Top #10 ❤️ Ý Nghĩa Tên Chùa Ba Vàng Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Trend | Uplusgold.com

Chùa Ba Vàng (Uông Bí, Quảng Ninh)

Chùa Ba Vàng: Phật Quang Ngự Chốn Linh Sơn

Chùa Ba Vàng Và Những Kỷ Lục “nhất” Việt Nam Tính Đến 2022

Tên Nguyễn Hoàng Bảo An Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Tên Trịnh Hoàng Bảo An Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Gợi Ý Cách Đặt Tên Cho Con Họ Trần 2022 2022 Hay Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất

Chùa Ba Vàng có tên chữ là Bảo Quang Tự tọa lạc ở độ cao 340m trên núi Thành Đẳng, thuộc phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Chùa Ba Vàng là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất Việt Nam bởi địa thế vô cùng đẹp: phía trước nhìn ra sông Bạch Đằng, phía sau lưng tựa vào núi, hai bên là rừng thông bát ngát xanh, lại có mạch phong thủy bắt nguồn từ chùa Đồng Yên Tử với địa hình hạ đoạn tạo thành thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ rất hùng vĩ. Cảnh quan và kiến trúc của chùa cũng nguy nga, tráng lệ không kém: Rất nhiều tiểu cảnh được xây dựng trên đường bộ đi lên chùa và trong khuôn viên nhà chùa. Nhìn từ trên cao xuống, không gian cảnh trí ngôi chùa hiện ra trước mắt ta như một bức tranh thủy mặc tuyệt đẹp, một kiệt tác hiếm có của tạo hóa!

Chùa Ba Vàng được tổ chức Kỷ lục Việt Nam ghi nhận là ngôi chùa có tòa chính điện lớn nhất Đông Dương, chùa có chiếc trống độc mộc bằng gỗ đỏ nguyên khối lớn nhất Việt Nam và là ngôi chùa sở hữu bộ sách tâm linh gồm 10 pho đại sách xác lập 3 kỷ lục: Việt Nam, Châu Á và thế giới. Hiện chùa còn lưu giữ rất nhiều hiện vật có giá trị về mặt lịch sử và văn hoá nghệ thuật với những di vật được tìm thấy bằng đá, gốm, sứ có niên đại từ thế kỷ XIII, XIV (thời nhà Trần).

Lịch sử hình thành chùa

Cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác chùa Ba Vàng được khai sơn từ khi nào. Căn cứ vào những dấu tích di chỉ được các nhà khảo cổ khai quật được từ lòng đất tại nền chùa cũ có tìm thấy những viên ngói đất nung hình lòng máng màu phớt hồng với kích thước 30x15cm, mũi ngói giống mũi của chiếc hài. Những viên gạch đất nung lát nền có kích thước 40x40cm, toàn bộ viên gạch được trang trí bằng một bông hoa bốn cánh (loại hoa văn đời Trần). Tất cả các viên ngói, viên gạch, mảnh sành tìm thấy đều mang đậm nét văn hóa đời Trần. Chứng tỏ vào đời nhà Trần, nơi đây đã từng tồn tại một ngôi chùa nhưng không rõ lý lịch cụ thể về Sư tổ khai sơn và tên gọi cũ của ngôi chùa.

Cuộc nội chiến Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyễn phân tranh khiến nhân dân khủng hoảng niềm tin với nhà nước phong kiến, họ khao khát đón nhận trở lại ánh hào quang Phật giáo. Nhưng nhà cầm quyền phong kiến thời bấy giờ lại đề cao đạo Lão, đạo Khổng, ít chú ý đến đạo Phật. Chính lúc này, Đại Thiền sư Tuệ Bích đã xây dựng nên Bảo Quang Tự (1706) như thắp sáng niềm tin, nối lại dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử sau 300 năm gián đoạn (hiện nay trên cây hương đá trước cửa chùa vẫn còn ghi). Song do thời gian và các cuộc chiến tranh tàn phá liên miên, ngôi chùa xưa chỉ còn là phế tích, nằm ẩn sâu trong lòng núi, quanh ngôi chùa chỉ còn lại rừng cây bao phủ.

Năm 1987, một lão nông địa phương bị mất một đàn bò. Lão lang thang khắp vùng để tìm kiếm, trong lòng luôn cầu trời, niệm phật xin cứu giúp. Đêm đến, lão nông nằm mơ thấy một ông cụ râu tóc bạc phơ hiện ra và nói: “Con cứ lên núi Ba Vàng tìm khắc thấy đàn bò”. Dù bán tín bán nghi nhưng do tiếc của, ông lão quyết tâm theo đường mòn leo dốc đi lên núi. Khi đến độ cao hơn 300 mét thấy có mặt bằng trải rộng, ông lão ngồi nghỉ và phát hiện ra những bậc thềm xây tam cấp bằng gạch. Lão về loan báo để dân làng biết. Và cũng chính lúc này đàn bò bỗng trở về nhà không thiếu một con. Do sự ngẫu nhiên linh ứng nên dân làng nô nức kéo nhau lên núi và tìm thấy những hiện vật khác như: Cây hương đá (thiên đài trụ) được tạc bằng đá nguyên khối, trên đỉnh cây hương là hình bát sen. Cây hương hình chữ nhật với kích thước cao 1m45, rộng 0.29m, dày 0.25m. Bia đá được làm vào thời Lê Dụ Tông (1706) kích thước 0.70m, rộng 0.45m, dày 0.14m dựng trên đế rùa cao 0.40m, dày 0.94m, rộng 0.70m. Sau phát hiện của lão nông, các nhà nghiên cứu khoa học mới vào cuộc để tìm hiểu gốc tích của công trình này.

Từ khi được phát hiện vào năm 1987, ngôi chùa vẫn bình lặng chứng kiến những đổi thay của thời gian, không có vị trụ trì nào. Con đường dẫn lên núi ngày một rậm rạp, Chùa Ba Vàng khi ấy vẫn là một đống phế tích hoang tàn và lạnh lẽo.

