【#1】Tên Thuộc Hành Mộc Của Con Đặt Sao Cho Chuẩn Phong Thủy?

Sơ lược về mệnh Mộc và người mệnh Mộc

Trong thuyết âm dương ngũ hành gồm có 5 mệnh: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Trong đó, Mộc được coi là nhân tố đầu tiên của ngũ hành.

Bói theo tên cho biết, trong ngũ hành, mệnh Mộc đại diện cho mùa xuân, tượng trưng cho sự tăng trưởng, sinh sôi, phát triển của vạn vật trên trái đất. Những người sinh mệnh này thường rất năng động, sôi nổi, có cá tính mạnh mẽ.

Họ lúc nào cũng có những ý tưởng độc đáo, sáng tạo khiến người khác phải bất ngờ. Nhờ vào khả năng giao tiếp ứng xử khéo léo mà những người này có rất nhiều mối quan hệ xã hội tốt đẹp, được nhiều bạn bè yêu quý, tin tưởng.

Trong công việc, họ là những người khá cẩn thận và cầu toàn. Người mệnh Mộc có nhiều ước mơ, khát vọng trong cuộc sống và họ luôn cố gắng phấn đấu hết mình để thực hiện được những kế hoạch, dự định của bản thân.

  • Ưu điểm: Làm việc chăm chỉ, sáng tạo và rất tích cực, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ mọi người xung quanh.
  • Nhược điểm: Dễ nóng nảy, khó kiềm chế cảm xúc, không chịu được áp lực của công việc và thường xuyên bị rơi vào tình trạng căng thẳng, stress. Dù là nam hay nữ đều có tính cách khá trẻ con, dễ bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài.

Cha mẹ nào muốn đặt tên hợp mệnh Mộc cho con thì cần phải hết sức chú ý những điều chúng tôi vừa nêu trên!

Người mệnh Mộc sinh năm nào?

  • Mệnh Bình Địa Mộc (Cây Đồng Bằng): Mậu Tuất (1958, 2021), Kỷ Hợi (1959, 2021);
  • Mệnh Dương Liễu Mộc (Cây Dương Liễu): Nhâm Ngọ (1942, 2002), Quý Mùi (1943, 2003);
  • Mệnh Đại Lâm Mộc (Cây Rừng Lớn): Mậu Thìn (1928, 1988), Kỷ Tỵ (1929, 1989);
  • Mệnh Tang Đố Mộc (Cây Dâu): Nhâm Tý (1972, 2032), Quý Sửu (1973, 2033);
  • Mệnh Thạch Lựu Mộc (Cây Thạch Lựu): Canh Thân (1980, 2040), Tân Dậu (1981, 2041);
  • Mệnh Tùng Bách Mộc (Cây Tùng Bách): Canh Dần (1950, 2010), Tân Mão (1951, 2011).

Cha mẹ nên đặt tên con theo công thức “Thủy-Mộc” hoặc “Mộc-Hỏa”, bởi trong ngũ hành có quy luật Thủy tạo ra Mộc rồi Mộc lại tạo ra Hỏa. Áp dụng công thức trên sẽ giúp cho cái tên hài hòa, thuận lợi hơn. Cha mẹ có thể lựa chọn những cái tên khiến người ta nhớ đến yếu tố Thủy (nước) hoặc Mộc (cây) hay có hình bóng của Hỏa (lửa).

Gợi ý đặt tên thuộc hành Mộc cho bé trai và bé gái

Tên con trai mệnh Mộc

Các tên thuộc hành Mộc hay cho bé trai bao gồm:

Tên con gái mệnh Mộc

【#2】Trong Phật Giáo Bắc Tông,tu Sĩ Và Phật Tử Được Đặt Tên Theo Những Nguyên Tắc Nào?

Trong Phật giáo Bắc tông, tu sĩ được đặt tên theo dòng phái. Tu sĩ sau khi vào chùa tu, được thầy đặt cho tên, gọi là pháp tự. Tên được đặt dựa vào cá tính của người ấy, có được sau khi đã thọ giới Sa Di giới (10 giới), gọi là Giới danh.

Khi đi cầu pháp ở một vị thầy giỏi về giáo lý, sẽ được đặt tên gọi là pháp hiệu. Thầy phú pháp đặt tên này để ấn chứng một sự thụ đắc nào đó của người theo học. Có dòng phái thường ra hai bài kệ song song, một dùng đặt pháp danh, một dùng đặt pháp hiệu. Tên đặt theo bài kệ gọi là tên Húy (pháp danh), dùng ghi vào bài vị sau khi người tu sĩ qua đời. Từng chữ trong bài kệ tiêu biểu cho một thế hệ truyền thừa. Như bài kệ của dòng Đạo Bổn Nguyên, có câu đầu là “Đạo Bổn Nguyên thành Phật tổ tiên…”. Chữ Đạo thuộc đời thứ 31 do Đạo Mẫn khai sáng bài kệ. Như vậy, chữ Bổn thuộc đời thứ 32, và chữ Nguyên thuộc đời thứ 33, như Nguyên Thiều, người có công đầu mang Phật giáo vào Đàng Trong…

Đạo hiệu là tên vua phong. Thụy hiệu là tên đặt sau khi người tu sĩ đã mất. Trong Phật giáo, khái niệm là tín đồ không thật sự rõ ràng. Thời Đức Phật còn tại thế, những người chưa xuất gia, cảm mến đường hướng và giáo thuyết của Đức Phất, hỗ trợ cho tăng đoàn phẩm vật, hoặc nghe họ nói pháp… đều được xem là thí chủ. Sau khi đức Phật viên tịch, những người xuất gia có số đệ tử đông đúc, theo từng hệ phái riêng. Từ nay, khái niệm tín đồ đã tương đối được rõ ràng hơn, còn gọi là Phật tử.

Một tín đồ Phật giáo phải là một người đã tiến hành lễ thọ “tam quy, ngũ giới”. Thọ tam quy là quy y Tam Bảo, tức trở về (quy) dựa vào (y) Tam Bảo (Phật, pháp, tăng). Thọ ngũ giới là phát nguyện giữ gìn năm giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Thọ tam quy ngũ giới, người đó đã được xem là một Phật tử, tu hành tại gia, được đặt cho tên đạo, gọi là pháp danh.

Thông thường, pháp danh được đặt theo chữ đầu của bài kệ thuộc dòng phái mà bổn sư truyền giới đã theo. Bổn sư thuộc đời nào thì đệ tử sẽ dưới đó một đời. Nếu bổn sư thuộc thế hệ truyền thừa của dòng Lâm Tế, phái Liễu Quán, đời thứ 38 thì đệ tử phải thuộc đời thứ 39. Đấy là cách đặt tên pháp danh áp dụng cho những người đã xuất gia.

Còn đối với Phật tử tại gia, sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vào năm 1964, có Hiến chương của giáo hội, cách đặt tên của Phật tử thông thường có chữ đầu là Minh đi kèm với tên, dành cho nam giới và chữ đầu là Diệu, đi kèm với tên, dành cho nữ giới… như nam Phật tử Minh Thọ, nữ Phật tử Diệu Nghĩa…

Đứng đầu các tên là họ Thích, vì được quan niệm theo đạo Phật, tất cả đều là con của Phật, có họ của đức Thích Ca. Tuy nhiên tên gọi có cả họ thường chỉ được dùng cho hàng tăng sĩ đã xuất gia.

Người nam có họ Thích rồi kèm theo pháp danh, người nữ có họ Thích nữ kèm theo pháp danh. Như Hòa thượng Thích Thiện Chiếu, ni sư Thích nữ Như Thanh…

【#3】Đặt Tên Cho Con Trai Sinh Năm 2032 Nhâm Tý Hợp Với Bố Mẹ Tuổi Canh Dần 2010

ĐẦU TIÊN CHÚNG TA CẦN XEM QUA VỀ TUỔI MẬU TUẤT ĐÃ NHÉ

CÔNG DANH SỰ NGHIỆP BÉ SINH NĂM MẬU TUẤT 2032

Tuổi Sửu, Thìn, Mùi, Tuất: Hợp hành Thổ

Tuổi Dần, Mão: Hợp hành Mộc

Tuổi Tỵ, Ngọ: Hợp hành Hỏa

Tuổi Thân, Dậu: Hợp hành Kim

Tuổi Tí, Hợi: Hợp hành Thủy.

Theo đó có thể thấy tuổi Tuất thuộc hành thổ, vì vậy để bé có vận mệnh tốt đẹp thì bố mẹ tuổi Canh Dần 2010 nên dùng các chữ thuộc bộ Kim để đặt tên cho con vì thổ tương sinh Kim.

GỢI Ý 50 TÊN ĐẸP NHẤT CHO BÉ TRAI SINH NĂM MẬU TUẤT

1. Trường An: Đó là sự mong muốn của bố mẹ để con bạn luôn có một cuộc sống an lành, và may mắn đức độ và hạnh phúc.

2. Thiên Ân: Nói cách khách sự ra đời của bé là ân đức của trời dành cho gia đình.

3. Minh Anh: Chữ Anh vốn dĩ là sự tài giỏi, thông minh, sẽ càng sáng sủa hơn khi đi cùng với chữ Minh.

4. Quốc Bảo: Đối với bố mẹ, bé không chỉ là báu vật mà còn hi vọng rằng bé sẽ thành đạt, vang danh khắp chốn.

5. Ðức Bình: Bé sẽ có sự đức độ để bình yên thiên hạ.

6. Hùng Cường: Bé luôn có sự mạnh mẽ và vững vàng trong cuộc sống không sơ những khó khăn mà bé có thể vượt qua tất cả.

7. Hữu Đạt: Bé sẽ đạt được mọi mong muốn trong cuộc sống.

8. Minh Đức: Chữ Đức không chỉ là đạo đức mà còn chứa chữ Tâm, tâm đức sáng sẽ giúp bé luôn là con người tốt đẹp, giỏi giang, được yêu mến.

9. Anh Dũng: Bé sẽ luôn là người mạnh mẽ, có chí khí để đi tới thành công.

10. Đức Duy: Tâm Đức sẽ luôn sáng mãi trong suốt cuộc đời con.

11. Huy Hoàng: Sáng suốt, thông minh và luôn tạo ảnh hưởng được tới người khác.

12. Mạnh Hùng: Mạnh mẽ, và quyết liệt đây là những điều bố mẹ mong muốn ở bé.

13. Phúc Hưng: Phúc đức của gia đình và dòng họ sẽ luôn được con gìn giữ, phát triển hưng thịnh.

14. Gia Hưng: Bé sẽ là người làm hưng thịnh gia đình, dòng tộc.

15. Gia Huy: Bé sẽ là người làm rạng danh gia đình, dòng tộc.

16. Quang Khải: Thông minh, sáng suốt và luôn đạt mọi thành công trong cuộc sống.

17. Minh Khang: Một cái tên với ý nghĩa mạnh khỏe, sáng sủa, may mắn dành cho bé.

18. Gia Khánh: Bé luôn là niềm vui, niềm tự hào của gia đình.

19. Ðăng Khoa: Cái tên sẽ đi cùng với niềm tin về tài năng, học vấn và khoa bảng của con trong tương lai.

20. Minh Khôi: Sảng sủa, khôi ngô, đẹp đẽ.

21. Trung Kiên: Bé sẽ luôn vững vàng, có quyết tâm và có chính kiến.

22. Tuấn Kiệt: Bé vừa đẹp đẽ, vừa tài giỏi.

23. Phúc Lâm: Bé là phúc lớn trong dòng họ, gia tộc.

24. Bảo Long: Bé như một con rồng quý của cha mẹ, và đó là niềm tự hào trong tương lai với thành công vang dội.

25. Anh Minh: Thông minh, và lỗi lạc, lại vô cùng tài năng xuất chúng.

26. Ngọc Minh: Bé là viên ngọc sáng của cha mẹ và gia đình.

27. Hữu Nghĩa: Bé luôn là người cư xử hào hiệp, thuận theo lẽ phải.

28. Khôi Nguyên: Đẹp đẽ, sáng sủa, vững vàng, điềm đạm.

29. Thiện Nhân: Ở đây thể hiện một tấm lòng bao la, bác ái, thương người.

30. Tấn Phát: Bé sẽ đạt được những thành công, tiền tài, danh vọng.

31. Chấn Phong: Chấn là sấm sét, Phong là gió, Chấn Phong là một hình tượng biểu trưng cho sự mạnh mẽ, quyết liệt cần ở một vị tướng, vị lãnh đạo.

