Tên Châu Đại Minh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

--- Bài mới hơn ---

  • Tên Trần Đoàn Kết Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • 165+ Gợi Ý Đặt Tên Nhóm Tiếng Anh Hay Và Ý Nghĩa Nhất 2022
  • Tên Con Phan Tâm Đoan Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Ý Nghĩa Biểu Tượng Đằng Sau Tên Các Thành Viên Nhóm Exo
  • Tên Lê Quỳnh Hoa Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Gợi ý một số tên gần giống đẹp nhất:

    Luận giải tên Châu Đại Minh tốt hay xấu ?

    Thiên Cách là đại diện cho cha mẹ, bề trên, sự nghiệp, danh dự. Nếu không tính sự phối hợp với các cách khác thì còn ám chỉ khí chất của người đó. Ngoài ra, Thiên cách còn đại diện cho vận thời niên thiếu.

    Thiên cách tên của bạn là Châu có tổng số nét là 7 thuộc hành Dương Kim. Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ CÁT (Quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn): Có thế đại hùng lực, dũng cảm tiến lên giàng thành công. Nhưng quá cương quá nóng vội sẽ ủ thành nội ngoại bất hòa. Con gái phải ôn hòa dưỡng đức mới lành

    Địa cách còn gọi là “Tiền Vận” (trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. Về mặt thời gian trong cuộc đời, Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.

    Địa cách tên bạn là Đại Minh có tổng số nét là 11 thuộc hành Dương Mộc. Địa cách theo tên sẽ thuộc quẻ ĐẠI CÁT (Quẻ Vạn tượng canh tân): Dị quân đột khởi, âm dương điều hòa, tái hưng gia tộc, phồn vinh phú quý, tử tôn đẹp đẽ. Là điềm tốt toàn lực tiến công, phát triển thành công.

    Nhân cách: Còn gọi là “Chủ Vận” là trung tâm của họ và tên, vận mệnh của cả đời người do Nhân Cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Giống như mệnh chủ trong mệnh lý, Nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

    Nhân cách tên bạn là Châu Đại có số nét là 9 thuộc hành Dương Thủy. Nhân cách thuộc vào quẻ HUNG (Quẻ Bần khổ nghịch ác): Danh lợi đều không, cô độc khốn cùng, bất lợi cho gia vận, bất lợi cho quan hệ quyến thuộc, thậm chí bệnh nạn, kiện tụng, đoản mệnh. Nếu tam tài phối hợp tốt, có thể sinh ra cao tăng, triệu phú hoặc quái kiệt.

    Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

    Ngoại cách tên của bạn là họ Minh có tổng số nét hán tự là 9 thuộc hành Dương Thủy. Ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ HUNG (Quẻ Bần khổ nghịch ác): Danh lợi đều không, cô độc khốn cùng, bất lợi cho gia vận, bất lợi cho quan hệ quyến thuộc, thậm chí bệnh nạn, kiện tụng, đoản mệnh. Nếu tam tài phối hợp tốt, có thể sinh ra cao tăng, triệu phú hoặc quái kiệt.

    Tổng cách (tên đầy đủ)

    Tổng cách thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa cách nên đại diện tổng hợp chung cả cuộc đời của người đó đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được hậu vận tốt xấu của bạn từ trung niên trở về sau.

    Tên đầy đủ (tổng cách) gia chủ là Châu Đại Minh có tổng số nét là 17 thuộc hành Âm Mộc. Tổng cách tên đầy đủ làquẻ CÁT (Quẻ Cương kiện bất khuất): Quyền uy cương cường, ý chí kiên định, khuyết thiếu hàm dưỡng, thiếu lòng bao dung, trong cương có nhu, hóa nguy thành an. Nữ giới dùng số này có chí khí anh hào.

    Mối quan hệ giữa các cách

    Số lý của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Dương Thủy” Quẻ này là quẻ Ham thích hoạt động, xã giao rộng, tính hiếu động, thông minh, khôn khéo, chủ trương sống bằng lý trí. Người háo danh lợi, bôn ba đây đó, dễ bề thoa hoang đàng.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Dương KimDương Thủy – Dương Mộc” Quẻ này là quẻ : Kim Thủy Mộc.

    Đánh giá tên Châu Đại Minh bạn đặt

    Bạn vừa xem xong kết quả đánh giá tên Châu Đại Minh. Từ đó bạn biết được tên này tốt hay xấu, có nên đặt hay không. Nếu tên không được đẹp, không mang lại may mắn cho con thì có thể đặt một cái tên khác. Để xem tên khác vui lòng nhập họ, tên ở phần đầu bài viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 Tên Gọi Của Nước Ta Qua Các Thời Kỳ Lịch Sử
  • Tên Đậu Ngọc Thiên Du Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lý Đình Huy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Cao Đình Huy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Đình Huy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Sinh Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
  • “mường” Là Gì? Nghĩa Của Từ Mường Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt
  • Dân Tộc Mường Có Từ Bao Giờ?
  • Đặc Sắc Chiếc Khăn Đội Đầu Người Mường
  • Bài 21 : Khởi Nghĩa Lý Bí. Nước Vạn Xuân (542
  • Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh ( Ho Chi Minh City Open University viết tắt là OU) là một trường đại học công lập đa ngành có thương hiệu tại Việt Nam. Trường trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Xếp hạng thế giới

    Webometrics(2020)

    14.776

    Gần 3 thập kỷ qua, Nhà trường không ngừng cải cách và nâng cao chất lượng đào tạo bằng việc chủ động mở rộng mối quan hệ hợp tác với nhiều đối tác chất lượng trên thế giới. Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh hợp tác với nhiều Trường và tổ chức giáo dục danh tiếng như:.