Để phát huy giá trị văn hóa lịch sử, ngôi chùa liên tiếp được đầu tư tôn tạo. Ban đầu chùa được xây dựng bằng gỗ năm 1988 và đến năm 1993 chùa được trùng tu một lẫn nữa bằng xi măng sắt thép với diện tích 55m2. Chùa khi ấy có bố cục chữ Đinh, gồm ba gian tiền đường và một gian thượng điện, ngoài ra còn có nhà thờ Mẫu, miếu Sơn Thần, đặc biệt là giếng nước cổ có từ lâu đời.

Hiện vật có giá trị nhất của chùa Ba Vàng còn sót lại là một số di vật bằng đá, bao gồm 1 bia đá, 2 con rùa đá và 1 cây hương bằng đá. Theo dòng chảy thời gian, chữ Hán trên bia đá và cây hương đá đã mòn, rất khó đọc. Tuy nhiên, qua cách trình bày, có thể thấy đây là văn bia ghi tên tuổi của một nhà sư từng trụ trì nơi đây và xá lị của ông đã được đặt trong một tháp mộ nào đó của chùa. Riêng cây hương bằng đá, phần lớn chữ ở mặt bia đã bị phai mờ, chỉ còn lại một số chữ lớn giáp đầu bia ghi các chữ: Thành Đẳng sơn, Bảo Quang tự, Thiên đài trụ. Nghĩa là trụ đài đá chùa Bảo Quang, núi Thành Đẳng.

Đến năm 2007, Đại đức Thích Trúc Thái Minh (đệ tử của Hòa thượng Thích Thanh Từ, khi đó đang là trưởng ban Tri khách Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử) đã được chính quyền và nhân dân địa phương tha thiết thỉnh cầu về làm trụ trì chùa Ba Vàng.

Đứng trước ngôi chùa hoang tàn, xuống cấp, Đại đức Thích Trúc Thái Minh bỗng thấy trong lòng dâng lên một cảm giác rất lạ kỳ, bất chợt thấy giếng nước trong khuôn viên chùa trước đây luôn khô cạn bỗng đầy ắp nước trở lại. Cho là điềm báo, Đại Đức quyết tâm gây dựng lại ngôi chùa từ hai bàn tay trắng. Đại Đức đã cùng các đệ tử kêu gọi du khách thập phương đóng góp công sức tiến hành mở đường và trùng tu lại ngôi chùa.

Tháng 1 năm 2011, để đáp ứng nhu cầu tu học của đông đảo Tăng Ni, Phật tử và hoằng dương Phật Pháp, ngôi chùa một lần nữa được khởi công xây dựng lần thứ 4 với quy mô to lớn khang trang. Theo quy hoạch, chùa được xây dựng trên diện tích gần 22ha, trong đó đất xây dựng công trình là gần 1.2ha, đất cây xanh cảnh quan là hơn 16ha, đất hạ tầng kỹ thuật là khoảng 3,4ha. Dự án có tổng mức đầu tư khoảng 280 tỷ đồng. Nguồn vốn hoàn toàn được huy động từ công tác xã hội hóa bằng sự đóng góp công đức của Tăng Ni, Phật tử, doanh nghiệp, các nhà hảo tâm khắp nơi.

Sau hơn 3 năm xây dựng, ngày 9/3/2014 chùa Ba Vàng tổ chức Đại Lễ Khánh Thành và nhận bằng kỷ lục “Ngôi chùa trên núi có Chính Điện lớn nhất Đông Dương”, thời điểm này chùa đã hoàn thiện một số hạng mục như: Ngôi Đại Hùng Bảo Điện (4500m2), Lầu Chuông (112 m2), Lầu Trống (112 m2), Hành Lang La Hán (200m2), Nhà Bảo Tàng (700 m2), Thư Viện (700 m2), Khu Nhà Tăng (1600 m2), Thiền Đường (960 m2), Cổng Đá, Cổng Tam Quan Trung, Cổng Tam Quan Nội, và một số công trình phụ… Tổng kinh phí xây dựng toàn bộ các hạng mục công trình kiến thiết, xây dựng chùa Ba Vàng tính đến thời điểm này là gần 500 tỷ đồng.

Cảnh quan và kiến trúc chùa Ba Vàng

Chùa Ba Vàng nằm ở phía tây thành phố Uông Bí, lưng tựa vào núi Thành Đẳng vững chắc, phía trước là Bạch Đằng giang uốn lượn, xa xa là thành phố cảng Hải Phòng, hút tầm mắt là biển Đồ Sơn với muôn trùng sóng vỗ. Bên trái là những dãy núi Thanh Long trùng điệp chầu về, bên phải là những dãy núi Bạch Hổ hùng vĩ phục xuống. Xung quanh được bao phủ bởi rừng cây bát ngát xanh. Đúng là một địa thế hiếm có: “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, tiền Chu Tước, hậu Huyền Vũ”.

Đường lên chính điện chùa Ba Vàng có 3 cổng tam quan: một cổng chào trên đường mòn dải nhựa đi lên chùa, một cổng tam quan trung trước bãi đỗ xe ở lưng chừng núi và một cổng tam quan nội dẫn đến chính điện.

Tận dụng mạch nước nguồn trong vắt trong khe đá tự nhiên từ trên núi, nhà chùa đã khéo léo thiết kế thành những thác nước nhân tạo sơn thủy hữu tình hòa cùng cảnh sắc thiên nhiên của cõi thiền. Từ chân núi Thành Đẳng qua cổng tam quan trung theo con đường bê tông dốc dài khoảng hơn 200m, leo lên hơn 200 bậc đá ong uốn lượn quanh co cùng với hệ thống hòn non bộ như nâng bước chân du khách trong hành trình tham quan lễ Phật.