32. Trường Phúc: Phúc đức của dòng họ sẽ trường tồn.

33. Minh Quân: Bé sẽ là nhà lãnh đạo sáng suốt trong tương lai.

34. Minh Quang: Sáng sủa, thông minh, rực rỡ như tiền đồ của bé.

35. Thái Sơn: Vững vàng, chắc chắn cả về công danh lẫn tài lộc.

36. Ðức Tài: Vừa có đức, vừa có tài là điều mà cha mẹ nào cũng mong muốn ở bé.

37. Hữu Tâm: Tâm là trái tim, cũng là tấm lòng. Bé sẽ là người có tấm lòng tốt đẹp, khoan dung độ lượng.

38. Ðức Thắng: Cái Đức sẽ giúp con bạn vượt qua tất cả để đạt được thành công.

39. Chí Thanh: Cái tên vừa có ý chí, có sự bền bỉ và sáng lạn.

40. Hữu Thiện: Cái tên đem lại sự tốt đẹp, điềm lành đến cho bé cũng như mọi người xung quanh.

41. Phúc Thịnh: Phúc đức của dòng họ, gia tộc ngày càng tốt đẹp.

42. Ðức Toàn: Chữ Đức vẹn toàn, nói lên một con người có đạo đức, giúp người giúp đời.

43. Minh Triết: Có trí tuệ xuất sắc, sáng suốt.

44. Quốc Trung: Có lòng yêu nước, thương dân, quảng đại bao la.

45. Xuân Trường: Mùa xuân với sức sống mới sẽ trường tồn.

46. Anh Tuấn: Đẹp đẽ, thông minh, lịch lãm là những điều bạn đang mong ước ở bé đó.

47. Thanh Tùng: Có sự vững vàng, công chính, ngay thẳng.

48. Kiến Văn: Bé là người có kiến thức, ý chí và sáng suốt.

49. Quang Vinh: Thành đạt, rạng danh cho gia đình và dòng tộc.

50. Uy Vũ: Con có sức mạnh và uy tín.

Cùng Danh Mục:

Liên Quan Khác

【#4】Trong Phật Giáo Bắc Tông, Tu Sĩ Và Phật Tử Được Đặt Tên Theo Những Nguyên Tắc Nào?

Trong Phật giáo Bắc tông, tu sĩ được đặt tên theo dòng ph ái. Tu sĩ sau khi vào chùa tu, được thầy đặt cho tên, gọi là pháp tự. Tên được đặt dựa vào cá tính của người ấy, có được sau khi đã thọ giới Sa Di giới ( 10 giới), gọi là Giới danh.

Khi đi cầu pháp ở một vị thầy giỏi về giáo lý, sẽ được đặt tên gọi là . Thầy phú pháp đặt tên này để ấn chứng một sự thụ đắc nào đó của người theo học. Có dòng ph ái thường ra hai bài kệ song song, một dùng đặt pháp danh, một dùng đặt pháp hiệu. Tên đặt theo bài kệ gọi là tên Húy ( pháp danh), dùng ghi vào bài vị sau khi người tu sĩ qua đời. Từng chữ trong bài kệ tiêu biểu cho một thế hệ truyền thừa. Như bài kệ của dòng Đạo Bổn Nguyên, có câu đầu là “Đạo Bổn Nguyên thành Phật tổ tiên…”. Chữ Đạo thuộc đời thứ 31 do Đạo Mẫn khai sáng bài kệ. Như vậy, chữ Bổn thuộc đời thứ 32, và chữ thuộc đời thứ 33, như Nguyên Thiều, người có công đầu mang Phật giáo vào Đàng Trong…

Đạo hiệu là tên vua phong. Thụy hiệu là tên đặt sau khi người tu sĩ đã mất. Trong Phật giáo, kh ái niệm là tín đồ không thật sự rõ ràng. Thời Đức Phật còn tại thế, những người chưa xuất gia, cảm mến đường hướng và giáo thuyết của Đức Phất, hỗ trợ cho tăng đoàn phẩm vật, hoặc nghe họ nói pháp… đều được xem là thí chủ. Sau khi đức Phật viên tịch, những người xuất gia có số đệ tử đông đúc, theo từng hệ ph ái riêng. Từ nay, kh ái niệm tín đồ đã tương đối được rõ ràng hơn, còn gọi là Phật tử.

Một tín đồ Phật giáo phải là một người đã tiến hành lễ thọ “tam quy, ngũ giới”. Thọ tam quy là quy y Tam Bảo, tức trở về (quy) dựa vào (y) Tam Bảo ( Phật, pháp, tăng). Thọ ngũ giới là phát nguyện giữ gìn năm giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu. Thọ tam quy ngũ giới, người đó đã được xem là một Phật tử, tu hành tại gia, được đặt cho tên đạo, gọi là pháp danh.

Thông thường, pháp danh được đặt theo chữ đầu của bài kệ thuộc dòng ph ái mà bổn sư truyền giới đã theo. Bổn sư thuộc đời nào thì đệ tử sẽ dưới đó một đời. Nếu bổn sư thuộc thế hệ truyền thừa của dòng Lâm Tế, ph ái Liễu Quán, đời thứ 38 thì đệ tử phải thuộc đời thứ 39. Đấy là cách đặt tên pháp danh áp dụng cho những người đã xuất gia.

Còn đối với Phật tử tại gia, sau ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vào năm 1964, có Hiến chương của giáo hội, cách đặt tên của Phật tử thông thường có chữ đầu là Minh đi kèm với tên, dành cho nam giới và chữ đầu là Diệu, đi kèm với tên, dành cho nữ giới… như nam Phật tử Minh Thọ, nữ Phật tử Diệu Nghĩa…

Đứng đầu các tên là họ Thích, vì được quan niệm theo đạo Phật, tất cả đều là con của Phật, có họ của đức Thích Ca. Tuy nhiên tên gọi có cả họ thường chỉ được dùng cho hàng tăng sĩ đã xuất gia.

Người nam có họ Thích rồi kèm theo pháp danh, người nữ có họ Thích nữ kèm theo pháp danh. Như Hòa thượng Thích Thiện Chiếu, ni sư Thích nữ Như Thanh…

【#5】Giáo Án Bài Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực

Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông, SGK ngữ văn lớp 12. Giáo án soạn theo phương pháp dạy học tích cực

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? Hoàng Phủ Ngọc Tường

MỤC TIÊU

1.Về kiến thức

Giúp HS:

– Cảm nhận được vẻ đẹp, chất thơ từ cảnh sắc thiên nhiên của sông Hương từ bề dày lịch sử, văn hóa của Huế và tâm hồn con người vùng đất cố đô. Hiểu được tình yêu, niềm tự hào tha thiết, sâu lắng của tác giả dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế thân yêu và cũng là cho đất nước.

– Hiểu được những đặc sắc về phong cách nghệ thuật của HPNT.

2.Về kĩ năng

– Đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại

– Kết nối, vận dụng những kiến thức đã học được từ bài học vào việc đọc hiểu các tác phẩm văn học có cùng thể loại.

3.Về thái độ

– Yêu mến, tự hào, trân trọng vẻ đẹp của quê hương đất nước, con người

– Có cách ứng xử thân thiện, tích cực với môi trường; ý thức giữ gì các giá trị văn hóa truyền thống.

  1. Giáo viên: SGK, SGV, Tài liệu tham khảo, thiết kế bài học, máy chiếu
  2. Học sinh: SGK, Tài liệu tham khảo, soạn bài

QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC CHO HỌC SINH

I. Hoạt động 1- Khởi động

– GV cho HS nghe một bài hát về sông Hương.

– HS thực hiện các yêu cầu sau:

+ Dòng sông nào được nhắc đến trong lời bài hát? Có những địa danh nào được nhắc đến ở đây?

+ Ghi lại những từ ngữ những từ ngữ, hình ảnh, chi tiết đặc sắc về sông đó.

+ Qua những từ ngữ đó, trình bày cảm nhận về dòng sông này…

+ GV kết nối để giới thiệu về tác phẩm

2. HD HS tìm hiểu văn bản theo đặc trưng thể kí hiện đại VN (cái tôi trữ tình của tác giả theo đặc trưng thể kí thong qua VB)

II. Đọc hiểu văn bản

1. Hình tượng sông Hương

– Hình tượng sông Hương được miêu tả từ những góc độ nào?

– Sông Hương nhìn từ nguồn cội

– Sông Hương trong mối quan hệ với kinh thành Huế

– Trong lòng TP Huế

– Khi rời khỏi TP Huế

* GV chiếu yêu cầu:

Hs làm việc cá nhân (ở nhà)

+ Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương.

+ Xác định các bpnt.

+ Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương.

– HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

– HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi)

– HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung

– GV nhận xét, bổ sung, chốt

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

* GV chiếu yêu cầu:

Hs làm việc cá nhân (ở nhà)

+ Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương.

+ Xác định các bpnt.

+ Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương.

– HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

– HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi)

– HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung

– GV nhận xét, bổ sung, chốt

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

* GV chiếu yêu cầu:

Hs làm việc cá nhân (ở nhà)

+ Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương.

+ Xác định các bpnt.

+ Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương.

– HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

– HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi)

– HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung

– GV nhận xét, bổ sung, chốt

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

* GV chiếu yêu cầu:

Hs làm việc cá nhân (ở nhà)

+ Liệt kê các chi tiết, hình ảnh đặc sắc t/g sd để khắc họa sông Hương.

+ Xác định các bpnt.

+ Trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp của sông Hương.

– HS làm việc cặp đôi (tại lớp): đọc bài của bạn, trao đổi, bổ sung, hoàn thiện sản phẩm.

– HS trình bày, 1 HS ghi vắn tắt nội dung lên bảng (cặp đôi)

– HS lắng nghe, ghi chép, nhận xét, bổ sung

– GV nhận xét, bổ sung, chốt

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

Từ hình tương sông Hương, GV HD HS tìm hiểu cái tôi trữ tình của tác giả

– Qua hình tượng một dòng sông Hương với những vẻ đẹp đầy ấn tượng, mê đắm lòng người, em hình dung được những gì về nhân vật trữ tình?

* Phương án kiểm tra, đánh giá hoạt động và kết quả học tập của học sinh:

– Đánh giá tiến trình thực hiện

– Đánh giá ý thức, thái độ, tinh thần khi thực hiện nhiệm vụ

– Đánh giá kĩ năng hợp tác, khả năng ứng xử trong việc thực hiện

– Đánh giá sản phẩm, kĩ năng thuyết trình

e. Cái tôi trữ tình của tác giả

– Cái tôi tài hoa, vốn hiểu biết phong phú

– Cái tôi tinh tế, dạt dào cảm xúc, hướng nội

– Tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với xứ Huế

– Dẫn chứng trong đoạn trích thể hiện cái tôi tài hoa, vốn hiểu biết phong phú

– Dẫn chứng trong đoạn trích thể hiện cái tôi tinh tế, dạt dào cảm xúc, hướng nội

– Dẫn chứng trong đoạn trích thể hiện tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với xứ Huế

IV. Hoạt động vận dụng/mở rộng (hoạt động ở nhà)

– Đọc toàn bộ tác phẩm

– HS sưu tầm thêm một số tài liệu về TP/ Đọc tài liệu GV giới thiệu.