    Với sự phát triển nhanh chóng và nhu cầu học tập của xã hội, ngày 26 tháng 7 năm 1993, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trường Đại học Mở bán công TP. Hồ Chí Minh trên cơ sở Viện Đào tạo mở rộng TP. Hồ Chí Minh, với chức năng là đào tạo từ xa, đào tạo tại chỗ, đào tạo tại các điểm vệ tinh,… nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của xã hội, góp phần tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật cho đất nước.

    . Theo quyết định này, Trường Đại học Mở bán công TPHCM được chuyển sang thành trường đại học công lập và có tên gọi là Trường Đại học Mở TP.Hồ Chí Minh, là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ.

    Ý nghĩa tên trường Sửa đổi

    Có người bảo cái tên “Mở” bắt nguồn từ lịch sử hình thành trường. Lúc đó, khi chỉ mới có các trường truyền thống “công lập” thì ngành Giáo dục quyết định thử nghiệm xây dựng trường đại học đào tạo mở, tự hạch toán.

    Có sinh viên chia sẻ: “Mở” là do trường đào tạo đa ngành nghề và có tính chất “mở” đối với hoạt động sinh viên cũng như liên kết quốc tế.

    Có người lại nói rằng Đại học Mở TPHCM là lá cờ tiên phong trong lĩnh vực đào tạo từ xa, là một trong những trường đại học đầu tiên tại Việt Nam triển khai chương trình đào tạo trực tuyến. Vì vậy, nó có tên là “Mở”. “MỞ ý là không gian học tập được rộng mở, bạn có thể theo học chương trình của trường bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào.

    • Huân chương Lao động hạng Ba cho nhà trường vào năm 2011.
    • Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho nhà trường vào năm 2011.
    • Huân chương Lao động hạng Nhì cho nhà trường năm 2022.

    Thực hiện Thông tư số 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy chế công khai đối với các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân , Trường Đại học Mở chúng tôi báo cáo thực hiện quy chế công khai như sau:

    Đội ngũ giảng viên

    Năm 2022, trường có 499 giảng viên. Trong đó có 06 Giáo sư, 24 phó giáo sư, 136 tiến sĩ, 301 thạc sĩ và 32 giảng viên có trình độ đại học.

    Kiểm định chất lượng giáo dục

    Ngày 18 tháng 9, Trung tâm Kiểm định chất lượng giáo dục – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã trao Giấy chứng nhận đạt chuẩn chất lượng cơ sở giáo dục cho Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh.

    Chất lượng đầu ra thực tế

    Khảo sát 1114 sinh viên tốt nghiệp đúng hạn năm 2014 về việc làm của sinh viên Đại học Mở TP.HCM:

    Tình hình việc làm của sinh viên Số lượng sinh viên Tỷ lệ

    Tổng cộng

    1114

    100.00%

    Thời gian tìm được việc làm Số lượng sinh viên Tỷ lệ

    Tổng cộng 1036 100.00%

    Mức thu nhập bình quân/tháng Số lượng sinh viên Tỷ lệ

    Tổng cộng 1036 100.00%

    * Theo khảo sát của nhà trường được công bố vào năm 2022.

    Phần lớn nguồn học phí thu từ người học được dùng vào xây dựng cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập: phòng học khang trang, toàn bộ các phòng học đều được gắn máy lạnh, đầu tư các trang thiết bị dạy học tiên tiến cho sinh viên, số lượng sinh viên mỗi lớp học phù hợp với môn học/ngành học… nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng. Bên cạnh việc đầu tư phát triển đội ngũ nhân sự: nhân viên thân thiện, giảng viên có chuyên môn chuyên sâu, phương pháp giảng dạy tiên tiến, hiện đại,… Xây dựng cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập là một trong những mục tiêu chính yếu được nhà trường chú trọng.

    Đại học Mở có cơ sở chính nằm tại địa chỉ 97 Võ Văn Tần, Phường 6, Quận 3; với diện tích 2.436 m2.

    Bên cạnh đó, Trường cũng có các cơ sở liên kết. Cơ sở Mai Thị Lựu thuộc Trường Trung học nghề Võ Trường Toản tại 02 Mai Thị Lựu,Quận 1; dành cho khoa quản trị kinh doanh, khoa kinh tế và quản lý công.