Tam quan nội được thiết kế theo kiểu đình chùa Bắc Bộ, gồm 3 cửa hình vòm (cửa ở giữa lớn nhất). Mặt trước Tam quan nội có khắc nổi câu đối bằng chữ Hán, phía trên 3 cửa là 3 lầu chuông lợp ngói, các góc mái gắn tượng linh vật Long, Ly, Quy, Phượng. Tam quan nội nhìn ra hồ nước hình bán nguyệt có bố trí ghế đá, tiểu cảnh, cây xanh. Giữa hồ là biểu tượng chùa Một Cột (một trong những công trình tiêu biểu của kinh thành Thăng Long thế kỷ XI) được lấy theo nguyên mẫu của ngôi chùa chính tại Hà Nội. Dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, ngôi chùa như một đóa sen nổi trên mặt nước, các nét cong mềm mại của mái, các nét khỏe khoắn của cột và nét gấp khúc của các con sơn chủ chống xung quanh tạo nên sự hài hòa với những khoảng sáng tối ẩn hiện lung linh trong không gian tĩnh tại, thâm nghiêm.

Bước Tam quan nội theo hành lang có chiều dài hơn 130m và chiều cao sàn nâng dần theo độ dốc của sườn núi, dọc theo hành lang hai bên sân chùa là lầu trống, gác chuông được thiết kế hai tầng với 8 mái liên hoàn, tạo thuận lợi cho các nhà sư hành đạo và các Phật tử về chiêm bái.

Hai gian la hán đường với 18 tượng La Hán được tạc bằng đá nguyên khối, mỗi 1 vị la hán là hiện thân của các hỉ nộ ái ố của con người được các thợ chạm khắc vô cùng sống động. Cùng với đó là hệ thống những hoành phi câu đối được sơn son thiếp vàng, những bức tranh bằng đá trạm khắc hoa văn tinh xảo mang đậm dấu ấn văn hóa đời Trần góp phần cho ngôi chùa thêm hoành tráng, rực rỡ.

Song quy mô và hoành tráng nhất phải kể đến tòa Đại Hùng Bảo Điện hay còn gọi là chùa chính (chính điện) có kiến trúc 2 tầng, quy mô rộng hơn 4000m2. Đây là ngôi chính điện đã được Tổ chức kỷ lục Đông Dương công nhận là “Ngôi chính điện trên núi lớn nhất Đông Dương”. Nét nổi bật của tòa chính điện là toàn bộ kiến trúc cột, kèo, vỉa, mái, xà đều được làm bằng bê tông cốt thép nhưng được sơn vân gỗ nên nhìn bằng mắt thường thì ngôi chùa vẫn mang dáng dấp thuần Việt. Các đầu mái đao được đắp nổi các con vật thuộc hàng tứ linh (Long Ly Quy Phượng). Trên bức tường giáp mái là những bức tranh khổ lớn mô phỏng cuộc đời của Phật Thích Ca Mâu Ni từ khi mới sinh, xuất gia, đắc đạo, truyền giáo cho đến khi nhập niết bàn.

Chùa Ba Vàng có nơi thờ Tam bảo và trống độc mộc được công nhận là lớn nhất Việt Nam. Cùng với đó là hệ thống tượng pháp trong chùa đều được làm bằng gỗ có kích thước to lớn như tượng Tam thế, Quan âm, ông Thiện, ông Ác… đều cao từ trên 2m trở lên. Trong đó, pho tượng A Di Đà là một trong những tượng Phật bằng gỗ vào loại lớn nhất miền Bắc.

Xung quanh Đại Hùng Bảo Điện bố trí các công trình như nhà Tổ, khu giảng đạo, trai phòng, thư viện, lầu chuông, lầu trống, hành lang tượng La Hán, nhà bảo tàng, không gian tiểu cảnh non bộ,… tạo nên một quần thể kiến trúc hài hòa, thuận lợi cho việc chiêm bái, thăm quan của các tăng ni, Phật tử và du khách thập phương.

Thầy trụ trì đã chọn xây dựng nội viện tăng ở phía đông chính điện (hướng đông có “thanh long” tọa địa. Thanh long (rồng chầu) với thế động, mạnh mẽ, dương tính, phù hợp với bản chất của chư tăng) với diện tích gần 15.500 m2. Ở hướng Tây thầy cho xây dựng Nội viện ni (bạch hổ), có dãy núi Vành Cóc, tượng trưng cho sự trầm tĩnh, kiên định, âm tính; đó là bản chất của chư ni với diện tích khoảng 10.200 m2 và nhà nội trú đáp ứng cho khoảng 1.000 phật tử về tham dự các khóa tu.

Trong chùa còn có một giếng cổ nước không bao giờ cạn. Tương truyền, ai mà uống được nước lấy từ giếng sẽ khỏe mạnh và khỏi bách bệnh. Bởi vậy, nhiều Phật tử, du khách thập phương tới đây đều muốn được uống nước lấy từ giếng lên.

Chùa Ba Vàng là sơn môn thuộc Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: Không chỉ hướng dẫn Phật tử tu thiền mà còn hướng dẫn Phật tử tu học cả Pháp môn tịnh độ với tông chỉ: Mọi người tu tập đều phát tâm bồ đề, tích tập các công đức và phát nguyện vãng sanh trong đời này.

Hiện nay các Phật tử chúng ta thường hay phân chia tông phái: người tu Thiền, người tu Tịnh, người tu Mật (các công phái lớn ở Việt Nam) và có những sự không hiểu, không thông cảm nhau, thậm chí tông phái nọ đả kích tông phái kia nhưng quan điểm của trụ trì chùa Ba Vàng là không phân biệt vì tu Thiền, tu Tịnh hay tu Mật thì đều là tu Phật, học Phật, đều là tu tâm cả nên chủ trương của nhà chùa là Thiền tịnh song tu.

Chùa Ba Vàng không chỉ là điểm đến hành hương của hàng triệu tăng ni, phật tử, du khách trong và ngoài nước mỗi năm, nơi đây hứa hẹn sẽ trở thành trung tâm văn hóa du lịch tâm linh vào bậc nhất trên cả nước bởi sự hội tụ đầy đủ các yếu tố của một khu du lịch sinh thái. Chắc chắn du khách đến chiêm bái, vãng cảnh chùa Ba Vàng sẽ được đắm chìm trong khung cảnh nên thơ, hữu tình mà vẫn có được cảm giác an lạc trong không khí linh thiêng của chốn thiền môn thanh tịnh.