– Sưu tầm đề, đáp án, biểu điểm

– Chọn 1 đề bài, viết thành bài văn hoàn chỉnh.

4. Vận dụng/mở rộng

– Đọc toàn bộ tác phẩm

– Sưu tầm thêm một số tài liệu về TP/ Đọc tài liệu GV giới thiệu.

– Sưu tầm đề, đáp án, biểu điểm

– Chọn 1 đề bài, viết thành bài văn hoàn chỉnh.

Ai đã đặt tên cho dòng sông

【#6】Phân Tích Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Chi Tiết Nhất

I. Mở bài phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sông

1. Tác giả

Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút viết kí xuất chúng của văn học Việt Nam giai đoạn hiện đại.

Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường

2.Tác phẩm

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong rất nhiều tác phẩm nổi bật cho phong cách kí của tác giả. Tác phẩm ca ngợi những vẻ đẹp riêng dòng sông Hương chảy qua xứ Huế bằng góc nhìn đầy tinh tế với thiên nhiên và con người để thấy hết tầm trí tuệ với những kiến thức uyên thâm về lịch sử, văn hóa phong phú, đa dạng và cả tâm hồn đậm chất thơ.

II. Thân bài phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sông

1. Phân tích chất trí tuệ tinh thông của tác giả:

– Viết về dòng sông Hương xứ Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường thể hiện trong chất thơ của ông sự hiểu biết rộng lớn về thế giới xung quanh trong nhiều lĩnh vực: văn hóa, văn học, lịch sử, địa lí và nghệ thuật… Nhà văn đã cung cấp cho người đọc nguồn thông tin phong phú, thú vị để hiểu sâu sắc hơn về sông Hương, về vẻ đẹp thiên nhiên cùng con người xứ Huế.

* Vẻ đẹp sông Hương về địa lý:

– Hành trình của dòng sông: nhan đề “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” gây tò mò cho người đọc với câu hỏi về nguồn gốc dòng sông và khi đi dọc theo quá trình đi khám phá dòng sông, tác giả cũng tìm thấy được cội nguồn của sông Hương:

Thiên nhiên và con người xứ Huế gắn bó cùng nhau

Sông Hương chiều tà

+ Thiên nhiên cùng dòng sông luôn đồng hành, gắn bó, gần gũi với con người. Tính cách con người xứ Huế được thể hiện qua dòng chảy sông Hương: mềm mại, chí tình, “mãi mãi chung tình với quê hương xứ xở”.

* Vẻ đẹp của sông Hương hiện lên từ góc nhìn lịch sử:

– Với góc nhìn lịch sử, dòng sông Hương lại không còn là một cô gái “Di – gan man dại”, cũng không còn là “người đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa” mà đã trở thành một chứng nhân lịch sử với những biến chuyển lớn của non sông. Sông Hương như “sử thi viết giữa màu xanh cỏ lá xanh biếc”

* Vẻ đẹp của sông Hương từ góc nhìn văn hóa:

2. Chất thơ của một ngòi bút tài hoa:

– Chất thơ được toát ra từ chính những hình ảnh xinh đẹp, ấn tượng nhất giàu chất nghệ thuật: “những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà”, “lập lòe trong đêm sương những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ…” ; qua cách so sánh liên tưởng gợi cảm: “Chiếc cầu trắng của thành phố in ngần trên nền trời nhỏ nhắn như những vầng trăng non”. – Chất thơ được cảm nhận ngay từ nhan đề bài kí gợi nét âm vang, trầm lắng của dòng sông:

– Chất thơ còn được điểm tô thêm ca dao, lời thơ Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan.

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông

Phân tích bài Vợ chồng A Phủ

Soạn bài Vợ chồng A Phủ

III. Kết bài phần phân tích Ai đã đặt tên cho dòng sông

1. Giá trị nghệ thuật

2. Giá trị nội dung

【#7】Phân Tích Hình Ảnh Trữ Tình, Thơ Mộng Của Dòng Sông Việt Nam Qua Hai Bài Tùy Bút Người Lái Đò Sông Đà Của Nguyễn Tuân Và Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Của Hoàng Phủ Ngọc Tường

[Văn mẫu học sinh] Phân tích hình ảnh trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam qua hai bài tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc Tường

1)

Mở bài:

_ Nêu vấn đề nghị luận: vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam qua “Người lái đò Sông Đà” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”.

2) Thân bài: 2.1. Luận điểm 1: Khái quát về tác giả, tác phẩm. Tác giả Nguyễn Tuân và “Người lái đò Sông Đà”.

*Tác giả:

_Nguyễn Tuân là nhà văn lớn của văn học hiện đại Việt Nam, sáng tác trong cả hai thời kì trước và sau Cách mạng với những phong cách khác nhau.

_trước Cách mạng, Nguyễn Tuân xoay quanh ba đề tài là chủ nghĩa “xê dịch”, “thiếu quê hương” và “đời sống trụy lạc”.

_sau Cách mạng, tập trung ca ngợi con người và thiên nhiên.

_ông có đóng góp lớn cho nền văn học nước nhà với phong cách nghệ thuật độc đáo.

*Tác phẩm:

_đoạn trích “Người lái đò Sông Đà” in trong tập tùy bút “Sông Đà”.

_là thành quả của chuyến đi thực tế của nhà văn vào những năm 1959-1960 tại Tây Bắc.

_tùy bút thể hiện tình yêu, niềm tự hào của Nguyễn Tuân dành cho thiên nhiên, con người Tây Bắc.

Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

*Tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường.

_là nhà văn chuyên viết về bút kí.

_lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm, tài hoa, uyên bác và có vốn hiểu biết, vốn kiến thức phong phú trên nhiều lĩnh vực.

*Tác phẩm.

_được hoàn thành ngày 4/1/1981 khi nhà văn sống bên bờ sông Hương, trong lòng thành Huế hơn bốn mươi năm.

_được in trong tập bút kí cùng tên vào năm 1986.

2.2. Luận điểm 2: Hình ảnh dòng sông trữ tình, thơ mộng trong “Người lái đò sông Đà”. Sông Đà trữ tình, thơ mộng qua dáng vẻ.

_Sông Đà hiện ra như người thiếu nữ duyên dáng với hình ảnh so sánh độc đáo, câu văn trùng điệp nhiều tầng lớp, âm hưởng nhẹ nhàng.

_những gì thuộc về Sông Đà đều mang vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng:

+nước Sông Đà thay đổi theo mùa và màu sắc không giống như những dòng sông khác trên đất nước ta.

+ hai bên bờ sông hoang dại như mang nỗi niềm cổ tích từ ngàn xưa.

+trên bờ sông có hình ảnh con nai ngơ ngác

+trên mặt nước có hình ảnh con cá dầm xanh quẫy vọt.

Sông Đà trữ tình, thơ mộng qua tâm hồn.

_vẻ đẹp của người cố nhân

Ý nghĩa của vẻ đẹp trữ tình thơ mộng của dòng sông và ý nghĩa của hình tượng Sông Đà.

_vẻ đẹp trữ tình là nét bút nhẹ nhàng, tinh tế của người nghệ sĩ đang đắm mình trong bức tranh thiên nhiên, cảnh vật.

_là tiếng nói nội tâm lãng mạn của chính tác giả.

_thể hiện lòng yêu nước của nhà văn.

2.3. Luận điểm 3: Hình ảnh dòng sông trữ tình, thơ mộng trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” được gợi tả chủ yếu qua góc nhìn địa lí và góc nhìn văn hóa. Vẻ đẹp từ góc nhìn địa lí: thủy trình của sông Hương được tái hiện ở ba chặng.

_sông Hương giữa núi rừng Trường Sơn.

+như một bản trường ca của rừng già.

+cô gái Di- gan phóng khoáng và man dại.

+người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở.

_sông Hương trong không gian Châu Thổ, Châu Hóa.

+vẻ đẹp của một người con gái đẹp: chuyển mình liên tục, uốn mình theo những đường cong mềm mại.

+vẻ đẹp của Hương giang rất mực đa dạng: có khi sắc nước trở nên xanh thẳm, có khi trở nên mềm như tấm lụa, có khi mang vẻ đẹp trầm mặc.

_sông Hương trong không gian kinh thành Huế.

+bắt đầu đi vào thành phố: được so sánh với “người tình vui tươi và duyên dáng”.

+trong lòng thành phố: điệu slow dành riêng cho Huế và được đặt trong trường liên tưởng so sánh với những con sông khác trên thế giới.

+rời khỏi thành phố: mang vẻ đẹp của “người tình dịu dàng và thủy chung”.

Vẻ đẹp từ góc nhìn văn hóa được chứng minh qua âm nhạc, thi ca và huyền thoại.

_dòng sông của thi ca bởi nó khơi gợi cảm hứng cho tâm hồn bao người nghệ sĩ.

_dòng sông của âm nhạc: được so sánh với nàng Kiều xinh đẹp, tài sắc trong thơ Nguyễn Du.

_dòng sông của huyền thoại: bắt nguồn từ tên gọi của sông Hương đã gắn với những dấu ấn riêng biệt.

2.4. Luận điểm 4: vẻ đẹp của dòng sông Việt Nam qua vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của sông Đà và sông Hương.

_hai dòng sông đại diện cho hàng nghìn con sông trên khắp đất nước với những vẻ đẹp đa dạng.

_vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông cũng chính là biểu trưng của vẻ đẹp thiên nhiên, con người Việt Nam.

_vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam đều được cảm nhận bằng trái tim co người Việt Nam nặng lòng vơi quê hương, đất nước như “Bên kia Sông Đuống” của Hoàng Cầm, dòng sông Kinh Thầy đi vào trang thơ của Trần Đăng Khoa.

3. Kết bài:

Khẳng định vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của hai dòng sông: sông Đà và sông Hương Giang, khơi gợi tự hào, trân trọng với dòng sông trên quê hương, đất nước Việt Nam.

Nhà văn Nguyễn Tuân là tên tuổi lớn của văn học Việt Nam hiện đại. Ông là người trí thức yêu nước, giàu tinh thần dân tộc và rất mực tài hoa, uyên bác. Sáng tác văn chương của Nguyễn Tuân luôn có sự chuyển mình rất tích cực theo biến chuyển của thời đại. Nếu trước Cánh mạng, ngòi bút của ông hướng đến ba đề tài lớn là “thiếu quê hương”, “chủ nghĩa xê dịch”, đời sống trụy lạc thì sau Cách mạng, tác phẩm của Nguyễn Tuân trở nên phong phú hơn với đề tài về ngợi ca thiên nhiên, con người, đất nước Việt Nam.

Tùy bút “Người lái đò Sông Đà” được trích từ tập “Sông Đà”- tác phẩm kí thành công bậc nhất của nhà văn Nguyễn Tuân và cũng gắn với nhiều kỉ niệm của ông. Đó là thành quả chuyến đi thực tế của nhà văn vào những năm 1959,1960. Ông lên Tây Bắc để khám phá thiên nhiên, con người nơi đây, tìmkiếm thứ vàng mười đã qua thử lửa. Và ấn tượng sâu đậm mà bút kí Sông Đà cùng tùy bút Sông Đà để lại trong lòng bạn đọc là một dòng sông hung bạo nhưng cũng rất đỗi trữ tình dưới đôi tay chèo điệu nghệ.

Còn tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn chuyên về bút kí. Ông có lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm,tài hoa, kiến thức phong phú về nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, với sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và chất trữ tình, giữa tư duy đa chiều với nghị luận sắc bén, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã mang đến cho bạn đọc nhiều tác phẩm đặc sắc. Các tác phẩm bút kí chính của ông phải kể đến: “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu”, “Rất nhiều ánh lửa” và “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”.