    Ngày 15/06/2016 nhà trường đưa vào sử dụng Cơ sở mới khang trang, hiện đại đặt tại Quận 1, quận trung tâm của thành phố, số 35-37, Đường Hồ Hảo Hớn, Quận 1. Đây là một trong những bước tiến quan trọng khác làm nền tảng để phát triển Trường Đại học Mở chúng tôi thành một Trường đại học trọng điểm, định hướng nghiên cứu kết hợp với ứng dụng, đáp ứng chuẩn đầu ra của doanh nghiệp trong và ngoài nước, tiến tới đạt chuẩn khu vực và quốc tế trong nền kinh tế tri thức, hội nhập. Để Trường hoàn thành mục tiêu là Trường Đại học công lập đào tạo ra những người chủ tương lai của đất nước..Tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ trở lên trên tổng số giảng viên cơ hữu của nhà trường là 31,5%. Tỷ lệ giảng viên cơ hữu có trình độ thạc sĩ trở lên trong tổng số giảng viên cơ hữu của nhà trường là 83.94%.

    Thư viện được mở rộng gồm 1 phòng đọc tại Lầu 5 và 1 phòng đọc tại Lầu 6 với diện tích là 500m2, 200 chỗ ngồi. Ngoài Thư viện tại cơ sở 97 Võ Văn Tần, Thư viện còn có 2 chi nhánh là tại cơ sở số 442 Đào Duy Anh và tại Cơ sở 3 của trường 68 Lê Thị Trung, Thủ Dầu Một, Bình Dương.Thư viện tổ chức theo lối kho mở và sử dụng khung Phân loại Thập phân Dewey (DDC) để phân loại và xếp giá tài liệu. Mô tả tài liệu theo tiêu chuẩn ISBD và AACR2; sử dụng Sear List of Subject Heading và đề mục của LC để biên mục tài liệu. Thư viện tổ chức theo dạng mở hơn 500 chỗ, có mạng máy tính giúp sinh viên tra cứu tài liệu. Trong thư viện hiện có 40.000 bản sách giáo trình các ngành đào tạo, sách tham khảo, tạp chí và các luận văn đại học và cao học xuất sắc…

    Hệ thống thư viện trường với các sách tham khảo chuyên ngành và đại cương phong phú. Hệ thống máy vi tính nối mạng internet giúp sinh viên có thể tra cứu tài liệu, tìm kiếm thông tin. Ngoài ra, Khoa Công nghệ Sinh Học còn có một phòng thư viện riêng tại cơ sở Bình Dương, phục vụ các sách chuyên khảo

    STT MÃ CƠ SỞ ĐỊA CHỈ GHI CHÚ

    1

    VTT

    97 Võ Văn Tần, Phường 6, Quận 3, Tp. Hồ Chí Minh.

    Cơ sở chính

    Cơ sở học tập cho Khoa Đào tạo Đặc biệt (các ngành chất lượng cao)

    Cơ sở học tập cho Khoa Đào tạo Sau Đại học (Thạc sỹ, tiến sĩ)

    2

    HHH

    35-37 Hồ Hảo Hớn, Phường Cô Giang, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.

    Khu hành chính hiệu bộ

    3

    NK

    371 Nguyễn Kiệm, Phường 3, Quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.

    Cơ sở học tập

    4

    MTL

    02 Mai Thị Lựu, Phường Đa Kao, Quận 1, Tp. Hồ Chí Minh.

    Cơ sở học tập

    5

    BD

    68 Lê Thị Trung, Tp.Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương.

    Chi nhánh Bình Dương

    Đào tạo ngành công nghệ sinh học

    6

    LB

    Phường Long Bình Tân, Tp. Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai

    Cơ sở 2

    Cơ sở học Giáo dục quốc phòng – an ninh

    7

    KH

    Tổ dân phố 17,P. Ninh Hiệp, TX. Ninh Hòa, Tỉnh Khánh Hòa

    Chi nhánh Khánh Hòa

    Địa điểm đào tạo từ xa cho khu vực Nam Trung Bộ

    STT Khoa Hệ đào tạo Chuyên ngành đào tạo

    1

    Kinh tế và Quản lý công

    Đại học

    • Chuyên ngành Kinh tế học
    • Chuyên ngành Kinh tế Đầu tư
    • Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế

    2

    Luật

    Đại học

    • Chuyên ngành Luật kinh tế
    • Chuyên ngành Luật

    4

    Kế toán – Kiểm toán

    Đại học, trung cấp

    • Chuyên ngành Kế toán (Đại học, cao đẳng)
    • Chuyên ngành Kiểm toán (chính thức tách chuyên ngành từ năm 2014)
    • Trung cấp Kế toán chuyên ngành Kế toán, Thuế, Bảo hiểm

    5

    Tài chính – ngân hàng

    Đại học

    • Ngành Kinh tế học
    • Trung cấp Tài chính ngân hàng

    9

    Xây dựng và Điện

    Đại học

    • Ngành Kỹ thuật xây dựng
    • Ngành Công nghiệp

    10

    Công nghệ sinh học

    Đại học

    • Chuyên ngành Công nghệ sinh học Vi sinh – Sinh học phân tử
    • Chuyên ngành Công nghệ sinh học Nông nghiệp
    • Chuyên ngành Công nghệ Thực phẩm

    11

    Đào tạo Đặc Biệt (thành lập năm 2006)

    Đại học

    Khoa đào tạo các chuyên ngành:

    • Tài chính – Ngân hàng
    • Kế toán – Kiểm toán
    • Ngôn ngữ Anh (Tiếng Anh Thương mại).
    • Luật Kinh tế
    • Công nghệ Kỹ thuật và Công trình xây dựng
    • Khoa học Máy Tính
    • Quản trị Kinh doanh
    • Công nghệ Sinh học
    • Kinh Tế

    Chương trình Đào tạo đặc biệt Sửa đổi

    Chương trình Đào tạo đặc biệt (năm 2022 trở thành Chương trình đào tạo Chất lượng cao) là một trong những chương trình đào tạo của Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh ra đời vào năm 2006. Đây là chương trình được thiết kế và triển khai nhằm mục tiêu giúp cho sinh viên sau khi tốt nghiệp có thể chủ động làm việc trong môi trường cạnh tranh, tự tin với chuyên môn, có năng lực ngoại ngữ và những kỹ năng giao tiếp đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp.

    Các điểm nổi bật phải kể đến bao gồm: Tăng cường phần tự học và tự nghiên cứu của sinh viên; Tăng cường tính chủ động làm việc nhóm của sinh viên trong việc học và chú trọng rèn luyện khả năng ngoại ngữ của sinh viên; Sinh viên tốt nghiệp có năng lực Anh ngữ tương đương TOEFL 550; Nâng cao tính thực tiễn, hợp tác với các doanh nghiệp để thực hiện các chương trình kiến tập, thực tập và báo cáo chuyên đề từ thực tiễn cho sinh viên; Đưa vào giảng dạy và rèn luyện các kỹ năng làm việc nhằm giúp sinh viên thích nghi tốt hơn với môi trường làm việc hiện đại; Hoạt động ngoại khóa được chú trọng nhằm nâng cao ‎ý thức về trách nhiệm, về cộng đồng, xã hội và môi trường cho sinh viên.

    Thách thức đặt ra là sinh viên được yêu cầu phải chủ động nhiều hơn trong học tập. Khối lượng công việc tự học và tự nghiên cứu sẽ nặng hơn rất nhiều so với chương trình thường. Chương trình có những yêu cầu khắt khe hơn về kết quả học tập. Sinh viên tốt nghiệp ngoài việc hoàn tất các môn học theo chương trình cần phải nộp chứng chỉ ngoại ngữ TOEFL iBT 79 (TOEFL: 550) hoặc tương đương; hay TOEIC 650 hoặc tương đương. Riêng Ngành Ngôn ngữ Anh (chuyên ngành Tiếng Anh thương mại) thì tốt nghiệp phải có chứng chỉ IELTS 6.0 hay tương đương và chứng chỉ tiếng Anh thương mại BEC.

    Chuyên ngành đang được đào tạo gồm: Tài chính Ngân hàng, Kế toán Kiểm toán, Quản trị kinh doanh (Marketing, Kinh doanh quốc tế), Công nghệ Kỹ thuật Công Trình Xây dựng, Ngôn Ngữ Anh, Luật kinh tế.

    Nhà trường duy trì và phát triển quan hệ hợp tác, trao đổi thông tin với các tổ chức và trường đại học nước ngoài để tìm kiếm khả năng hợp tác liên kết đào tạo đại học, sau đại học, khóa ngắn hạn và dạy nghề. Chương trình Cao học Việt Bỉ, hợp tác với Université Libre de Bruxelles, Bỉ. Tiến hành từ năm 1995 đến nay, đào tạo Thạc sĩ Quản trị. Từ năm 2001, mở thêm chương trình đào tạo Thạc sĩ Quản lý và Kinh tế Nhà nước. Từ năm 2004 mở thêm chương trình đào tạo Thạc sĩ Quản trị kinh doanh – Hệ thống thông tin.

    Chương trình được tiến hành đều đặn hàng năm từ 1993, được đánh giá hàng năm và tạo uy tín cho khoa Xã hội học và Công tác xã hội trên quốc tế với các tổ chức Raddda Barnen (Thụy Điển); Ford Foundation, World Vision International, Church World Service (Mỹ); Đại học Oxford (Anh). Chương trình giới thiệu Giáo viên tình nguyện của Tổ chức Youth Educational Services (Mỹ) cho TTAN, được tiến hành liên tục từ 1994. Giáo viên được đánh giá giảng dạy nhiệt tình, tốt. Những giáo viên tình nguyện này sau đó có tham gia giảng dạy cho những Khoa khác.