Chùa Ba Vàng Ở Đâu? Lịch Sử, Sự Tích, Văn Khấn, Đặc Sản Và Đường Đi Tới Chùa

Có Bao Nhiêu Thánh Têrêsa ?

Thánh Têrêsa: Bông Hoa Nhỏ Vĩ Đại

Tài Liệu Về Thân Phận Cung Nữ Trong Tử Cấm Thành Ở Huế

Vì Sao Cố Cung Còn Có Tên ‘tử Cấm Thành’?

Chùa Ba Vàng: Phật Quang Ngự Chốn Linh Sơn

Chùa Ba Vàng Và Những Kỷ Lục “nhất” Việt Nam Tính Đến 2022

Tên Nguyễn Hoàng Bảo An Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Tên Trịnh Hoàng Bảo An Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Gợi Ý Cách Đặt Tên Cho Con Họ Trần 2022 2022 Hay Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất

Tên Lại Trần Gia Bảo Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Ngôi chùa từng “ẩn mình” suốt 300 năm

Núi Thành Đẳng bắt nguồn từ dãy núi Yên Tử, thế núi chạy theo hướng Bắc – Nam nhưng khi về đến Uông Bí chuyển hướng Đông – Tây và hạ thành tam cấp: Đỉnh 550m, hạ đoạn 340m và 200m (so với mặt nước biển). Ngôi chùa được xây dựng tại hạ đoạn cấp 3 (200m).

Cắt nghĩa tiếng Hán của những địa danh nơi đây, Đại đức Thích Trúc Thái Minh – trụ trì chùa – giảng giải: Núi có tên là Thành Đẳng Sơn, “Thành” có nghĩa là thành tựu, thành đạt; “Đẳng” hàm ý là vô thượng Chính đẳng Chính giác. Còn “Bảo Quang” có nghĩa là ánh sáng quý. Ý tứ sâu xa của tiền nhân chính là xưng tụng công trình quý giá này như ánh sáng Chính pháp, dẫn dắt con người đến với Chính đẳng Chính giác.

Theo tài liệu xưa để lại, vào thời Trần (thế kỷ thứ 13), vua Trần Nhân Tông rời bỏ cung vàng điện ngọc về non xanh Yên Tử tu hành, sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Chùa Ba Vàng là sơn môn thuộc Trúc Lâm Yên Tử. Từ thế kỷ thứ 13 đến thế kỷ 21, qua 800 năm, chùa Ba Vàng đã qua 1 lần khai sơn lập tự và 4 lần trùng tu.

Thông tin này cũng được củng cố thêm qua kết quả từ cuộc khai quật khảo cổ lòng đất tại nền chùa, với hiện vật là những viên ngói đất nung, gạch trang trí nền và một số mảnh sành… Ngói đất nung có hình lòng máng, màu phớt hồng, kích thước 30x15cm, mũi ngói giống mũi hài.Còn gạch đất nung lát nền có kích thước 40x40cm, trang trí hoa văn bông hoa bốn cánh (một loại hoa văn đời Trần). Tất cả các hiện vật tìm được đều mang hoa văn tiêu biểu của mỹ thuật và biểu tượng văn hóa đời Trần. Chứng tỏ vào đời Trần, nơi đây đã từng tồn tại một ngôi chùa, dù chưa chỉ rõ lý lịch cụ thể về Sư tổ và ngôi chùa.

Trải qua các biến thiên lịch sử, giặc giã binh đao, giai đoạn thế kỷ 16 – 17, ngôi chùa gần như không có người lui tới, ẩn mình trên núi.

Mãi cho tới năm 1987, một lão nông địa phương đã phát hiện ra những phế tích còn lại của ngôi chùa. Các nhà nghiên cứu, khảo cổ đã vào cuộc và thu thập được những hiện vật lịch sử có giá trị, trong đó có cây hương đá (thiên đài trụ) được tạc bằng đá nguyên khối. Cây hương hình chữ nhật với kích thước cao 1,45; rộng 0,29m, dày 0,25m. Trên đỉnh cây hương là hình bát sen; Bia đáđược làm vào thời Lê Dụ Tông (1706); kích thước 0,7m; rộng 0,45m và dày 0,14m. Bia dựng trên đế rùa cao 0,4m; dày 0,94m; rộng 0,7m. Đây là lần trùng tu thứ hai.

Dựa trên các cứ liệu lịch sử và kết quả khai quật, sau khi xác định đây là ngôi chùa mang dấu ấn lịch sử đời Trần, Thị ủy, UBND, HĐND thị xã Uông Bí thể theo nguyện vọng của nhân dân và Phật tử đã cho phép trùng tu lại bằng gỗ (lần trùng tu thứ 3 – năm 1988). Sau 5 năm (1993), ngôi chùa bị xuống cấp nặng nề. Ban tôn tạo đã trùng tu lại bằng gạch ngói, xi măng. Đây là lần trùng tu thứ 3.

Lúc này, chùa có diện tích 55m2 gồm ba gian tiền đường, cửa vòm, một gian tự điện; hai bên cửa giữa đắp nổi câu đối bằng chữ Hán:

Thành Đẳng Sơn thắng cảnh vạn đại lưu danh

Bảo Quang Tự thiền môn thiên thu hương hỏa

Chính giữa tiền đường treo bảo cái bằng vải. Bên trái tiền đường (ngoại hiên) treo một quả chuông nặng 20kg. Ban thờ chính hướng Nam ghé Tây gồm 4 cấp: cấp cao nhất 2m20, cấp thấp nhất 1m: Cấp 1 thờ Tam Thế Phật; Cấp 2 thờ Di Đà Tam Tôn; Cấp 3 thờ Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu; Cấp 4 thờ tòa Cửu long.

Nhà Mẫu kề cạnh Thượng Điện theo hướng Nam, diện tích 8.32m2 (nhà cấp 4); Miếu Sơn Thần 11m65; Giếng Thần sâu 2.50m, đường kính 1.78m, mức nước 1m.