“Ai đã đặt tên cho dòng sông?” là một trong số những tập bút kí xuất sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bút kí ban đầu vốn có nhan đề “Hương ơi e phải mày chăng?” được tác giả hoàn thành ngày 4/1/1981 khi nhà văn sống bên bờ sông Hương, trong thành phố Huế hơn bốn mươi năm. Tình yêu sông Hương, xứ Huế thơ mộng đã vun đắp trong ông tình cảm để viết những trang kí đẹp về sông Hương, xứ Huế.

Sau những trang viết về một Sông Đà hung bạo, nhà văn Nguyễn Tuân mở ra trước mắt ta hình ảnh con sông trữ tình, thơ mộng như một sinh thể sống với sự thơ mộng, trữ tình qua dáng vẻ và qua tâm hồn. Vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của Sông Đà mang theo màu sắc huyền ảo, ẩn chứa những gì thơ mộng, tinh túy nhất của nơi thiên nhiên núi rừng Tây Bắc hoang dại.

Dáng vẻ của Sông Đà là vẻ đẹp bên ngoài của dòng sông mà bạn đọc dễ dàng bắt gặp khi đến với Sông Đà, khi tìm về mảnh đất Tây Bắc. Dòng sông được so sánh với người thiếu nữ mang vẻ đẹp kiều diễm “Con Sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”. Cách so sánh của Nguyễn Tuân rất độc đáo, duyên dáng khi nhìn dòng sông như một mái tóc mềm mại sinh thể sống sống động đến từng chi tiết. Từ “áng” làm câu văn tăng thêm tính thẩm mĩ bởi nó là thường được dùng trong cụm “áng văn, áng thơ”. Ví von dòng sông như “áng tóc trữ tình” quả là cảm nhận tinh tế của nhà văn khiến ai cũng phải yêu phải quý. Nguyễn Tuân còn không quên khẳng định vẻ đẹp của Sông Đà cũng mang đậm hơi thở của cái đẹp nơi thiên nhiên, núi rừng Tây Bắc với những hoa ban, hoa gạo, mù khói núi Mèo. Trong cả một câu văn, nhà văn chỉ dùng hai dấu ngắt câu, có lẽ là bởi dòng cảm xúc trong Nguyễn Tuân đã dâng trào mãnh liệt khi bắt gặp khung cảnh tuyệt đẹp đó. Một sự biến chuyển đầy tinh tế từ những dữ dội, hiểm nguy đến vẻ dịu dàng, e ấp của người thiếu nữ Tây Bắc- dòng Sông Đà. Tất cả đều trở nên hợp lí, tinh tế dưới ngòi bút tài hoa của nhà văn.

Khám phá nét đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông vốn hung bạo. Tưởng chừng đó là một thách thức, nhưng thách thức ấy cũng trở nên êm đẹp dưới tài hoa của người nghệ sĩ chân chính. Ông phát hiện được những vẻ đẹp đa dạng của Sông Đà và với bản thân tác giả, những gì thuộc về Sông Đà đều khoác trên mình cái đẹp trữ tình, thơ mộng. Đó là những lời văn khẳng định về nét riêng của nước Sông Đà. Đặt Sông Đà trên bình diện so sánh với nhiều dòng sông khác trên đất nước ta. Điều mà tác giả muốn khẳng định đâu phải sự “trên cơ”. Nguyễn Tuân rất nhẹ nhàng để bạn đọc nhìn được nét riêng của dòng sông. Nước Sông Đà không đục ngầu, mỗi mùa lại có những vẻ đẹp rất riêng cho sắc nước Sông Đà: mùa xuân dòng sông xanh ngọc bích, mùa thu thì lừ lừ chín đỏ…Tác giả so sánh ví von rất triệt để và minh oan cho dòng sông. Sông Đà chưa bao giờ đen, xấu xí như thực dân Pháp từng vu oan. Dường như khám phá của nhà văn không chỉ dừng lại ở hình ảnh nước sông. Ông còn hướng ánh nhìn và ngòi bút của mình để phát hiện đến tận cùng của cái đẹp để khám phá ra vẻ đẹp rất đỗi nên thơ của con sông: Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Nhà văn Nguyễn Tuân đã dùng rất nhiều so sáng trong bài viết của mình. Ông tinh tế khi nhìn ngắm cái tĩnh lặng của khung cảnh Sông Đà. Ông khơi gợi trong bạn đọc bao hoài niệm dù chưa một lần đặt chân đến Tây Bắc. Nó quen thuộc vì ta đã bắt gặp nó đâu đó trong những câu chuyện cổ tích. Bên bờ sông còn thơ mộng bởi hình ảnh con nai ngơ ngác nghe tiếng còi.Trong cái lặng tờ, yên ả của cảnh vật, tiếng còi xé tan không gian yên tĩnh và làm con người, cảnh vật thức tỉnh với sức sống tươi mới.

Và có lẽ người ta càng thêm yêu bởi Sông Đà đã trở thành kí ức sâu đậm. Sông Đà được ví như một người cố nhân. Người cố nhân- người bạn cũ đã từng chứng kiến những vui buồn trong đời ta. Giống như bao người bạn khác, Sông Đà đã trở thành người bạn yêu thương của hiện tại, cố nhân của người đi xa để dù đi đâu ai cũng thương, cũng nhớ.

Ngòi bút ngông tài hoa của Nguyễn Tuân đã cho bạn đọc một góc nhìn mới lạ hơn về Sông Đà. Những thủ pháp so sánh, liệt kê đã trở thành trợ thủ đắc lực để ngòi bút Nguyễn Tuân tung hoành và thỏa sức sáng tạo. Sông Đà trữ tình, thơ mộng cũng chính là vẻ đẹp biểu trưng cho thiên nhiên Tây Bắc và là lời mời gọi thiết tha mọi người một lần đến ngắm nhìn dòng sông đẹp nên thơ. Nguyễn Tuân gửi vào từng câ chữ của mình là tâm tư, tình cảm trân trọng cho cảnh sắc tươi đẹp của thiên nhiên, đất nước Việt Nam.

Một Sông Đà trữ tình, thơ mộng qua dáng vẻ, qua tâm hồn đã làm say lòng bạn đọc dưới ngòi bút Nguyễn Tuân. Nhưng khi đến với Hoàng Phủ Ngọc Tường với trang bút kí “Ai đã đặt tên cho dòng sông”, người đọc còn được khám phá một dòng Hương giang thơ mộng, trữ tình không kém. Vẻ đẹp trữ tình của sông Hương được tái hiện rất rõ nét và hệ thống qua từng chặng đường nó đi qua và trên nhiều góc nhìn của nhà văn. Trong mỗi góc nhìn, sông Hương lại khoác lên mình nó tấm áo đẹp riêng để thể hiện cái tôi, cái tài hoa của cây bút hướng nội Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Sông Hương được gắn với điểm nhìn đầu tiên là từ góc nhìn địa lí. Đây cũng là điểm nhìn mà tác giả tập trung khai thác hơn cả trong toàn bài bút kí đi tìm cội nguồn của cái tên: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”. Sông Hương được minh chứng cho vẻ đẹp của mình ngay khi nó còn nằm trong không gian núi rừng Trường Sơn. Sông Hương được so sánh “như một bản trường ca của rừng già”. Dòng sông đẹp một cách hùng vĩ qua cách miêu tả của tác giả “rầm rộ giữa những bóng cây đại ngàn, mãnh liệt qua những ghềnh thác và cuộn xoáy như cơn lốc vào đáy vực sâu thẳm”. Nhưng nó cũng rất đỗi trữ tình “dịu dàng và say đắm khi đi qua những rặng dài chói loại màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”. Đến một điểm nhìn khác là giữa lòng Trường Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhân hóa sông Hương “cô gái di gan phóng khoáng và man dại”. Hình ảnh cô gái Di- gan đã cho thấy cái nhìn mới mẻ, độc đáo của tác giả. Sông Hương trong mắt nhà văn là một sinh thể sống tự do, mạnh mẽ, có cá tính, tâm hồn riêng như cô gái Di- gan. Phải rất kỳ công trong khám phá, tinh tế trong cảm nhận thì ông mới phát hiện được cái riêng biệt của người con gái ấy. Nhưng như vậy thôi chưa đủ, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tìm tòi và hướng ngòi hút của mình tới cả những chỗ khuất lấp nhất của dòng sông ấy để viết lên câu chữ đặc sắc. Sông Hương- người mẹ phù sa của vùng văn hóa xứ sở. Lúc này, con sông mang theo vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ bởi lẽ “quãng sông này đã hết ghềnh thác”. Nó mang vẻ dịu hiền của người mẹ và ngày ngày góp phần bồi đắp văn hóa cho người dân sống hai bên bờ sông và xứ Huế. Sông Hương đã góp công to lớn để hình thành, bảo tồn và giữ gìn văn hóa xứ Huế. Dòng sông là người mẹ ngày đêm lặng lẽ, âm thầm cống hiến tạo nên cái đẹp riêng mộng mơ của Huế.

Sông Hương tiếp tục được khám phá ở nhiều nét đẹp trong không gian cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại. Trước hết, nhà văn so sánh “Nó là người gái đẹp nằm ngủ mơ màng”. Người gái đẹp ấy mang vẻ đẹp gợi cảm và đang phô khoe nét đẹp của mình khi chuyển dòng liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm. Và những chướng ngại vật cản trở như núi Vọng Cảnh, Tam Thai, Lựu Bảo đã tạo cơ hội giúp Hương Giang phô khoe những đường cong mềm mại. Bên cạnh đó, người đọc còn được biết đến nét đẹp đa dạng của con sông với những biến chuyển màu sắc lạ mắt. Có khi các nước trở nên xanh thẳm khi đi qua dư vang của Trường Sơn, sự in bóng của những hàng cây đại ngàn tạo màu xanh cho mặt nước. Còn lại những quãng sông êm đềm, nó trở nên mềm như tấm lụa. Vẻ đẹp đa dạng ấy còn được minh chứng qua sự biến màu của mặt nước: sớm xanh, trưa vàng, chiều tím. Một loạt hình ảnh liệt kê mang đến bao khám phá về vẻ đẹp của dòng sông. Không chỉ rực rỡ, nổi bật, Hương giang còn quyện mình vào cái lặng tờ và trầm mặc của không gian. Nó mang vẻ đẹp trầm mặc đi qua những lăng tẩm ở rừng thông u tịch, nhưng rồi lại bừng sáng và tươi tắn khi nghe thấy âm thanh của thành phố, của tiếng chuông chùa Thiên Mụ ngân nga tận bờ bên kia giữa những xóm làng trung du bát ngát tiếng gà. Cuộc hành trình sông Hương thực sự trở thành hành trình đi tìm người yêu của người gái đẹp, phô khoe và hoàn thiện vẻ đẹp của mình để đến với người yêu: tìm kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, Thúy Kiều và Kim Trọng.

Trải qua bao chặng đường, Hương Giang đã đến được với người yêu: không gian kinh thành Huế. Khi mới bắt đầu vào thành phố thân yêu, sông Hương được so sánh với “người tình vui tươi và duyên dáng”. Nó rạo rực khi thấy dấu hiệu của thành phố với những bờ bãi xanh biếc và chiếc cầu trắng như vầng trăng non. Những hình ảnh hiện ra tức khắc ấy cũng có cái e ấp của mối tình chớm hé nơi người con gái đẹp. Và người con gái ấy cũng làm duyên, làm dáng lần cuối trước khi gặp mặt người yêu: uốn một cánh cung rất nhẹ sang Cồn Hến. Và khi được ở trong vòng tay người yêu, con sông như luyến tiếc nên dành tặng một điệu slow dành riêng cho Huế. Nó chảy với lưu tốc chậm đến mức mà Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm nhận “cơ hồ chỉ còn là mặt hồ yên tĩnh”. Để nhấn mạnh độ chảy chậm rãi của Hương giang, nhà văn đã đặt nó trong thế đối sánh với sông Nêva “chảy nhanh đến mức làm lũ hải âu muốn nói một câu với người bạn của mình cũng không kịp”. Vì vật mà ông càng thêm yêu quý điệu chảy ngập ngừng. lặng tờ muốn đi muốn ở của dòng sông quê mình. Chúng ta cũng đã từng bắt gặp nét riêng lặng tờ ấy của Hương giang trong những vần thơ của Tố Hữu.