    Chương trình giao lưu sinh viên với Đại học Kyungnam (Hàn Quốc). Chương trình hợp tác giữa hai trường được tiến hành trên nhiều lãnh vực như giao lưu sinh viên, hỗ trợ đào tạo Giáo viên, trao đổi Giảng viên. Trường cũng nhận được nhiều giúp đỡ từ các tổ chức phi chính phủ Nhật giúp trang bị phòng thính thị, British Council giúp tư liệu học tập… Các trường đại học trên thế giới cũng có nhiều sự hỗ trợ như Capilano College giúp cải tiến chương trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ, xây dựng chương trình đào tạo từ xa, giúp đào tạo giáo viên viết giáo trình cho đào tạo từ xa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Tên Gọi Các Địa Danh Việt Nam
  • Tên Khủng Bố Nguyễn Trung Trọng Nghĩa Vừa Nhập Cảnh Về Việt Nam Đã Bị Bắt
  • Tên Nguyễn Thế Dũng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Trọng Hoàng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Ngọc Thùy Dương Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Xem Ý Nghĩa Tên Đại, Đặt Tên Đại Có Ý Nghĩa Tốt Hay Xấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Gia Có Ý Nghĩa Gì? Tổng Hợp Bộ Tên Lót Chữ Gia Hay Nhất
  • Xem Ý Nghĩa Tên Hải, Tên Đệm Cho Tên Hải Hay Và Ý Nghĩa
  • Giải Mã Ý Nghĩa Tên Hải Là Gì, Trọn Bộ Tên Lót Hay Cho Tên Hải
  • Xem Ý Nghĩa Tên Hoa, Tên Đệm Cho Tên Hoa Hay Và Ý Nghĩa
  • Xem Ý Nghĩa Tên Kim, Đặt Tên Kim Cho Con Có Hợp Không
  • Ý nghĩa tên Đại, đặt tên Đại có ý nghĩa g

    Ý nghĩa: Quang minh chính đại, to lớn, bách đại, đại gia

    Xem ý nghĩa tên Anh Đại, đặt tên An Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Anh” là “người tài giỏi” với ý nghĩa bao hàm sự nổi trội, thông minh, giỏi giang trên nhiều phương diện, vì vậy tên “Anh” thể hiện mong muốn tốt đẹp của cha mẹ để con mình giỏi giang, xuất chúng khi được đặt tên này. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Anh Đại” mong muốn con là người thông minh, giỏi giang trên nhiều phương diện và là người quang minh chính đại.

    Xem ý nghĩa tên Bảo Đại, đặt tên Bảo Đại có ý nghĩa gì

    Tên vị vua nhà Nguyễn, thể hiện sự uy nghiêm, quyền quý, cao sang, luôn mạnh mẽ, vững chắc

    Xem ý nghĩa tên Cao Đại, đặt tên Cao Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Cao” nghĩa là tài giỏi, cao thượng, đa tài. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Cao Đại” mong muốn con là người tài giỏi, cao thượng và là người có nhiều thành công to lớn trong cuộc sống.

    Xem ý nghĩa tên Duy Đại, đặt tên Duy Đại có ý nghĩa gì

    Người có những tư duy triết lý to lớn vĩ đại. Mong con luôn làm được những việc lớn.

    Xem ý nghĩa tên Hoàng Đại, đặt tên Hoàng Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Hoàng” là màu vàng, ánh sắc của vàng. Tên “Hoàng” thường để chỉ những người vĩ đại, có cốt cách vương giả, với mong muốn tương lai phú quý, sang giàu. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Hoàng Đại” ý mong muốn con là người có tương lai giàu sang phú quý, luôn là người quảng đại và thành công lớn trong cuộc sống.

    Xem ý nghĩa tên Hữu Đại, đặt tên Hữu Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Mong con luôn đi theo những điều đúng đắn và chân thực

    Xem ý nghĩa tên Huy Đại, đặt tên Huy Đại có ý nghĩa gì

    Huy trong tiếng Hán – Việt có nghĩa là ánh sáng rực rỡ, thể hiện sự chiếu rọi của vầng hào quang, cho thấy sự kỳ vọng vào tương lai vẻ vang của con cái. Tên Huy Đại mang ý nghĩa con là người tài sẽ có những thành công to lớn vĩ đại trong tương lai huy hoàng & rực rỡ

    Xem ý nghĩa tên Kim Đại, đặt tên Kim Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Kim là vàng. Kim Đài nghĩa là đài bằng vàng, chỉ người con gái phẩm hạnh quý giá, tư chất cao quý

    Xem ý nghĩa tên Minh Đại, đặt tên Minh Đại có ý nghĩa gì

    Minh Đại mang ý nghĩa con thông minh tài trí sẽ đỗ đạt thành danh

    Xem ý nghĩa tên Mộng Đại, đặt tên Mộng Đại có ý nghĩa gì

    Mộng là mơ mộng. Mộng Đài nghĩa là đài các trong mơ, thể hiện con người có tâm hồn nghệ sĩ, tư chất đẹp đẽ

    Xem ý nghĩa tên Ngọc Đại, đặt tên Ngọc Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Ngọc Đài là đài xây bằng ngọc, hàm ý người con gái quý báu, tuyệt luân

    Xem ý nghĩa tên Nhân Đại, đặt tên Nhân Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Nhân” có nghĩa là người, thiên chỉ về phần tính cách, vì Nhân còn có nghĩa là phần giá trị cốt lõi bên trong. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi ngườ. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Nhân Đại” mong muốn con là người có sự nghiệp vững chắc và là người quảng đại, tinh anh, hiểu biết.

    Xem ý nghĩa tên Phước Đại, đặt tên Phước Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Thông minh, đa tài lại có thêm quý nhân phù trợ, suốt đời hưởng phước lộc, vinh hoa, phú quý.