Các công trình khác: nhà ở, trai đường lợp bằng ngói xi măng, xung quanh bao bằng cót ép rộng khoảng 20m2. Tổng diện tích công trình: 94.97m2.

Công đức lòng dân, thiên thu hương tỏa

Khi đó, do chưa có sư Trụ trì nên các công trình hạ tầng của Bảo Quang Tự chỉ ở mức độ như vậy, đường lên chùa là lối mòn rậm rạp, điện thắp sáng và nước sinh hoạt đều không có. Tất cả các công trình nhà cấp bốn qua 14 năm đã bị dột nát và hư hỏng.

Đại lễ khánh thành đã đón tiếp hơn 60.000 tăng ni, phật tử và du khách thập phương về dự. Tại lễ khánh thành, chùa Ba Vàng đã chính thức nhận danh hiệu “Ngôi chùa trên núi có chính điện lớn nhất” với diện tích hơn 3.500m2, do Tổ chức Kỷ lục Việt Nam trao tặng.

Tham dự lễ khánh thành có ông Nguyễn Thiện Nhân – Ủy viên Bộ Chính Trị, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam.

Là ngôi chùa đã được xếp hạng di tích lịch sử của tỉnh Quảng Ninh, là truyền thừa của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, lại có diện tích đất 123.81ha, là khu sinh thái sơn thủy hữu tình có “rồng chầu, hổ phục”, chẳng lẽ lại để Bảo Quang Tự trở thành phế tích? Đó là trăn trở của cả chính quyền và người dân địa phương.

Tới năm 2007, Đại đức Thích Trúc Thái Minh – nguyên là trưởng ban Tri khách Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử đã về trụ trì chùa Ba Vàng. Với quyết tâm phục dựng chốn tổ, hoằng dương Phật pháp, Đại đức cùng các đệ tử, du khách thập phương đóng góp công sức tiến hành trùng tu ngôi chùa lần thứ tư với quy mô hiện đại và được ghi nhận là ngôi chùa trên núi có chính điện lớn nhất Việt Nam. Ngày 9/3/2014, chùa Ba Vàng chính thức làm lễ khánh thành.

Với những giá trị về lịch sử, tâm linh, chùa Ba Vàng đang trở thành một điểm đến hấp dẫn của du lịch tâm linh tại Việt Nam và là địa chỉ hành hương tin cậy của đông đảo tăng ni, phật tử khắp mọi miền tổ quốc.

Bảo Quang tự nằm trên lưng chừng của núi Thành Đẳng, còn gọi là núi Ba Vàng, là khởi nguồn của dòng nước chảy tạo nên Lựng Xanh – một điểm du lịch hấp dẫn của Uông Bí. Khu vực chùa Ba Vàng toạ lạc trên một khu đất bằng phẳng, theo thế phong thuỷ tuyệt đẹp “toạ sơn, đạp thuỷ” – tựa lưng vào núi, trông ra phía trước xa xa là sông Đá Bạc; hai bên phải, trái là các dãy núi nhỏ xanh mướt rừng thông chạy lúp xúp ra biển theo thế “tả thanh long, hữu bạch hổ”. Địa thế ấy tạo cho Ba Vàng một khung cảnh hữu tình, nên thơ mà vẫn toát lên sự linh thiêng, tụ khí của chốn thiền nhà Phật.

Hà Đoàn

Chùa Ba Vàng (Uông Bí, Quảng Ninh)

Chùa Ba Vàng Ở Đâu? Lịch Sử, Sự Tích, Văn Khấn, Đặc Sản Và Đường Đi Tới Chùa

Có Bao Nhiêu Thánh Têrêsa ?

Thánh Têrêsa: Bông Hoa Nhỏ Vĩ Đại

Tài Liệu Về Thân Phận Cung Nữ Trong Tử Cấm Thành Ở Huế

Chùa Hoa Yên (Chùa Yên Tử Hay Chùa Vân Yên)

Ý Nghĩa Của Tên Bảo & Cách Đặt Tên Bảo Cho Con Đẹp Và Hay Nhất

Tên Nguyễn Bảo Long Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Ngược Dòng Lịch Sử Khám Phá Địa Đạo Củ Chi

Tên Phạm Hà Chi Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Tên Lê Hà Chi Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Chùa Hoa Yên có tên cũ là chùa Vân Yên, dân gian thường gọi là chùa Cả, chùa Chính hay chùa Yên Tử. Chùa Hoa Yên là ngôi chùa lớn, to và đẹp nhất trong khu di tích danh thắng Yên Tử. Đây là nơi chứng kiến đức vua Trần Nhân Tông sau khi dứt bỏ hồng trần đã hướng tâm về nơi Phật pháp và lập ra Thiền phái riêng mà ngày nay mọi người vẫn gọi là Thiền phái Trúc Lâm.

Chùa Hoa Yên tọa lạc trên núi Yên Tử ở độ cao 516m do Thiền sư Hiện Quang khai sơn. Ngài là đệ tử nối pháp của Thiền sư Thường Chiếu. Kế tiếp Thiền sư Hiện Quang là Quốc sư Trúc Lâm, Quốc sư Đại Đăng, Thiền sư Tiêu Diêu, Thiền sư Huệ Tuệ, Đại Đầu Đà Trúc Lâm tức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.

Lịch sử chùa Yên Tử (chùa Hoa Yên)

Tuy rằng Đại Đầu Đà Trúc Lâm thuộc thế hệ thứ 6 ờ Yên Tử, nhưng do Ngài đã thống nhất các Thiền phái đã có thành một Thiền phái Trúc Lâm nên người đời gọi Ngài là Trúc Lâm đệ nhất Tổ.

Thuở ban đầu, chùa Hoa Yên chỉ là một Am thất nhỏ có tên là Vân Yên (tức mây khói) với hàm ý: chùa tận trên núi cao quanh năm mây phủ, mây lững lờ trôi, trắng nhẹ như mây khói trên núi. Trước khi thượng hoàng Trần Nhân Tông lên Yên Tử tu hành, chùa được các nhà sư thời Lý xây dựng, mái chùa lợp bằng lá cây rừng. Sau khi lên tu hành, vua Trần Nhân Tông đã thường xuyên mở các lớp truyền yếu kỷ thiền tông cho các đệ tử Pháp Loa, Huyền Quang, Bảo Sái, Pháp Không và các đệ tử khác ở đây.