Hương giang ơi dòng sông êm Con tim ta ngày đêm vẫn tự tình.

Đến cách mà nhà văn lí giải về sự chậm ấy của dòng sông cũng không hoàn toàn theo cái nhìn chủ quan. Hoàng Phủ Ngọc Tường lí giải vận tốc chậm ấy trước hết là do địa lí tự nhiên: ở Huế có nhiều chi lưu làm giảm vận tốc nước cùng với hai hòn đảo nhỏ ở giữa sông ngăn cản dòng chảy. Nhưng theo lí lẽ của trái tim nhà văn thì sông Hương dành quá nhiều tình cảm cho Huế nên không muốn rời xa, muốn nằm mãi trong lòng người yêu. Dù có luyến tiếc thì Hương giang vẫn phải nói lời từ biệt người yêu, rời xa thành phố song con tim vẫn mãi là ” người tình dịu dàng và chung thủy”. Tưởng như sẽ mãi rời xa song sự am hiểu của tác giả đã giúp người đọc biết đến quãng đường đẩy đưa qua lại của dòng sông, rùng rằng nửa đi nửa ở. Sông Hương rời khỏi kinh thành, chếch về hướng chính bắc rồi lại uốn mình theo hướng tây đông và gặp Huế lần cuối ở thị trấn Bao Vinh cổ xưa. Người con gái lưu luyến người yêu và bịn rịn giờ phút chia tay.

Sông Hương càng thêm thi vị khi được nhà văn đặt dưới góc nhìn văn hóa. Con sông tình yêu càng thêm lung linh bởi âm nhạc, thi ca và huyền thoại. Sông Hương được so sánh “người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya” bởi điệu chảy của nó rất phù hợp với những đêm nhạc và đây cũng là nơi sinh thành nền âm nhạc dân gian và cung đình Huế. Như một nàng Kiều, sông Hương có cả tài và sắc. Đồng thời, dòng sông thân thương ấy còn là dòng sông của thi ca. Nó là “nàng thơ” gợi cảm hứng cho biết bao tâm hồn thi sĩ và chưa bao giờ lặp lại mình trong những trang viết. Với mỗi người, sông Hương lại gợi cảm, lại đẹp theo một cách riêng. Phải chăng vì lẽ đó mà nó được biết là dòng sông của huyền thoại. Tên gọi sông Hương quả xứng tầm với nét đẹp dịu dàng nhưng cũng rất cá tính, độc đáo. Và nhà văn đặt ra câu hỏi: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” thể hiện nỗi niềm băn khoăn, suy ngẫm và ham thích khám phá. Từ truyền thuyết người dân hòa mùi hương của hàng nghìn bông hoa rồi đổ xuống dòng sông mà tác giả đã gợi ra cái đẹp vĩnh hằng cùng danh thơm muôn thuở của dòng sông thần tiên. Những dấu ấn riêng biệt của con sông quê hương với thi, nhạc, họa sẽ không bao giờ phai tàn trong lòng độc giả.

Hai dòng sông thuộc hai dải đất khác nhau trên đất nước ta nhưng lại là những dòng chảy tiêu biểu nhất cho vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam. Ngày ngày, những dòng sông ấy vẫn đang cống hiến không ngừng cho sự phát triển kinh tế, gìn giữ nền văn hóa dân tộc mà chẳng cần một sự ghi danh. Dòng sông yêu thương với dòng chảy, với mạch nguồn phù sa bồi đắp cho non sông tươi đẹp. Trải qua những bão lũ, những ngập lụt, bao khó khăn khắc nghiệt xảy đến làm ta càng thêm yêu cái đẹp bình dị, trữ tình của dòng sông Việt Nam như cách Nguyễn Tuân viết về sông Đà, như áng văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khám phá Hương giang thơ mộng. Đề tài dòng sông Việt Nam nói riêng, thiên nhiên Việt Nam nói chung sẽ luôn là nơi thi sĩ gửi gắm trực tiếp niềm yêu, sự trân trọng, tự hào của mình dành cho quê hương. Ta từng bắt gặp một Hoàng Cầm say lòng với “Bên kia sông Đuống”, hay Trần Đăng Khoa với những vần thơ về dòng sông Kinh Thầy- dòng sông quê hương. Như một mạch nguồn cảm xúc lớn lao, dòng chảy trữ tình, thơ mộng của dòng sông Việt Nam cũng là mạch chảy ngọt ngào đi vào thơ ca, nghệ thuật và tao nên những áng thơ văn sống mãi cùng thời gian.

Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường là hai cây bút kí thật sự xuất sắc. Tài năng, phong cách của các tác giả đã được minh chứng qua những câu chữ trữ tình, thơ mộng viết về những dòng sông. Họ mang thiên nhiên, cuộc sống đến gần hơn với bạn đọc và vun đắp trong từng thế hệ tình yêu to lớn với thiên nhiên, với quê hương đất nước. Dòng chảy của sông Đà, sông Hương sẽ luôn tỏa hương và rực sáng trên thi đàn văn học nước nhà.

【#8】Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 47, 48: Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông ( Trích ) Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đọc Thêm: Những Ngày Đầu Của Nước Việt Nam Mới (Trích Những Năm Tháng Không Thể Nào Quên) Võ Nguyên Giáp

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG

(Trích Những năm tháng không thể nào quên)

VÕ NGUYÊN GIÁP

* Bài: Đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông” – Hoàng Phủ Ngọc Tường

– Vẻ đẹp độc đáo đa dạng của sông Hương và tình yêu, niềm tự hào của tác giả đối với dòng sông quê hương, xứ Huế thân thương và đất nước.

– Lối hành văn uyển chuyển, ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh và nhịp điệu; nhiều so sánh, liên tưởng mới mẻ, bất ngờ, thú vị; nhiều ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ được sử dụng tài tình.

– Đọc- hiểu thể ký văn học theo đặc trưng thể loại.

– KNS: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy sáng tạo.