    Xem ý nghĩa tên Phương Đại, đặt tên Phương Đại có ý nghĩa gì

    Nghĩa là đài cao xây bằng cỏ thơm, hàm nghĩa người con gái sang trọng, hoàn hảo, tốt đẹp

    Xem ý nghĩa tên Quang Đại, đặt tên Quang Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Những người đạt được những vinh quang lớn trong sự nghiệp. Thành công trong cuộc sống.

    Xem ý nghĩa tên Quảng Đại, đặt tên Quảng Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Quảng Đại nghĩa là rộng lớn, chỉ về con người tâm hồn phóng khoáng, trượng nghĩa bao dung

    Xem ý nghĩa tên Quốc Đại, đặt tên Quốc Đại có ý nghĩa gì

    Mong con sẽ khỏe mạnh, to cao nhất nhà

    Xem ý nghĩa tên Thanh Đại, đặt tên Thanh Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Con sẽ là người có khí phách hiên ngang, to lớn, minh bạch

    Xem ý nghĩa tên Thành Đại, đặt tên Thành Đại có ý nghĩa gì

    Con sẽ thành đạt giỏi giang bằng lòng chân thực

    Xem ý nghĩa tên Tiến Đại, đặt tên Tiến Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Tiến” là sự vươn tới, thể hiện ý chí, nỗ lực của con người. Tên Tiến còn hàm chứa ý nghĩa mong con luôn thành công, tiến bước trên đường đời. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Tiến Đại” ý mong muốn con là người quang minh chính đại, có sự nghiệp vững chắc và có những bước tiến tốt đẹp trong tương lai.

    Xem ý nghĩa tên Trí Đại, đặt tên Trí Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Trí Đại mang ý nghĩa con là người có trí tuệ và đạt được những thành công lớn lao trong cuộc sống

    Xem ý nghĩa tên Vân Đại, đặt tên Vân Đại có ý nghĩa gì

    Vân là mây. Vân Đài là đài mây, chỉ người con gái cao quý kiêu sa, phẩm hạnh quý giá

    Xem ý nghĩa tên Vũ Đại, đặt tên Vũ Đại có ý nghĩa gì

    Theo nghĩa Hán – Việt, “Vũ” có nghĩa là mưa, là khúc nhạc, cũng bao hàm nghĩa về sức mạnh to lớn. “Đại” diễn tả sự to lớn, như bách đại, đại gia, có thể làm chỗ dựa vững chắc cho mọi người. “Đại” còn thể hiện tinh thần quảng đại, sự rộng rãi, quang minh chính đại. “Vũ Đại” mong muốn con là người mạnh mẽ, có sức khỏe tốt và là người có tinh thần quảng đại, quang minh chính trực.

    Xem ý nghĩa tên Xuân Đại, đặt tên Xuân Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Xuân Đại nghĩa là mùa xuân to lớn, hàm ý người có tâm hồn rộng mở, khí chất trẻ trung tích cực

    Xem ý nghĩa tên Yên Đại, đặt tên Yên Đại có ý nghĩa gì

    Ý nghĩa: Yên là mây khói. Yên Đài là đài cao tận khói mây, thể hiện người con gái cao quý đẹp đẽ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Tên Đạt, Đặt Tên Đạt Có Ý Nghĩa Gì
  • Giải Mã Ý Nghĩa Tên Đức, Đặt Tên Đức Có Ý Nghĩa Gì
  • Ý Nghĩa Tên Cát? Bật Mí List Tên Cát Hay Cho Bé Độc Đáo, Chất
  • Ý Nghĩa Tên Cát,đặt Tên Cát Có Ý Nghĩa Gì
  • Ý Nghĩa Tên Chi Và Cách Đặt Tên Đệm Cho Tên Chi Hay Nhất
  • Văn Minh Phương Tây: Hiểu Nhanh Thời Phục Hưng Và Thời Đại Khám Phá

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Việc Làm Tại Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Phục Hưng Holdings
  • Vì Sao Lại Có Tên Gọi Nha Trang
  • Ý Nghĩa Thú Vị Của Tên Gọi Nha Trang
  • Ý Nghĩa Tên Gọi Của Các Địa Danh Nổi Tiếng Thế Giới
  • Ý Nghĩa Tên Gọi Các Thành Phố Trên Thế Giới
  • Nguồn : 52 tập phim Văn Minh Phương Tây

    Hiệp Hội Bảo tàng Nghệ thuật Đô Thị.

    GS Eugen Weber, Giảng viên môn Lịch sử, U.C.L.A., Los Angeles

    Các nhà thám hiểm châu Âu vĩ đại đã đóng góp tinh thần Thời Phục Hưng, xuất hiện trong các tác phẩm của các nghệ sỹ, học giả và nhà văn trong thời kỳ này.

    Đó có phải là sự khởi đầu của một thế giới hiện đại mới, một thế giới của trí tưởng tượng, của hành động, của thương mại; hay đó là sự kết hợp của thời Trung cổ kéo dài gần một ngàn năm; hay là cả hai?

    “Thời kỳ Phục Hưng và Thời đại Khám phá” theo loạt phim Truyền thống phương Tây.

    Và bây giờ Giáo sư UCLA Eugen Weber tiếp tục cuộc hành trình qua lịch sử của nền Văn minh phương Tây.