Đến năm 1317, Pháp Loa được truyền y bát và trở thành Đệ nhị Tam Tổ, chùa Hoa Yên mới được xây dựng nguy nga, tạo thành một quần thể kiến trúc rộng lớn. Các công trình hạng mục của chùa trước ngoài tiền đường, thượng điện để thờ Phật, chùa còn có lầu trống, lầu chuông, nhà nghỉ khách, nhà giảng đạo, nhà dưỡng tăng…

Khi vua Lê Thánh Tông (1442-1497) về đây vãng cảnh chùa, thấy cảnh sắc tốt tươi, muôn hoa đua nở, nhà Vua đã đổi tên chùa Vân Yên thành chùa Hoa Yên.

Đến thời Nguyễn, chùa bị hoả hoạn chỉ còn lại phế tích, di vật là những tảng đá kê chân cột có kích thước lớn cho thấy kiến trúc chùa xưa rất rộng rãi.

Cuối năm 2002, Hoa Yên đã được xây dựng lại trên nền chùa thời Trần, có Tiền Đường, Hậu Cung, có Tả vu Lầu Chuông, Hữu vu Lầu Trống, phía sau Hậu Cung là nhà thờ Tổ, tạo nên không gian kiến trúc kiểu “Nội công, ngoại quốc”. Nhà dưỡng Tăng, Ni ở hai bên chùa. Toàn bộ hoành phi, cửa võng, tượng pháp trong chùa đều do Thượng tọa chùa Phúc Lâm Thích Quảng Tùng thâu lượm công đức của thập phương tiến cúng. Trước tòa Tam bảo là Lầu hương bằng đồng do các ông Lê Văn Kiểm, Hoàng Quang Thuận, Sở du lịch tỉnh Quảng Ninh và Công ty than Nam Mẫu tỉnh Quảng Ninh tiến cúng.

Chùa Hoa Yên là nơi tu hành, thành đạo, truyền thừa của các thế hệ Tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử:

– Thời Lý có Thiền sư Hiện Quang khai sơn chùa Vân Yên từ trước năm 1220.

– Thời Trần có Quốc sư Đạo Viên, Quốc sư Đại Đăng, Thiền sư Tiêu Diêu, Thiền sư Huệ Tuệ. Tại chùa Hoa Yên, Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông cùng Pháp Loa, Huyền Quang kế thừa và phát triển dòng Thiền Yên Tử lập nên Thiền Phái Trúc Lâm với tinh thần nhập thế và hộ quốc an dân.

– Thời Lê có Thiền sư Chân Trú, Tuệ Chân, đặc biệt là Thiền sư Chân Nguyên – người có công chấn hưng Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử…

Cảnh quan & Kiến trúc chùa Hoa Yên

Hình dáng kiến trúc chùa mang đậm nét văn hoá kiến trúc chùa thời Lý, Trần. Chùa có kết cấu hình chữ “Công”, được làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài kép, riềm bò nóc trang trí hình hoa thị, có hai con Rồng miệng há to ngậm hai đầu bờ nóc bờm giống sóng nước vân mây uốn cong lên mềm mại, dưới đầu Rồng là đôi Uyên ương. Vì ruồi trang trí hình hổ phù cách điệu. Hệ thống cánh cửa bức bàn để mộc trơn không trang trí.

Nền chùa cao hơn sân và được kết cấu bậc tam cấp bằng đá, hai bên lan can đặt hai con Rồng đá mang phong cách kiến trúc thời Trần, tạo nên sự tôn nghiêm của ngôi chùa. Không gian kiến trúc hài hoà với cảnh sắc thiên nhiên tươi tốt. Phía trước chùa là ba cây Đại cổ kính trên 700 năm tuổi, thân cây gồ ghề, rêu phong, cành lá xum xuê, trông tựa như hàng nghìn bàn tay dâng những bông hoa trắng ngà thơm ngát, cúng Chư Phật mười phương và Phật Tổ Trúc Lâm.

Ở bên phải, bên trái sân chùa là hai cây Sung cổ có những chùm quả xanh, đỏ đan xen chi chít thân cành. Theo dân gian truyền lại, quả Sung, quả Vả trong rừng là món ăn chay của các Thiền sư tu hành ở Yên Tử.

Tượng thờ trong chùa được bài trí theo chùa Việt và Phật giáo Đại thừa. Tiền Đường: bên trái là Đức Chúa Ông, Hộ pháp Khuyến Thiện, bên phải là Thánh Tăng, Hộ pháp Trừng Ác, Quan Âm Nam Hải. Chính Điện có tam cấp thờ: cấp trên cùng là bộ tượng Tam Thế Phật gồm: Phật quá khứ; Phật hiện tại; Phật vị lai. cấp thứ hai là bộ tượng Đức Phật Thích Ca thành đạo còn được gọi là Phật Thế Tôn hoặc Phật Niêm Hoa vì tay phải cầm bông hoa Sen giơ lên thay việc thuyết pháp bằng lời, hai bên là hai đệ tử Ma Ha Ca Diếp dáng già nua và A Nan Đà dáng trẻ. Cấp thứ ba là Toà Cửu Long. Góc bên trái hậu cung là tượng Địa Tạng Bồ Tát, góc bên phải là tượng Quan Âm Chuẩn Đề.

Nhà thờ Tổ gồm 7 gian, bài trí tượng thờ 5 gian, 2 gian để đồ thờ và tế khí. Chính giữa thờ Tam Tổ Trúc Lâm và Tượng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn và tượng Bảo Sái đệ tử của Ngài. Tiếp theo, bên trái thờ Tam Vương: Ngọc Hoàng ở giữa, Nam Tào, Bắc Đẩu ở hai bên, Ban thờ Đức Thánh Trần và hai Thị giả. Bên phải, ban thờ Tam Toà Thánh Mẫu gồm: Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải và các Thị giả, tiếp bên phải là ban thờ Chúa Thượng Ngàn và hai Thị giả.