Tuần: 16 Ngày dạy: 8/12/2010 Tiết: 47,48 AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ( Trích ) HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG (Trích Những năm tháng không thể nào quên) VÕ NGUYÊN GIÁP A/. MỤC TIÊU: * Bài: Đoạn trích "Ai đã đặt tên cho dòng sông" - Hoàng Phủ Ngọc Tường 1/. Kiến thức: - Vẻ đẹp độc đáo đa dạng của sông Hương và tình yêu, niềm tự hào của tác giả đối với dòng sông quê hương, xứ Huế thân thương và đất nước. - Lối hành văn uyển chuyển, ngôn ngữ gợi cảm, giàu hình ảnh và nhịp điệu; nhiều so sánh, liên tưởng mới mẻ, bất ngờ, thú vị; nhiều ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ được sử dụng tài tình. 2/. Kĩ năng: - Đọc- hiểu thể ký văn học theo đặc trưng thể loại. - KNS: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy sáng tạo. 3/. Thái độ: - Bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước. 1/. Kiến thức: - Những khó khăn ban đầu của nước VNDCCH, những quyết sách đúng đắn và sáng suốt của Đảng, Chính phủ và Chủ tịch HCM. - Mối quan hệ khăng khít giữa đất nước và nhân dân, giữa lãnh tụ và quần chúng - Cảm hứng tự hào, giọng văn chân thành, giản dị. 2/. Kĩ năng: - Đọc hiểu hồi kí theo đặc trưng thể loại. - KNS: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy sáng tạo. 3/. Thái độ: - Biết trân trọng và không quên những năm tháng đầy khó khăn và vinh quang của đất nước. B/. TRỌNG TÂM: * Bài 1: Vẻ đẹp thiên nhiên phong phú, đa dạng, huyền ảo, đầy chất thơ của sông Hương. * Bài 2: Nước Việt Nam mới trong những ngày đầu độc lập phải vượt lên bao gian khó để tồn tại đứng vững và khẳng định vị trí của mình. C/. CHUẨN BỊ: ♠ G: SGK, SGV, thiết kế bài học, ảnh tác giả, tranh vẽ sông Hương. ♠ H: SGK; Đọc hiểu bài:Ai đã đặt tên cho dòng sông, Những ngày VN mới.; tập soạn, tập học. D/. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC: 1. Ổn định tổ chức: Kiểm diện HS 2. Kiểm tra miệng: Người lái đò sông Đà - Phân tích hình tượng con sông Đà. (II.1) (6đ) - Phân tích hình tượng người lái đò trong cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo? (II.2) (4đ) 3. Bài mới: HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG BÀI HỌC A. Bài 1: * Hoạt động 1: Tổ chức tìm hiểu chung 1. HS đọc phần Tiểu dẫn trình bày những nội dung cơ bản về tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường - Hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của bài kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? - Cho biết vị trí của đoạn trích - Hãy chia bố cục của đoạn trích * Hoạt động 2: Hướng dẫn đọc hiểu. Bước 1: Tìm hiểu vẻ đẹp của dòng sông Hương. Hãy phân tích những vẻ đẹp khác nhau của sông Hương dưới ngòi bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường? Đặt tên cho vẻ đẹp đó? TIẾT 2 - Nếu nhìn từ góc độ văn hoá - lịch sử dòng Hương mang vẻ đẹp như thế nào? - Thế nhưng trong trí tưởng tượng tài hoa của tác giả, sông Hương lại mang vẻ đẹp như thế nào? - Với bút pháp nghệ thuật nào cho em cảm nhận được điều đó? Bước 2: Tìm hiểu vẻ đẹp tâm hồn của người dân cố đô. Qua vẻ đẹp được thể hiện ở nhiều góc độ của dòng Hương em nhận thức được gì về lịch sử, văn hoá, vẻ đẹp tâm hồn của người cố đô? Bước 3: GV cho HS rút ra ý nghĩa biểu tượng của sông Hương và nhan đề Bước 4: Tìm hiểu vẻ đẹp bài kí qua nghệ thuật so sánh. * Hoạt động 3: Chủ đề? * Hoạt động 4: Hướng dẫn học sinh tổng kết. + HS đọc phần Ghi nhớ. + GV nhấn mạnh những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa của văn bản. B. Bài 2: * Hoạt động 1: GV hướng dẫn HS tìm hiểu phần Tiểu dẫn - Nêu tóm tắt về tác giả Võ Nguyên Giáp - Hãy trình bày hoàn cảnh ra đời của tác phẩm ( đoạn trích) * GV giới thiệu thể loại hồi kí ( lấy dẫn chứng) * Hoạt động 2: GV hướng dẫn HS đọc hiểu văn bản - Bước 1. GV cho HS tìm hiểu về bố cục - Bước 4 GV cho HS nhận xét chung - Bước 5 GV lấy ví dụ về một vài tác phẩm hồi kí của một số tác giả khác ( viết về cuộc đời) để học sinh so sánh với tác phẩm này → để tìm ra nét đặc biệt về nghệ thuật thể hiện hồi kí ở đây * Hoạt động 3: GV hướng dẫn HS tổng kết bài học - Chủ đề? - Nghệ thuật? A. Bài 1: I. Tìm hiểu chung: 1. Tác giả: - Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937) là một trí thức yêu nước, một chiến sĩ trong phong trào đấu tranh chống Mĩ - Nguỵ ở Thừa thiên - Huế. - Ông quê gốc ở Quảng Trị nhưng sống và học tập, hoạt động, trưởng thành và gắn bó sâu sắc với Huế. - Nhà văn chuyên viết về bút kí với đề tài khá rộng lớn. Tác phẩm của ông đã thể hiện những nét riêng của cảnh sắc và con người khắp mọi miền đất nước từ Bắc vào Nam. Nhưng đọng lại ấn tượng sâu sắc nhất đối với độc giả vẫn là những bài viết về Huế, Thuận Hoá, Quảng Trị, Quảng Nam. - Nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với tư duy đa chiều được tổng hợp từ vốn kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực, lối viết hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa tạo cho thể loại bút kí một phong cách riêng, đem đến những đóng góp mới cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại - Tác phẩm chính (xem SGK). 2. Tác phẩm a. Hoàn cảnh sáng tác - Sông Hương là dòng sông đặc trưng cho Huế, dòng sông đã đi vào thơ ca của nhiều thế hệ nhà thơ Việt nam như Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quan,Tố Hữu, Thu Bồn, - Tác giả viết ở Huế vào ngày 4/1/1981, in trong tập sách cùng tên của HPNT. b. Vị trí đoạn trích Bài bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? Có 3 phần, đây là phần thứ nhất. c. Bố cục đoạn trích: 2 phần -Phần 1 : "từ đầuquê hương xứ sở" : Sông Hương trong vẻ đẹp của thiên nhiên . -Phần 2 : từ "Hiển nhiênđến hết" : Sông Hương trong vẻ đẹp của lịch sử, văn hoá II. Đọc - Hiểu văn bản: 1. Vẻ đẹp sông Hương: a- Vẻ đẹp được nhìn từ góc độ thiên nhiên: - Vẻ đẹp: Phóng khoáng & man dại, rầm rộ và mãnh liệt, là một bản trường ca của rừng già → khi đi qua giữa lòng Trường Sơn. - Có vẻ đẹp "dịu dàng và trí tuệ" khi trở thành " người mẹ phù sa" của vùng văn hoá đất đế đô. - Vẻ đẹp biến ảo phản quang nhiều màu sắc của nền trời Tây Nam: sáng xanh-trưa vàng-chiều tím. - Có vẻ đẹp trầm mặc khi chảy dưới chân rừng thông. - Có vẻ đẹp mang màu sắc triết lí, cổ thi. - Có vẻ đẹp vui tươi, mơ màng trong sương khói. b- Vẻ đẹp được nhìn từ góc độ văn hoá: - Gắn sông Hương với âm nhạc cổ điển → Huế là một tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya. + Liên tưởng đến Nguyễn Du & truyện Kiều. + " Dòng sông trắng lá cây xanh" trong thơ Tản Đà. + Vẻ đẹp hùng tráng như " kiếm dựng trời xanh" của Cao Bá Quát. + Là nỗi hoài cổ trong lòng Bà Huyện Thanh Quan. + Là sức mạnh phục sinh trong hồn thơ Tố Hữu. c- Vẻ đẹp được nhìn từ góc độ lịch sử: - Sông Hương còn là dòng sông bảo về biên thuỳ TQ thời Đại Việt. - Sông Hương từng soi bóng kinh thành Phú Xuân của Nguyễn Huệ, từng chứng kiến bao cuộc khởi nghĩa. - Nó sống hết lịch sử bi tráng của TK XIX với máu những cuộc khởi nghĩa. - Sông Hương đi vào thời đại cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển. Cùng với niềm cổ vũ nồng nhiệt dành cho nó trong chiến dịch Mậu Thân. d- Vẻ đẹp trong trí tưởng tượng tài hoa của tác giả: Nghệ thuật so sánh và liên tưởng: - Sông Hương như một cô gái Huế. - Như một cô gái Digan phóng khoáng và man dại. - Như một tài nữ. 2- Vẻ đẹp tâm hồn người dân cố đô: Được nhìn qua nghệ thuật nhân hoá đối với dòng Hương. - Có nét tính cách và tâm hồn riêng: trầm mặc, trang nghiêm, dịu dàng, sâu sắc. - Có cái duyên riêng: tình tứ mà kín đáo, tài hoa, khéo trang sức mà không loè loẹt phô trương. 3- Ý nghĩa biểu tượng của sông Hương và nhan đề Ai đã đặt tên cho dòng sông? a.Vẻ đẹp của sông Hương chính là vẻ đẹp của Huế. Sông Hương là biểu tượng của Huế. b. Nhan đề "Ai đã đặt tên cho dòng sông ?" - Mang nghĩa hỏi ( chính nội dung bài kí là câu trả lời) - Mang tính chất biểu cảm: Sông Hương là sự hoá thân từ một huyền thoại. + Cái cớ để nhà văn miêu tả, ca ngợi vẻ đẹp của SH. + Thể hiện tình cảm của tác giả với dòng Hương và thành phố Huế . Sự vương vấn, lưu luyến trước vẻ đẹp như không bao giờ khám phá hết được của sông Hương. 4- Nghệ thuật so sánh: - Nghệ thuật ví von-so sánh đặc sắc: + Chiếc cầu trắng - vành trăng non: thể hiện một niềm vui mà không ồn ào. + Như một tiếng vâng không nói nên lời của tình yêu: Biểu hiện sự thuận tình nhưng không nói ra vì e lệ. + Sử thi viết giữa màu cỏ lá: Sử thi là chiến công, là cái hùng đi với màu đỏ → sử thi mà trữ tình: nét độc đáo. - Thể hiên rõ đặc điểm thể loại: phóng túng, tài hoa, giàu thông tin văn hoá, lịch sử. III. Chủ đề: - Tình yêu và lòng tự hào tha thiết, lắng sâu dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế và càng làm cho đất nước văn hiến từ nghìn xưa. - Sông Hương là biểu tượng cho vẻ đẹp của cảnh và người đất kinh thành. IV.Tổng kết: 1. Nghệ thuật: - Văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa; - Ngôn từ phong phú, gợi hình, gợi cảm; - Câu văn giàu nhạc điệu. - Các biện pháp nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa, so sánh được sử dụng một cách hiệu quả. 2. Ý nghĩa văn bản: - Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương. - Bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương. B. Bài 2: I. Tìm hiểu chung 1. Tác giả Võ Nguyên Giáp ( SGK) 2. Tác phẩm a. Hoàn cảnh sáng tác : Tái hiện lại những chặng đường lịch sử của dân tộc. Phần trích trên (tên bài do người biên soạn đặt) thuộc chương XII của tập hồi kí Những năm tháng không thể nào quên viết năm 1970 ( do nhà văn Hữu Mai ghi lại) b. Thể loại hồi kí : Hồi kí là ghi chép về những gì xảy ra trong quá khứ trên cơ sở hồi tưởng, nhớ lại. Tác phẩm hồi kí thường mang đậm dấu ấn cá nhân. Người viết hồi kí thường là những người nổi tiếng: các lãnh tụ, các nhà hoạt động xã hội, các tác giả sáng tạo văn học nghệ thuật,.... Đặc điểm quan trọng nhất của hồi kí là tính xác thực cao độ. II. Hướng dẫn Đọc - hiểu 1.Các nội dung cơ bản trong đoạn trích - Đoạn 1: "Từ đầu ập vào miền Bắc" : Từ thế đứng vững mạnh, hiên ngang của dân tộc thời chống Mỹ, tác giả hồi tưởng về "giờ phút hiểm nghèo" của đất nước VN mới. - Đoạn 2: "ttthêm trầm trọng" : Hồi tưởng lại những khó khăn về mọi mặt của đất nước. + Chính quyền mới vừa ra đời, chưa được công nhận. + Cuộc đấu tranh giành độc lập của chúng ta chưa có sự hậu thuẫn của bạn bè năm châu, thù trong giặc ngoài luôn đe doạ nền độc lập. + Kinh tế, tài chính khó khăn. + TDP tái xâm lược rất sớm tại Nam Bộ - Đoạn 3: "ttba trăm bảy mươi kilôgam vàng" : Hồi tưởng lại những quyết sách ( biện pháp tích cực) của chính quyền mới và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách của toàn Đảng, toàn dân ta. + Về chính trị: giải tán chính quyền cũ, xây dựng chính quyền mới của nhân dân. + Về kinh tế: giảm tô, xoá nợ, giảm giờ làm, giảm các thứ thuế vô lí, quyên góp để bổ sung nguồn lực tài chính, + Về văn hoá: mở rộng dạy học quốc ngữ để nâng cao dân trí. - Đoạn 4: còn lại : Hình ảnh Bác Hồ là hình ảnh tượng trưng cao đẹp nhất của dân, của nước, của cách mạng, của chính quyền mới, chế độ mới. Đây là hình tượng tiêu biểu, gây ấn tượng sâu sắc nhất. + Củng cố mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân, khích lệ tinh thần nhân dân + Củng cố chính quyền để tạo lòng tin cho nhân dân, bồi dưỡng sức dân để chống kẻ thù. I Đoạn trích Những ngày đầu của nước VN mới nói về giai đoạn ls khó khăn, đầy thử thách với toàn Đảng, toàn dân ta khi chính quyền đang còn non trẻ 2. Nét đặc biệt về nghệ thuật thể hiện hồi kí trong đoạn trích Thông thường hồi kí thường mang đậm dấu ấn cá nhân. Còn ở đây, tác giả trần thuật lại từ điểm nhìn của người đại diện cho bộ máy lãnh đạo của Đảng và chính phủ → gần như là cuốn biên niên sử của cả một dân tộc. Thể hồi kí đã có một diện mạo mới, một tầm vóc mới III. Tổng kết 1. Chủ đề: Nước Việt Nam mới trong những ngày đầu độc lập phải vượt lên bao gian khó để tồn tại đứng vững và khẳng định vị trí của mình. 2. Nghệ thuật: Đoạn hồi kí giống như những trang biên niên sử ghi lại những năm tháng không thể nào quên của đất nước 4. Câu hỏi, bài tập củng cố: - Câu 1: Đọc ghi nhớ? - Câu 2: - Qua đoạn trích em nhận xét gì về vai trò của Đảng và Bác Hồ đối với con thuyền CM Việt Nam 5. Hướng dẫn H tự học: * Bài ở tiết học này: + Vẻ đẹp sông Hương. + Nghệ thuật thể hiện hồi kí trong phần trích. * Bài ở tiết học tiếp theo: Quá trình văn học và phong cách văn học Câu hỏi: - Quá trình văn học? Cho TD? - Trào lưu Văn học? Cho TD? - Phong cách văn học? Cho TD? E/. RÚT KINH NGHIỆM: - Nội dung: - Phương pháp:. - Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học:....

【#9】Đặt Tên Biển Hiệu Cửa Hàng Theo Phong Thủy Mang Lại Tài Lộc

BIỂN HIỆU CỦA CỬA HÀNG

Biển hiệu của cửa hàng thể hiện rõ đặc điểm sản phẩm kinh doanh của cửa hàng.Dịch vụ khinh doanh tốt có thể khiến cho cửa hàng nổi danh khắp nơi.Biển hiệu cửa hàng mới lạ cũng có thể tạo dấu ấn cho khách hàng

25 nét: Cát, tính cách thông minh, địa vị quyền quý. Tuy xuất ngôn mạch lạc, lời nói ít nhiều có gai góc, nên cũng có hiểm khích bất bình, tuy có một số khó khăn nhưng không đủ để gây tổn hại, làm việc thận trọng, cuối cùng cũng đạt được đại nghiệp đại công.

26 nét: Trong hung có cát, thông minh thiên phú, giầu nghĩa khí, nghĩa hiệp. Phúc họa cùng đến, mãi đến về già mới có hạnh phúc. Cũng có vĩ nhân kiệt xuất.

27 nét: Trong cát có hung, tuy là tư chất tài hoa minh mẫn, cho dù có thành công nhưng bị đối đãi không công bằng. Bản tính quá cương trực mà chuộc lấy thất bại. Nhưng chịu khó tìm tòi học hỏi thì sẽ sinh ra danh nhân học thuật.