    Sự phát triển khoa học và kỹ thuật của thời Trung Cổ đã góp phần phát triển nên thời Phục hưng.

    Tôi đã từng nói trong một vài chương trình là thời Trung Cổ được sáng tạo ra bởi thời kỳ Phục Hưng. Nhưng chính thời kỳ Phục Hưng đã tự phát minh ra nó. Không có nghĩa là mọi người trong thế kỷ 14 hay 15 gợi lên từ này, nhưng họ hành động như thể họ có thể làm như vậy bất cứ lúc nào, bởi vì họ cảm thấy rất phấn khởi bởi những gì đang xảy ra xung quanh. Bây giờ, mọi việc đang xảy ra cũng lộn xộn như cũ, như trước và sau chiến tranh, bất công, bạo lực, đau khổ. Cái mà chúng ta gọi là Phục hưng, cuối cùng, đã chạy từ khoảng thế kỷ thứ mười bốn qua mười sáu. Vì vậy, nó kéo dài sau thời Trung cổ hơn một trăm năm. Nhưng có một sự khác biệt quan trọng. Có những vấn đề kinh tế nghiêm trọng, càng có nhiều doanh nghiệp hơn, người ta càng giàu có hơn, giải trí nhiều hơn trong thời Phục hưng. Và dễ thấy là khi họ càng giàu có và nhiều giải trí thì họ càng cạnh tranh nhiều hơn trong tiêu dùng. Và một hình thức tiêu dùng đặc biệt nổi lên là văn hoá. Văn hoá thờ lạy và theo đuổi thời cổ đại với sự khẩn cấp và niềm đam mê phi thường. Văn học và kiến trúc và nghệ thuật thị giác của họ tăng vọt, và thành tựu của họ đã làm cho những người đương thời cảm thấy rằng họ đã sống trong một thời gian khi con người cuối cùng cũng bắt kịp sự vĩ đại của người cổ xưa, dù những người cổ xưa đã phát triển đi trước người phương Tây trong một nghìn năm.

    Khách quan hơn, phương Tây đã hồi sinh ít nhất từ thế kỷ thứ mười hai. Các nhà Thờ lớn đã không chờ đợi đến thế kỷ thứ mười bốn. Và các thế hệ trước đã dịch tài liệu của những người Hy Lạp nghiên cứu về triết học và các định luật tự nhiên, đã cải tiến công nghệ. Trong thế kỷ thứ mười ba, việc xây dựng ống khói tốt hơn làm cho hệ thống sưởi trở nên linh hoạt hơn và do đó, làm cho sự riêng tư có thể tốt hơn. Ống khói có lẽ đã ảnh hưởng đến nghệ thuật yêu thương hơn là những người ngâm thơ, và nó nuôi dưỡng nhiều chủ nghĩa cá nhân hơn các nhà triết học thời Phục hưng đã làm. Và một phát minh đương đại vượt trội, là kính mắt, mà nếu không có nó có lẽ chúng ta sẽ có ít nhà triết học hơn.

    Trong số các phát minh khác của thế kỷ thứ mười hai là bánh xe quay, mà không chỉ làm sợi rẻ hơn, mà còn gợi ý việc sử dụng đai để truyền tải năng lượng; và chiếc xe cút kít, cắt giảm một nửa số người cần thiết để chuyên chở những chiếc xe nhỏ bằng cách thay thế một bánh xe cho người đàn ông phía trước, và ngay cả cái nút, cách mạng hóa lịch sử quần áo. Vì vậy, thời Trung cổ thường sáng tạo và ngày càng hiệu quả. Nhưng điều thay đổi nhiều nhất trong thế kỷ mười bốn là tâm trạng, bởi vì những gì đã thực hiện được đem vinh quang đến cho Thượng đế ít hơn là đem vinh quang đến cho con người. Bạn có thể thấy điều này trong văn học nơi tái sinh của văn minh La Mã và Hy Lạp cổ đại, đã hồi sinh niềm tin của Hy Lạp trong “con người là thước đo của tất cả mọi thứ” và giới thiệu ý tưởng đổi mới về một cuộc sống không bị tôn giáo cản trở.

    Đó là đặc trưng mà tinh thần thế tục này được đại diện bởi đàn ông và đôi khi bởi phụ nữ, người tự cho mình là theo chủ nghĩa nhân văn, bởi vì họ quan tâm đến bản chất con người và giá trị của con người. Nói cách khác – họ đã cố gắng khám phá bí mật của cuộc sống tốt đẹp, cuộc sống đạo đức. Và họ nghĩ rằng họ có thể tìm thấy nó, không phải trong nhiều thế kỷ vừa qua, nơi không có mô hình nào phù hợp với nhu cầu của họ, mà bằng cách nhìn lại thời cổ đại. Nếu bạn đọc Seneca hoặc Cicero và nếu bạn đã viết như họ, thì bạn có thể hy vọng trở thành tốt, hoặc tuyệt vời như họ đã từng làm.

