đầu tiên trong Kinh Tạng (thuộc Tam Tạng). Một lần với cái tên Tissametteyya trong cuộc hỏi đáp giữa Tissametteyya và Thích Ca Mâu Ni về ái dục. Một lần khác trong bài kinh 26 về “Sư tử rống chuyển bánh xe đại pháp” như vị Phật vị lai. Nhà nghiên cứu Phật học Richard Gombrich cho rằng đoạn kinh viết về Di Lặc bị ảnh hưởng của thuyết mạt thế hoặc đã bị viết thêm vào, vì khi Thích Ca Mâu Ni thuyết về Di Lặc thì không có bối cảnh hỏi đáp đi kèm giống như những bài kinh khác (23).

    Một giả thuyết khác cho rằng Di Lặc chính là vị thầy của sư Vô Trước – người sáng lập phái Duy Thức, được gọi với tên Maitreya-nātha (270 – 350 SCN). (25) Vô Trước là người đã được Di Lặc khải lộ về

    Nhiều vị vua hoặc giáo chủ mới cũng tự xưng mình là hóa thân của Di Lặc để khai tông lập phái hoặc tạo ảnh hưởng.

    Bhaiṣajya-guru-vaiḍūrya-prabhā-rāja Sūtra (Kinh Dược Sư) mô tả Phật Dược Sư như vị bồ tát đã thực hiện 12 ý nguyện và đắc Phật. Bộ kinh được lưu truyền không chỉ có bản tiếng Hán mà người ta còn tìm thấy bản kinh Gandhāra lưu truyền ở Bắc Ấn có niên đại thế kỷ thứ 7.

    Theo Kāraṇḍirlha Sūtra (soạn trong thế kỷ IV – V), mặt trời và mặt trăng được cho là được sinh ra từ đôi mắt của Avalokiteśvara, Shiva từ trán, Brahma từ vai, Narayana từ trái tim, Sarasvati từ răng, gió từ chân và bầu trời từ dạ dày của ngài. Cũng trong kinh này, Om mani padme hum được nhắc đến như thần chú dẫn tới giải thoát cuối cùng. (27) Các kinh đại thừa khác cũng đều nhắc đến Quán thế âm bồ tát.

    Quán thế âm bồ tát là vị bồ tát đại thừa đầu tiên được thờ trong Phật giáo Thượng tọa bộ. Ở Tích Lan, Quán Thế Âm được gọi là Natha-deva và đồng nhất với Maitreya, tuy nhiên các học giả phương Tây đã chỉ ra Natha-deva chính là Quán Thế Âm. Natha-deva có một ban thờ riêng cạnh ban thờ Phật. (28)

    ở Myanmar, ngài được gọi là Lokanat hoặc lokabyuharnat, và Thái Lan thì được gọi là Lokesvara có nghĩa là chúa tể của thế gian.

    Kṣitigarbha Bodhisattva Pūrvapraṇidhāna Sūtra (Kinh Địa Tạng) là bộ kinh đầu tiên nhắc tới Địa Tạng với ý nguyện giải thoát chúng sinh khỏi địa ngục cho đến khi Di Lặc xuất thế. Kinh Địa Tạng có xuất xứ không rõ ràng và không tìm được bản tiếng Pali hay Sankrite mà chỉ còn lưu lại bản dịch sang tiếng Hán nên nhiều học giả hoài nghi rằng cuốn kinh này được viết bởi người Trung Quốc. Kinh Địa Tạng đề cao chữ hiếu và có nhắc đến câu chuyện tiền kiếp của Địa Tạng là một cô gái xả thân cứu mẹ khỏi khổ hình ở địa ngục. Câu chuyện này có nhiều tương đồng với câu chuyện về tôn giả Mục Kiền Liên, một trong mười đại đệ tử của Đức Phật.

    Văn thù sư lợi được nhắc đến đầu tiên trong ārya-mañjuśrī-mūlakalpa (Văn-thù-sư-lợi căn bản nghi quỹ), đại diện cho trí huệ soi sáng khỏi vô minh. Luận sư Tsongkhapa trong Phật giáo Tây Tạng được cho là hóa thân của Văn thù sư lợi. Văn thù sư lợi thường được tán tụng bởi các sư thuộc Trung quán tông trước giờ họ học kinh điển.

    Trong Phật giáo Tây Tạng, Văn thù sư lợi được biểu hiện với một hóa thân khác là

    Yamāntaka (có nghĩa là kẻ hủy diệt của thần Yama) với khuôn mặt phẫn nộ với cặp sừng bò trên đầu, phổ biến trong trường phái Gelug (Tây Tạng). (34)

    Phổ Hiền thường được mô tả dáng hình giống nữ, cưỡi trên con voi màu trắng, đứng bên cạnh Thích Ca Mâu Ni cùng với Văn thù sư lợi.