Hiện nay, chùa Hoa Yên có 39 pho tượng trong đó có một pho tượng Quan Âm Nam Hải có niên đại vào cuối thế kỷ XIX, còn lại đều là những pho tượng mới được đưa vào thờ năm 2002 khi khánh thành chùa. Có một số hiện vật tiêu biểu có niên đại thời Trần, Lê như Bia đá Hậu Phật dựng vào thời Lê niên hiệu Bảo Thái năm thứ (1723) và hai con Sấu đá thời Trần đặt trước Bia hậu Phật tại sân trước bên trái chùa Hoa Yên. Bia do các quan viên đứng đầu coi giữ các xã Nam Mẫu, Trung Lương, Nội Hoàng dựng lên để khắc ghi công đức của bà Vũ Thị Phương đã xuất tiền của cứu trợ dân nghèo vùng Nam Mẫu, Trung Lương, Nội Hoàng. Nhân dân tôn bà làm Hậu Phật ở ngôi Nhân thần để đời đời không quên đèn nhang thờ cúng. Thân Bia hình chữ nhật, phía trên hình bán nguyệt, mặt trước của Bia chạm khắc ba vị Thiền sư toạ trên đài sen, đó chính là Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông ở trên, Đệ Nhị Tổ Pháp Loa và Đệ Tam Tổ Huyền Quang ở hai bên dưới. Mặt sau của Bia, ở trên khắc trang trí đôi Rồng chầu Nguyệt. Phần diềm Bia trang trí hoa văn lá dây mềm mại. Phía trước sân chùa có Bia đá hình trụ vuông có tên là: “Hoa Yên Tự Bi” có niên đại vào thời Lê.

Phía sau chùa Hoa Yên là chùa Phổ Đà Quan Âm Bồ Tát, nay chỉ là phế tích (chưa khảo cổ để lập hồ sơ di tích). Cạnh chùa có 6 ngọn tháp còn khá nguyên vẹn. Ở phía trên chùa không xa, dưới tán của 4 cây tùng cổ là tháp độ nhân Mỹ Lệ. Tháp được xây bằng gạch tráng men xanh, kiến trúc nguyên gốc đời Trần.

Xét về mặt tâm linh, chùa Hoa Yên là nơi giao hội của trục linh (trục tung) và trục tú (trục hoành), hai bên tả hữu vươn ra như hai tay ngai (tả long thanh, hữu bạch hổ) theo luật phong thủy, đây là vị trí đất quý hiếm.

Chùa Hoa Yên cộng với toàn bộ hệ thống chùa Yên Tử nằm hài hòa giữa thiên nhiên hùng vĩ là một dẫn chứng rõ nét về sự dung hợp hai quan niệm đạo và đời của dân tộc ta. Với những giá trị đặc biệt của mình, chùa Hoa Yên là một bộ phận không thể thiếu của quần thể kiến trúc văn hóa tâm linh Yên Tử mà mỗi du khách đều muốn viếng thăm khi hành hương về đất Phật.

Cây Hoa Mai Vàng Trên Đất Yên Tử

Ý Nghĩa Lễ Hội Yên Tử

Sự Tích Chùa Yên Tử

Tên Đỗ Vân Anh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Tên Lê Vân Anh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

Hoa Hồng Vàng – Ý Nghĩa Hoa Hồng Vàng, Các Loại Hoa Hồng Vàng Đẹp Nhất

Truyền Thuyết Hoa Hồng Xanh Là “Nữ Hoàng” Của Các Loài Hoa Tượng Trưng Cho Tình Yêu

Nguồn Gốc Đặc Biệt Và Ý Nghĩa

Hoa Hồng Xanh – Loài Hoa Đặc Biệt Với Những Ý Nghĩa Đặc Biệt

Màu Hoa Đặc Biệt Từ Biến Đổi Gen!!

Ý Nghĩa Hoa Hồng Xanh Lá (Lục)

So với những sắc hồng khác, hoa hồng vàng có lịch sử ngắn hơn nhưng sự ra đời muộn của nó cũng khiến màu hoa này hấp dẫn hơn hẳn. Con người phát hiện ra hoa hồng vàng vào thế kỷ 18 tại một số vùng Trung Đông. Ban đầu nó chỉ có màu vàng nhạt, bông đơn, mùi khó chịu và được trồng ở các vùng bản địa. Nhưng sau khi được trồng ở nhiều khí hậu, môi trường khác nhau chúng cho ra những màu sắc, kiểu dáng, kích cỡ khác nhau. Và đến nay đã có vô số các giống hồng vàng đa dạng được trồng trên khắp thế giới.

Ý nghĩa hoa hồng vàng

Từ thời đại Victory do Nữ hoàng Victory trị vì, hoa hồng vàng là biểu tượng của sự ghen tuông và phản bội trong tình yêu, nó thường dùng để làm hoa trang trí trong các buổi tiệc hoặc các lễ kỷ niệm. Tuy nhiên, càng về sau, ý nghĩa này dần dần bị mất đi, thay vào đó, nó trở thành biểu tượng của một tình bạn chân thành và cũng thể hiện một tình yêu ấm áp, ngọt ngào.

Thông điệp của hoa hồng vàng

Sắc vàng của loài hoa hồng vàng tựa như màu của ánh mặt trời ấm áp, màu rực rỡ, tươi tắn của niềm vui nên loài hoa này cũng là nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo. Cũng vì thế, hoa hồng vàng như một món quà tuyệt vời nhất dành tặng bạn bè, người thân như biểu đạt ý muốn chia sẻ niềm vui, thành công và khoảnh khắc hạnh phúc trong cuộc sống. Gửi đi những bông hồng vàng chính là bạn đang gửi đi một lời chúc cùng niềm vui, niềm tự hào,… cho người nhận.