28 nét: Hung, hư không, diệt vong, là số tai họa biệt li. Giả sử nhất thời gặp được cơ hội thì cũng sẽ gặp rủi do ngoài ý muốn, cả đời vất vả gian lao, khó tránh được sự gièm pha bức hại, gặp nạn hình phạt cửa quan, hoặc lục thân ly tán, vợ chồng ly dị. Là phụ nữ thì phần nhiều rơi vào cô quả.

29 nét: Cát, mưu trí ưu tú, có thể lập chí là chính trị gia, đạt được thành công mà lại có quyền lực, tài lực. Nếu như tính tình quá cương, thì sẽ lợn lành chữa thành lợn què (hay là chữa tốt thành xấu, biến khéo thành vụng) dẫn đến hỏng việc.

30 nét: Trong cát có hung, là số sóng gió thăng trầm bất định. Cát hung song hành, sinh ra tư tưởng đầu cơ, giống như khai khoáng thám hiểm, hoặc có kỳ ngộ đại thành, hoặc đại bại, hay làm phụ lòng người gặp khó khăn.

31 nét: Cát. Trí, nhân, dũng có đủ, ý chí kiên cường, không chịu khuất phục, từng bước đi lên, chỉ huy mọi người, có thể thành đại trí đại nghiệp, có vận số lãnh đạo.

32 nét: Cát, thương được cấp trên che chở, mà dễ dàng thành công. Luôn gặp may, có cấp trên cất nhắc, thế thành công như vũ bão, tính cách ôn hòa, có nhiều phẩm chất tốt đẹp. Dùng cho phụ nữ là thích hợp nhất.

33 nét: Cát, là trạng thái mặt trời lên cao và là vận số cực thịnh. Quyền uy mưu trí, cương nghị quyết đoán, là phong cách nổi danh thiên hạ. Nếu như quá cương trực cứng nhắc thì e rằng gây thị phi. Phụ nữ phải thẩm tra kỹ mới sử dụng con số này.

34 nét: Hung, là số khổ cực vất vả. làm việc khó có thể thành công, trong ngoài đổ vỡ hỗn loạn, đại hung, bi thương vô hạn, như là đã hung lại thêm hung, nghĩa là bệnh tật đoản mệnh.

35 nét: Cát, là số ôn lương hòa thuận, bảo thủ bình an. Đặc biệt phát triển trên lĩnh vực văn học nghệ thuật, kỹ thuật. Nếu như ôm chí lớn thì sẽ là người tạo được đại nghiệp, lấy uy thế để bù thiếu sót. Thích hợp nhất với phụ nữ.

36nét: Hung, là hiệp khí nghĩa tình, quên thân vì nhân, là người thành công nổi tiếng, nhưng đa phần là mưu sự bất thành, ốm yếu đoản mệnh, cô quả vất vả cực nhọc, sóng gió khó khăn trùng điệp.

37 nét: Cát, có tài năng trí tuệ, có phẩm chất tốt, hiểu hậu, trung thực nhiệt tình, có chí lớn mà đạt được thành công không gì sánh được, có được sự tín nhiệm của nhiều người, được hương đại may mắn trời cho. Nhưng có tính cách độc đoán, nên tu dưỡng lòng độ lượng.

38 nét: Trong cát có hung, tuy có chí khí, nhưng không có quyền lực, thiếu sự uy phong và tham vọng làm thông soái, thiếu bản lĩnh người lãnh đạo, khó đạt được mục đích, chưa hẳn thành công, dễ rơi vào sự bất hạnh. Làm nghệ thuật thì có thể thành công.

39 nét: Cát, một lệnh phát ra, vạn người phụ họa, có quyền uy áp đảo thiên hạ. Tài mưu đầy mình, trường thọ phú quý, phồn vinh truyền đến đời con cháu. Nhưng đến quý cực tắc phản, người bình thường và nữ giới không nên dùng.

40 nét: Trong cát có hung, kiến thức tài năng ưu tú, biết tiến biết thoái, tuy đạt được thành công, nhưng cuối cùng khó tránh được thất bại, nếu kết hợp với người không thích hợp, e rằng gặp nhiều khó khăn. Thận trọng sẽ bình an.

41 nét: Cát, có lễ nghĩa, đạo đức, gan dạ, tài năng, mưu lược đủ cả, kiện toàn hòa thuận, có thể thành đại trí đại nghiệp. Một nhà phồn vinh, danh dự phú quý.

42 nét: Trong cát có hung, tuy có tài năng nghệ thuật, nhưng ý chí bạc nhược, bản thân thiếu sự chuẩn bị khi hành động nên đại sự bất thành. Cố gắng nỗ lực thì có thể thành công, nếu không tất sẽ thất bại, cô quả, khổ cực, trong người có bệnh tật.

43 nét: Trong cát có hung, là trạng thái hoa rụng đêm mưa, tán tài phá sản, bạc nhược, ý chí không kiên định, nhiều việc không thể tiến hành. Tuy có tài năng trí tuệ, vẻ ngoài hạnh phúc nhưng bên trong nhiều gian khổ. Dễ đổ vỡ thất bại.

44 nét: Hung, mùa thu lá rụng, là điểm báo phá gia vong thân, lao khổ, bệnh tật, gặp hoạn nạn.

45 nét: Cát, là trạng thái thuận buồm xuôi gió, mưu trí hơn người, độ lượng rộng rãi, đạt được danh lợi. Có thể thành đại trí đại nghiệp, phú quý vinh hoa.

46 nét: Hung, gặp nhiều khó khăn, sinh ra trong gia đình phú quý cũng bại vong.

47 nét: Cát, là trạng thái mùa xuân cây cỏ nở hoa và là số cát tường may mắn. Có thể được sự đề bạt của cấp trên, hoặc hợp tác với người khác sẽ thành đại nghiệp đại sự, là cát vận đế lại phúc lộc lâu dài cho con cháu.

48 nét: Cát, kiên định có đức, trí tuệ mưu lược hơn người, được hưởng phúc trời ban, công danh lợi lộc hưng thịnh, danh vọng tràn đầy, có thể làm cố vấn cho người khác, là số làm thầy.

49 nét: Hung, nơi ngã rẽ của cát hung, cát đến thì cát lại sinh cát, hung đến thì hung lại biến đại hung, là vận số dễ sinh sự biến hóa. Do đó, hạnh phúc và bất hạnh là dựa vào sự phối hợp với tam tài, và sự phối hợp của nó với vận cát hung khác mà quyết định, nhưng hay gặp tai họa, nghèo khổ.

50 nét: Trong cát có hung, là trạng thái hai thành một bại. số 50 được phân tích: trước là số 5, sau là thừa số 10. Nghĩa là trước kia có được lý số “ngũ” tự, gặp may mắn mà thành công, được hướng phúc lộc phú quý. Sau này do thừa số “thập” là hung số mà gặp phải thất bại, gặp nhiều khó khăn.

51 nét: Trong cát có hung, tuy có vận may trời cho, nhưng lại thiếu thực lực, tuy có thể hưng thịnh hướng phúc nhất thời.

52 nét: Cát, thông minh biết nắm thời cơ, dự kiến trước được sự việc, thành công nhảy vọt. Thế lực lớn mạnh, giầu tư tưởng đầu cơ, có cách xoay chuyển trời đất, tài lộc như suối chảy, đạt được đại trí đại nghiệp, danh lợi song toàn.

53 nét: Trong cát có hung. Bề ngoài thì có vẻ như may mắn thuận lợi, nhưng bên trong thực chất ẩn chứa nhiều tai họa, hoạn nạn. Nếu như nửa đầu bất hạnh, thì nửa sau sẽ có hạnh phúc. Nếu như nửa đầu sinh phú quý, thì nửa sau sinh sa sút.

54 nét: Hung, tự rơi vào bất hạnh, ám chỉ là có đại hung sát, khổ cực liên miên. Bất hòa, tổn hại, thất lạc, buồn phiền đến dồn dập, dẫn đến khuynh gia bại sản.

55 nét: Trong cát có hung, cực điểm của cát mà phản sinh ra hung, do đó bề ngoài có phần hưng thịnh. Nhưng bên trong lại là tai họa liên tục xuất hiện, bất cứ việc gì cũng không thể yên tâm, là vận số tương quan giữa cát và hung. Người có ý chí bạc nhược, khó có thể thành công.

56 nét: Hung, phàm là việc gì đều thiếu thực lực và dũng khí để tiến hành. Thiếu chí tiến thủ, không thể đạt được nguyện vọng mà dễ gặp phải tổn thất, tai họa, vong thân ngoài ý muốn.

57 nét: Trong hung có cát, là trạng thái chim oanh gặp mùa xuân. Gan dạ thông minh hơn người, thành công của sự nghiệp là đạt được từ trong gian khổ, tất sẽ gặp đại nạn một lần, sau đó sẽ được hướng cát tường, phồn vinh.

58 nét: Trong hung có cát, đa đoan chìm nổi, họa phúc vô thường, được hướng phúc phần trời ban, nhưng tất kinh qua đại thất bại, đại hoạn nạn, gia sản tiêu tán rồi sau nhờ sự cố gắng nỗ lực đạt được vinh hoa phú quý, là vận số trước đắng sau ngọt.

59 nét: Hung, là trạng thái tán gia bại sản và ý chí suy thoái, thiếu tính nhẫn nại, thiếu đi chí khí, không có tài nàng làm nền sự nghiệp.

60 nét: Hung, vô mưu vô kế, hành sự bất thành. Một đời tối tăm, là điềm báo của sự dao động bất an chồng chất, phương châm bất định, luôn gặp tranh chấp, do đó dễ phải chịu hình phạt tàn tật, đoản mệnh.

61 nét: Trong cát có hung, độc lập tự chủ, tự mình kinh doanh buôn bán thịnh vượng, là điềm lành được hướng vinh hoa phú quý, có thể đạt được danh lợi song toàn. Tiếc rằng ngạo mạn không khiêm tốn, dẫn đến trong ngoài bất hòa, gia đình không hòa thuận, anh em xích mích, khó mà hòa hợp được. Nên tu đức, thận trọng trong hành động lời nói, gần gũi hòa thuận là tốt lành êm xuôi.

62 nét: Hung, có bảo ngọc cũng tiêu tan, nghĩa là cho dù có gia sản tổ tiên để lại cũng khó mà giữ được. Trong ngoài bất hòa, thiếu sự tin tương, chí nguyện khó đạt, dần sẽ đi vào cảnh suy bại.

63 nét: Cát, mọi việc đều thuận buồm xuôi gió, có được phúc trời ban, gặp hung hóa cát, gặp dữ hóa lành, mọi sự đều nhận được ân huệ mà thuận lợi, không cần tổn hao tinh thần, vạn sự như ý, vinh hoa có thể truyền đến đời con cháu, phú quý cát tường.

64 nét: Hung, chạy đôn chạy đáo, cả đời vất vả, không có thành tựu, đổ vỡ, tai họa dồn dập ngoài ý muốn, hoặc cốt nhục ly tán, hoặc bệnh tật, cả đời gặp họa không được yên thân,

65 nét: Cát, là số làm bất cứ việc gì cũng thành công. Thiên trường địa cửu (tồn tại muốn thủa, lâu dài như trời đất), vận khí gia đình phát đạt, mọi việc đều đạt được, một đời bình an.

66 nét: Hung, là số bất hòa ly tán. Tiến thoái lưỡng nan, trong ngoài bất hòa, gian nan khổ cực, tổn hại, tai ách liên miên, suy bại thất vọng, là vận hung sụp đổ, tiêu tan.

67 nét: Cát, có nghĩa là cỏ cây gặp mùa xuân, phát đạt, được sự giúp đỡ của cấp trên, mọi việc không bị cản trở và luôn đạt được mục đích, chí nguyện như ý, vinh hoa phú quý.

68 nét: Độc lập tự chủ, thông minh chu đáo chặt chẽ, có khả năng phát minh, có khả năng xoay chuyển tình thế, đạt được nguyện vọng, danh lợi song toàn.