    Mahamayuri-Vidyaraini-Sutra gọi Khổng Tước Minh Vương là “nữ hoàng của huyền thuật”, mẹ của Đức Phật trong Phật giáo Đại thừa. Tương truyền là một con công từ thời khai thiên lập địa, có sức mạnh vảo vệ các tín đồ Phật giáo. Đây là kinh Phật giáo duy nhất nhắc đến kinh Rigveda.

    Trong những truyền thuyết Phật giáo thời kỳ đầu, Vajrapāni là một vị tiểu thần đi theo Thích Ca Mâu Ni và bảo vệ Thích Ca Mâu Ni khỏi những mối đe dọa. Điều này được ghi lại trong Tam Tạng. Có thuyết cho rằng ông là một pháp thân của Sakra – thượng đế cõi trời Trāyastriṃśa, hoặc thần mưa trong truyền thống Gandharva. Ông tự hóa thành tám thân quỷ để bảo vệ Thích Ca Mâu Ni. (36)

    Giống loài Asura (Atula)

    Tranh Đôn Hoàng hang đá số 249 mô tả Asura có 4 tay 2 đầu, thân hình màu đỏ.

    Được mô tả nửa người nửa chim, hoặc nửa người nửa ngựa, là các thần giỏi ca hát và chung tình. Kinara rất phổ biến và được giữ đúng tính chất trong cả truyền thống Hindu giáo và Phật giáo.

    Là tên gọi của rắn thần, vua các loại rắn, những con rắn nằm sâu dưới lòng đất đôi khi tạo ra động đất. Được ghi lại trong kinh Lăng Nghiêm như một giống loài đần độn vô tri và bị sâu bọ rúc rỉa, nhưng muốn thoát khổ nên đã thực hành Phật pháp.

    Một trong số các đệ tử tại gia của Thích Ca Mâu Ni, người đã hào phóng cấp chỗ ở và cúng dường cho tăng đoàn cũng như bố thí cho người vô gia cư. Ông được nhắc đến trong Tam Tạng.

    Là vị vua tri thức được đề cập trong kinh Đại Nhật, đã chinh phục ba thế giới Tham – Sân – Si, cai quản phía đông của thế giới. Ông là người đã đánh bại Maheśvara (Shiva) (39)

    Tên của ngài có nghĩa là bảo hộ quốc gia, và cũng được nhắc đến trong Tam Tạng của Thượng tọa bộ.