Đặc biệt hơn, hoa hồng vàng còn mang một ý nghĩa khác đó là cầu nối cho một mối quan hệ đang gặp trục trặc, mâu thuẫn hay rạn nứt. Nói cách khác, nó như một lời xin lỗi, một thông điệp rằng hãy tha thứ cho nhau và sẵn sàng bắt đầu lại một mối quan hệ. Giống như ánh dương rực rỡ chào ngày mới, loài hoa này cũng mang vẻ đẹp của mùa xuân, ngụ ý về một sự bắt đầu sáng lạn và tươi mới. Chẳng thế mà loài hoa này thường được người ta tặng nhau mỗi dịp sinh nhật, lễ khai trương, sự kiện,…

Sự tích về hoa hồng vàng có thể bạn không biết

Người ta thường mặc định hoa hồng gắn liền với tình yêu, nhưng hoa hồng vàng lại ẩn chứa đằng sau một câu chuyện về tình yêu bi thương đến đau lòng. Chuyện kể về vị thần tình yêu Eros ban phát tình yêu cho nhân gian, bị chính mũi tên tình yêu của mình đâm phải và đem lòng mê đắm nàng công chúa Elisa xinh đẹp – con gái của thần Zeus.

Rồi một ngày, khi bị rút mũi tên tình yêu ra khỏi lồng ngực, chàng Eros không còn nhớ tới người vợ trẻ nữa mà mải miết ra đi tìm tình yêu mới. Nàng Elisa chờ đợi, đau buồn rồi lụi tàn theo năm tháng, hóa thành hoa hồng có những gai sắc nhọn để bảo vệ bản thân, có màu vàng rực rỡ khiến kẻ phản bội nhìn thấy phải day dứt ân hận.

Để rồi cho đến ngày nay, hoa hồng vàng mang một ý nghĩa thật riêng, đó là biểu trưng của sự phản bội trong tình yêu. Do vậy, nhiều người bối rối khi chọn hoa hồng vàng vì nó mang quá nhiều ý nghĩa khác nhau.

Các giống hoa hồng vàng đẹp và dễ chăm sóc nhất

 Hoa hồng vàng leo Golden Celebration

Ngắm nhìn từng cánh hoa xếp lên nhau, thật dễ dàng hiểu tại sao giống hoa hồng leo Golden Celebration lại lọt Top những giống hoa hồng leo ngoại nhập xinh đẹp nhất của người yêu hoa,

Giống hoa màu vàng đặc trưng này được lại tạo từ năm 1992 với hai màu sắc nổi bật là vàng tươi và vàng đậm. Giống này có đặc tính kháng bệnh khá tốt, là giống hoa leo thành bụi cao nên rất dễ chăm sóc, thích nghi với nhiều kiểu khí hậu và sinh trưởng khá nhanh.

Ngoài ra, chúng đặc biệt hơn nhờ cấu trúc cánh hoa với kiểu cánh mọc kép, có từ 41-55 cánh xếp tầng tầng, lớp lớp trên một bông hoa, cỡ bông lớn từ 6-10cm với mùi hương hoa quả đậm, mang lại cảm giác dễ chịu, thoải mái.

Hoa Hồng leo Hoàng Kim

Đây là giống hồng có màu vàng mơ, hương thơm quyến rũ, cao từ 4 – 8m nếu được chăm sóc cẩn thận. Bông của giống này to tới 12cm cuộn xoắn vào nhụy, có thể nở quanh năm.

Giống Hoa hồng vàng ngoại nhập Molineux

Giống hồng này được biết đến là một trong những giống hoa “sang chảnh” nhất thế giới, được xem hoa hồng “vàng 9999” với những cánh hoa xếp lớp tinh tế và hương thơm tỏa mùi mộc dược đặc trưng vô cùng quyến rũ.

Hoa hồng vàng Molineux cho hoa quanh năm, từng bông hoa nở lớn với kích thước từ 8-10cm cho màu vàng sậm hoặc vàng cam. Nhìn chung, đây cũng là giống hoa dễ trồng cà chăm sóc, nhưng bạn cũng cần lưu ý là giống hoa này cần 6-8h tiếp xúc với ánh nắng trực tiếp.

Hoa hồng vàng Bảo Thái (Anh)

Đây là giống hoa hồng David Austin có kích thước bông to đến 15cm, cánh hoa xếp thành vòng tròn, mùi hương thoang thoảng, màu vàng sáng rất được yêu thích.

Hoa hồng leo Kim Long

Hoa hồng Kim Long được giới thiệu vào năm 1990 và từng đoạt giải  “Rose Awards” năm 2000. Cây của giống hoa này cao từ 4 – 8m, cánh dày, bông trứng to đến 12cm, màu vàng đậm, có mùi rượu vang và dâu tây.

Ngoài ra, bạn có thể chọn các giống khác như Hoa hồng Tropical Clementine (Patio Rose); Hoa hồng vàng Eternal Flame; Charles Darwin…

Cách chăm sóc hoa hồng vàng

– Nơi trồng: Thích hợp với điều kiện thoáng gió, nhiều nắng để tránh sâu bệnh gây hại và có nhiều màu sắc hơn.

– Đất trồng: Tơi xốp, thoáng khí, đảm bảo dinh dưỡng, độ ẩm cần thiết. Thay đất mỗi năm một lần.

– Dinh dưỡng: Định kì tháng 1 lần nên kết hợp phân bón lá, bón gốc xen kẽ. Khi thấy cây ra ngọn bón bổ sung phân hạt Dynamic, phân dơi quanh gốc. Pha phân NPK (hoặc DAP) tưới lên lá thân và gốc.

– Chăm sóc: Thường xuyên tỉa lá, cành đã già, yêu để kích thích cho cây ra nhiều mầm, nụ.

Kết.

Tên Loài Hoa Mang Ý Nghĩa Lạnh Lùng Vô Cảm

Ý Nghĩa Hoa Oải Hương

Lavender – Ý Nghĩa Trong Cuộc Sống Và Tình Yêu

Loài Hoa Tượng Trưng Cho Tình Yêu Chung Thủy

Ý Nghĩa Của Hoa Oải Hương Lavender – Loài Hoa Của Tình Yêu Chung Thủy

🌟 Home
🌟 Top