69 nét: Hung, tiến thoái lưỡng nan, khuynh gia bại sản, nghèo khổ, bức bách, dao động bất an. Tai đến dồn dập, còn bị bệnh tật, đoản mệnh, bất hạnh.

70 nét: Hung, là số diệt vong hiểm ác. Số phận long đong, hư ảo cô đơn, tàn tật, u ám, đoản mệnh.

71 nét: Trong hung có cát, là rồng trong hồ dưỡng thần đợi cơ hội, đến trung niên mới có thành tựu, một khi thời cơ đến thì dũng khí phấn chấn, làm việc gì cũng được như ý, đạt được thành công, về già được hưởng phúc.

72 nét: Hung, là trạng thái mây đen che mặt trăng, tư tưởng bất toại, buồn phiền khổ não, nhất thời gặp may phát đạt, nhưng vinh hoa không được lâu dài, về già phá gia vong thân.

73 nét: Cát, làm việc thận trọng, từng bước vững vàng, tích tiểu thành đại. Về già tất sẽ sung túc giầu có, để lại phúc cho con cháu.

74 nét: Hung, vô năng vô vị, cả đời không gặp may, làm việc gì cũng bị ngáng đường, lâm vào cảnh ngộ khôn khó, mà dễ sinh ra tai ách ngoài ý muốn, vất vả dồn dập, gia đình ly tán, buồn khổ cô độc, về già gặp bất hạnh.

75 nét: Trong cát có hung, khi sinh ra tuy rằng có đức, cát tường may mắn, nhưng do lười làm việc, thiếu đi dũng khí, kế hoạch bất toàn, cho dù có gặp may mắn thì phát triển cũng có hạn, hưởng phúc không dài.

76 nét: Hung, bề ngoài có vẻ gặp may mắn, nhưng bên trong thì không phải như vậy, trong ngoài bất hòa, một nhà ly tán, nghịch cảnh hung sát vô hạn, khuynh gia bại sản, mà nhiều bệnh tật, khốn khó nhiều tai vạ, là số bất hạnh đoản mệnh vong thân.

77 nét: Trong cát có hung, có ý nghĩa là gương sáng thu vạn vật, thân thiết với mọi người, cùng hợp tác làm việc, sự nghiệp có thể đạt được thành công, nhưng do người nhiều, công việc phức tạp, khó tránh được bị tiểu nhân làm hại, cuối cùng sẽ bị đổ vỡ, lâm vào cảnh khôn cùng.

78 nét: Trong cát có hung, cát hung tuy là nửa nọ nửa kìa, mà hung khí mạnh hơn một cấp, thông minh tài năng đạt được thành công trước tuổi trung niên, cho đến sau tuổi trung niên, dần tự suy thoái, cuối cùng lâm vào cảnh khốn cùng.

79 nét: Hung, tự cao tự đại, tinh thần bất định, xung quanh bất hòa, thiếu mưu kế, tài năng, mà gặp sự công kích thì không tránh được, là người bỏ đi, cả đời nghèo khổ.

80 nét: Trong hung có cát, một đời cát hung sát nhập, giai đoạn đầu khó khăn khổ cực, bệnh tật liên miên, sớm bước vào cuộc sống ở ẩn, có thể hóa hung thành cát.

81 nét: Cát, là số đỉnh điểm, tức là một đồng cũng trả lại, do đó giống với số 1, vạn bảo triều tông, phú quý danh lợi, vinh hoa trưòng thọ.

Phong thủy cho rằng Tự hoạch cát hung số là để bổ sung những thiếu hụt sau này của con người. Theo phong thủy, giờ, ngày, tháng, năm thụ thai đến khi sinh ra là số mệnh bẩm sinh, mà sự cát hung của việc đặt tên, chọn tên là để mở vận khí sau này. Bát tự bẩm sinh thiếu hụt thì nên bổ sung như: Thiếu Kim bổ sung Kim, thiếu Thủy thì bổ sung Thủy… Lựa chọn lý số hợp lý cho tên cửa hàng, thì có thể bổ sung được sự thiếu hụt về mệnh trong kinh doanh, có thể chuyển hung thành cát, mọi việc thuận lợi, tiếng tăm lan truyền, phát triển khả quan.

Trên thực tế, phương pháp đặt tên này của phong thủy là dùng thuyết pháp bổ sung sự thiếu hụt của vận mệnh bẩm sinh, cũng là một dạng gán ghép chủ quan của con người và cũng là một kiểu giải nghĩa gò ép hoang đường, không có bất kỳ căn cứ, lý lẽ khoa học nào, không nên dựa vào đó hoàn toàn.

Tên của cửa hàng

Tên của cửa hàng cũng giống tên người, mỗi cửa hàng đều có một cái tên riêng. Tên gọi ngoài việc phải có tính đặc sắc nổi bật, đại đa số chủ cửa hàng đều hy vọng chọn lấy một cái tên có thể mang lại sự cát tường như ý, hưng thịnh phát đạt cho công việc kinh doanh buôn bán.

Với người mua hàng mà nói, trước đây khi mọi người đi mua hàng đều thích và hâm mộ cửa hàng có tên mang tính cát tường, tốt lành nên thường không quản ngại xa xôi mà tìm đến. Do đó, có cửa hàng vì có cái tên cát lợi mà danh tiếng đồn xa, kinh doanh thịnh vượng. Vì vậy thông thường các nhà kinh doanh đều thích tên của cửa hàng của mình có ý nghĩa đặc biệt, mang đậm mầu sắc văn chương, luôn hy vọng tài lộc như nước. Một vốn bốn lời, đại phát đại tài.

Thông thường mà nói, từ ngữ dùng đặt tên cho cửa hàng trong dân gian luôn quanh quẩn những chữ cát lợi như: Càn, thịnh, phúc, lợi, tường, phong, nhân, thái, ích,xương

… Tên của những cửa hàng kinh doanh vạn vật (di vật văn hóa), đồ cổ, sách báo tạp trí, sách cổ, văn phòng phẩm, y dược… đa phần lấy những từ ngữ mang ý nghĩa điển nhã, thanh lịch, những cửa hàng kinh doanh ngành nghề khác thì lại lấy những từ ngữ mang ý nghĩa nhiều tài lộc để được sự cát lợi.

Trong những năm cuối đời Thanh đầu dân quốc, có một văn nhân họ Chu tên Bành Thọ, lấy những từ ngữ cát tường thường dùng để đặt tên cho cửa hàng làm thành một bài thơ thất luật (thể thơ gồm 8 câu, mỗi câu 7 chữ), để mọi người dễ nhớ và sử dụng:

Thuận dụ hưng long thụy vĩnh xương,

Nguyên hanh vạn lợi phục phong tương.

Thái hòa mậu thịnh đồng càn đức (đắc),

Khiêm cát công nhân hiệp đỉnh quang.

Tụ ích trung thông toàn tín nghĩa,

Cửu hằng đại mỹ khánh an khang.

Tân xuân chính hợp sinh thành quảng,

Nhuận phát hồng nguyên hậu phúc trường.

Bài thơ thất luật này tổng cộng có 56 chữ cát tường, có người lấy 56 chữ này phối hợp lại thành một bài thơ thất ngôn như thế này:

Quốc thái dân an phúc vĩnh xương,

Hưng long chính lợi đồng tể tường.

Hiệp lợi trường dụ toàn mỹ thụy,

Hợp hòa nguyên hanh kim thuận lương.

Huệ phong thành tụ nhuận phát cửu,

Khiêm đức đạt sinh hồng nguyên cường.

Hằng nghĩa vạn bảo phục đại thông,

Tân xuân mậu thịnh khánh an khang.

Chỉ cần lấy ra một, hai hoặc ba, bốn chữ trong 56 chữ này thì đều có thể hợp thành tên cửa hàng cát lợi, Ví dụ như những cửa hàng lâu năm nổi tiếng ở Trung Quốc lấy một chữ có: quán cơm Phong Trạch Viện của Bắc Kinh, quán rượu Lão Vạn Toàn của Nam Kinh, hiệu thuốc Đạt Nhân của Thiên Tân…, lấy hai chữ có: Cửa hàng mũ Thịnh Tích Phúc của Bắc Kinh, cửa hàng gạo Vương Càn Thịnh của Nam Kinh, cửa hàng nhung lụa Vương Thịnh Thái của Thiên Tân…, lấy 3 chữ có: Cửa hàng vịt quay Toàn Tụ Đức của Bắc Kinh, cửa hàng đồng hồ Hanh Đắc Lợi của Nam Kinh, hiệu ăn Toàn Tụ Đức của Thiên Tân…

Trong việc đặt tên cửa hàng ở Trung Quốc, ngoài việc cái tên đó mang ý nghĩa cát tường, thì một số cửa hàng ấy còn lấy những cái tên rất kỳ lạ và độc đáo, như “Cẩu Bất Lý” của Thiên Tân, “Thiên Hiểu Đắc” của Thượng Hải. Một cửa hàng thuốc cao nổi tiếng của Nam Kinh có tên cửa hàng là “Cao Niêm Trừ”. Những cửa hàng có tên kỳ lạ này đương nhiên cũng chỉ là nhằm mục đích kinh doanh mà thôi.

【#10】Tư Vấn Đặt Tên Biển Hiệu Theo Phong Thủy Giúp Mang Lại May Mắn

Phong thủy là một yếu tố vô cùng quan trọng khi kinh doanh đối với mọi doanh nghiệp. Việc đặt tên biển hiệu theo phong thủy sẽ giúp mang lại nhiều tài lộc và may mắn cho doanh nghiệp của bạn. Do đó yếu tố phong thủy cần được đảm bảo khi đặt tên cho công ty. Trong bài viết này chúng tôi xin chia sẻ một số lưu ý khi đặt tên biển hiệu theo phong thủy mà ai cũng nên biết.

Đặt tên biển hiệu theo phong thủy cần quan tâm những gì?

Có rất nhiều yếu tố khi đặt tên biển hiệu theo phong thủy, các doanh nghiệp cần phải đặc biệt lưu ý một số điều như:

Nét chữ

Lưu ý nếu tổng số nét của chữ trên bảng hiệu có trong các số sau sẽ giúp mang lại vận khí rất tốt: 3, 5, 6, 6, 8, 11, 13, 15, 16, 17, 18, 21, 23, 24, 25, 29, 31, 32, 35, 37, 38, 48, 52, 63, 65, 67, 68, 73, 75, 77, 78, 80, 81, 83, 84, 87, 88, 89, 90, 91, 92, 97, 98, 99, 100.

Chú ý đến cả ngủ hành

  • Mạng Kim nên bắt đầu với các chữ: C, Q, R, S, X, Z
  • Mạng Hỏa nên bắt đầu với các chữ: D, J, L, N, T
  • Mạng Thổ nên bắt đầu với các chữ: A, W, Y, E, O
  • Mạng Thủy nên bắt đầu với các chữ: B, F, M, H, P
  • Mạng Mộc nên bắt đầu với các chữ: G, K

Về kích thước và màu sắc của bảng hiệu

Một bảng hiệu hay bảng tên công ty chắc chắn phải tạo được sự hài hòa và cân đối. Khi đặt tên biển hiệu theo phong thủy nên chú ý đến kích thước, kích thước khi thiết kế nếu chiều dài là âm thì chiều rộng phải là dương. Số âm thì sẽ là các số lẻ, còn dương thì là số chẵn nên cần chú ý.

Về màu sắc chúng ta cũng nên cho bảng hiệu từ 3 màu hay 5 màu, theo phong thủy số 3 sẽ giúp doanh nghiệp mang đến sự phát triển và lớn mạnh. Số 5 thì đại diện cho sự đầy đủ sung túc. Nếu chỉ sử dụng từ 2 hoặc 4 màu thì không nên chút nào.