    1. The early history of India : from 600 B.C. to the Muhammadan conquest, including the invasion of Alexander the Great – Vincent A.Smith (trang 34, 48/ Link sách online: https://archive.org/details/earlyhistoryofi00smit )
    2. The Long Discourses of the Buddha. A Translation of the Digha Nikaya, Boston: Wisdom Publications, 1995 – Maurice Walse (trang 268)
    3. Greek Buddha: Pyrrho’s Encounter with Early Buddhism in Central Asia. Princeton University Press. – Christopher I. Beckwith (2015). (trang 7-12/ Link sách online: https://books.google.com.vn/books?id=RlCUBgAAQBAJ&pg=PA7&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false)
    4. The Ancient City of Kapilvastu-Revisited – Swoyambhu D. Tuladhar (Bản đọc online: https://himalaya.socanth.cam.ac.uk/collections/journals/ancientnepal/pdf/ancient_nepal_151_01.pdf )
    5. Gotama Buddha: A Biography Based on the Most Reliable Texts, Quyển 1. Kosei Publishing Company, 2000 – Hajime Nakamura (trang 124)
    6. Nhất Hạnh (thuật ký) Đại Nhật Kinh Nghĩa Thích. Taisho Tripitaka Vol. T18, No. 848
    7. That the True Dhamma Might Last a Long Time, Readings Selected by King Asoka, được tuyển chọn và dịch bởi Thanissaro Bhikkhu (Bản đọc online: https://www.accesstoinsight.org/lib/authors/thanissaro/asoka.html )
    8. Ancient Buddhist Scrolls from Gandhara – Richard Salomon (Bản đọc Online: https://www.washington.edu/uwpss/search/books/SALANC.html )
    9. Bản dịch tiếng Anh online của Buddhacarita: https://www.sacred-texts.com/bud/sbe49/sbe4901.htm
    10. A Concise History of Buddhism – Andrew Skilton (2004) (trang 49-64)
    11. https://www.tuvienquangduc.com.au/kinhdien-2/390nentangkettaplan2.html
    12. Indian Buddhism- A.K. Warder (2000) , Delhi: Motilal Banarsidass Publishers (trang 283,284)
    13. Phật giáo Nguyên Thủy: Lịch sử xã hội – Richard Francis Gombrich (1988) (trang 158)
    14. https://thuvienhoasen.org/a25030/y-nghia-cua-cau-nguyen-cau-an-va-cau-sieu
    15. Mahayana Sutras and the Opening of the Bodhisattva Path – David Drewes https://www.academia.edu/34935437/Mahayana_Sutras_and_the_Opening_of_the_Bodhisattva_Path_Updated_2019_?email_work_card=title
    16. Sects & Sectarianism: The Origins of Buddhist Schools – Sujato, Bhikkhu (2006) (trang 51)
    17. A Dictionary of Architecture and Landscape Architecture- James Stevens Curl (2000 Oxford University Press)
    18. Từ điển Hán Nôm online (Link tra cứu: https://hvdic.thivien.net/whv/%E5%AF%BA )
    19. Buddhist architecture -Lê Hữu Phước (Grafikol, 2009) (Trang 180)
    20. Indian Buddhism: A Survey With Biographical Notes – Hajime Nakamura (1999) (trang 205)
    21. On the origins of Mahāyāna Buddhism – Shinkan Murakami (Link đọc online: https://web.archive.org/web/20130612150915/https://old.ykbi.edu.tw/htm/ykbi16/ykbi16_1.pdf )
    22. https://www.vbu.edu.vn/referances/RP-8/Vai-net-so-luoc-ve-nghe-thuat-Phat-giao-Gandhara-Pakistan.html
    23. Theravada Buddhism: A Social History from Ancient Benares to Modern Colombo – Richard Gombrich (Routledge and Kegan Paul, 1988) (trang 83-85)
    24. Chinese Sculpture – Angela Falco Howard (Yale University Press, 2006) (trang 228)
    25. Being as Consciousness: Yogācāra Philosophy of Buddhism – Fernando Tola and Carmen Dragonetti (Motilal Banarsidass, 2004) (trang 15)
    26. https://vuonhoaphatgiao.com/tu-dien-phat-hoc/a-dat-da/
    27. The Origins of Om Manipadme Hum: A Study of the Karandavyuha Sutra- Alexander Studholme (State University of New York Press, 2002) (trang 39-40)
    28. Buddhist Sects and Sectarianism – Bibhuti Baruah (2008) (trang 137)
    29. Bodhisattva Avalokiteśvara in the Gaṇḍavyūhasūtra – Märt Läänemets (Link đọc online: https://www.chibs.edu.tw/ch_html/chbs/10/chbs1011.htm )
    30. Arya Avalokitesvara and the Six Syllable Mantra #2 – Venerable Shangpa Rinpoche (Đọc online: https://web.archive.org/web/20070927222250/https://www.dhagpo-kagyu.org/anglais/science-esprit/chemin/medit/methodes/avalokitesvara_shangpa2.htm )
    31. https://www.chinabuddhismencyclopedia.com/en/index.php/Mahasthamaprapta_(Shih_Chih,_Seishi)
    32. Đàm thiên thuyết địa luận nhân, Ngô Bạch, Trương Huyền dịch, Nhà xuất bản Thời đại 2011
    33. Đàm thiên thuyết địa luận nhân, Ngô Bạch, Trương Huyền dịch, Nhà xuất bản Thời đại 2011
    34. https://tibet.net/2018/12/his-holiness-the-dalai-lama-confers-the-solitary-hero-yamantaka-empowerment-in-bodh-gaya/
    35. https://www.lankalibrary.com/myths/gods.htm
    36. The Gods of Northern Buddhism: Their History and Iconography (1988) – Alice Getty https://books.google.com.vn/books?id=KxczE2AZ7T8C&pg=PA52&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false
    37. In the art of Gandhara Zeus became the inseparable companion of the Buddha as Vajrapani. Freedom, Progress, and Society – K. Satchidananda Murty, R. Balasubramanian, Sibajiban Bhattacharyya (Motilal Banarsidass Publishe, 1986) (trang 97, Đọc Online: https://books.google.com.vn/books?id=KQubSpHFrKQC&pg=PA97&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false )
    38. Japanese Art – Miyeko Murase (1975, Metropolitan Museum of Art) (trang 31, 32 – Link online: https://books.google.com.vn/books?id=ZQ8NAl2Bj-4C&pg=PA31&redir_esc=y#v=onepage&q&f=false )
    39. Study on Buddhist iconography of India from unpublished texts – Alfred Foucher ( Paris, E. Leroux, 1905)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đức Phật, Các Vị Bồ Tát, Ngọc Hoàng, Thập Điện Diêm Vương Và Các Ngày Lễ Trong Năm
  • 57 Vị Phật, Bồ Tát Theo Truyền Thống Phật Giáo Tây Tạng
  • Tên Các Vị Phật Và Chức Vụ
  • Ý Nghĩa Danh Hiệu Của Chư Phật
  • Nguồn Gốc Tên Các Tháng Trong Tiếng Anh
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100