    Vì vậy, các nhà nhân văn đã hồi sinh các tác phẩm kinh điển và họ đã nghiên cứu và rèn luyện tính nhân văn được cho là đức hạnh, và đáng kính trong tư cách, đặc biệt là ở nơi công cộng. Nhân loại nhấn mạnh sự phán xét cá nhân, giá trị và khả năng của cá nhân, ý chí tự do của con người, sự vượt trội không bị biến chất, không được đánh bóng, nghĩa vụ đối với xã hội; và chúng là cơ sở cho chương trình giảng dạy cổ điển, sẽ kéo dài đến thế kỷ XX. Một nhà nhân văn điển hình thời Phục hưng là một học giả chuyên nghiệp. Ngày nay ông sẽ là một giáo sư. Giống như nhiều giáo sư, rất nhiều nhà nhân văn đã quan tâm chủ yếu đến việc chỉ trích hoặc ra ngoài với những trích dẫn đã học. Nhưng, cũng giống như một số giáo sư, nhà nhân văn muốn chuẩn bị cho sinh viên và độc giả của họ hoạt động một cách khôn ngoan trên thế giới. Lý tưởng nhất, hầu hết các sinh viên này sẽ là hoàng tử hoặc cận thần hoặc nam giới và phụ nữ, là những người thực hành một số quyền lực. Một điều chắc chắn là, họ muốn được xem là có giáo dục, họ phải biết tiếng Latin.

    Nghệ thuật Thời Phục Hưng phát triển khuynh hướng thế tục.

    Một trong những nhà nhân văn nổi tiếng nhất của thời Phục hưng là Desiderius Erasmus, một tu sĩ người Hà Lan (1466 – 1536). Khi ông không viết sách, Erasmus thường dạy về đạo đức và văn hóa, cách cư xử tốt, thông thường là về văn minh và Đạo đức Kitô giáo; tất cả mọi thứ đều thiếu trong cuộc sống hàng ngày của ông cũng như chúng thiếu trong cuộc sống ngày nay. Nhưng tôi thích Niccolo Machiavelli, một người đương thời người Ý hơn. Machiavelli là một người ít uyên bác hơn nhưng có khuynh hướng suy nghĩ về bản thân, và điều này được tạo ra trong cuốn sách nhỏ của ông, “The Prince” (Hoàng thân). Machiavelli đã bị lên án nhiều như hoài nghi và vô đạo đức vì cuốn sách của ông mô tả quyền lực chính trị như chúng đang có chứ không phải cái chúng nên. Nhưng Machiavelli đã có rất nhiều kinh nghiệm về chính trị tại Florence, một trong những thành phố chính trị nhất thời bấy giờ. Đây là chính trường của Lorenzo Hùng vĩ, người đang cai trị thành phố khi Machiavelli lớn lên ở đó. Trong mớ hỗn độn theo sau cái chết của Lorenzo, Machiavelli học cách xem xét chính trị như một khu rừng, nơi mà những kẻ mạnh nắm lấy quyền lực, kẻ yếu bị dồn vào tường và những người bình thường tốt hơn hết là quy thuận kẻ mạnh.

    Theo một cách nào đó, Machiavelli chỉ đơn giản là miêu tả những gì ông nhìn thấy xung quanh. Quan trọng hơn, ông đã tách Siêu Hình học khỏi chính trị. Tôn giáo, hay đạo đức hay luật pháp chỉ là một yếu tố khác của hoạt động chính trị giống như quân đội, giống như thuế. Và đây là một bước đột phá so với truyền thống thời trung cổ; nhưng ngoài Machiavelli và có lẽ tôi nên thêm Thomas Moore, mà hầu hết các nhà nhân văn ít đề cập với chúng ta ngày nay. Các tác phẩm của họ không dễ đọc, chúng thì quá sức so với các tài liệu tham khảo và trích dẫn cổ điển. Thú vị hơn nhiều và dễ tiếp cận hơn để theo dõi tư tưởng mới của thời Phục hưng là trong nghệ thuật thị giác, nó thực sự minh họa sức sống và sự phấn khích của thời đại và tập trung vào những khả năng của con người.

    Có thể bắt đầu thấy sự thay đổi bằng cách so sánh tương phản giữa những bức tranh ghép vĩ đại của TK 11 và TK 12 với công việc của Giotto, người đã sống suốt thế TK 13 và đầu TK 14 ở Florence, trong những ngày đầu thời kỳ Phục hưng. Nhiều người đương thời với Giotto vẫn còn tạo nên những nhân vật quyền lực, quyền năng tuyệt vời, hay những người khác đã vẽ các chương trình múa rối theo cách Byzantine phi thường, đầy những người giả vô hồn trong trang phục lộng lẫy. Nhưng, công việc của Giotto bị ảnh hưởng bởi sự mới hồi sinh của những ý tưởng cổ điển và đặc biệt là bởi tính nhân đạo mới mà Thánh Phanxicô đã mang đến cho tôn giáo. Cách tiếp cận của Giotto là cảm xúc và cấp bách. Không giống như cách cứng nhắc của thời Trung Cổ, nó thể hiện một tính nhân đạo mới. Vì vậy, Giotto là sáng tạo nhưng ông cũng gắn bó sâu sắc với Kitô giáo và thời trung cổ. Đặc trưng những bức tranh nổi tiếng nhất của ông có thể được nhìn thấy trong một nhà thờ ở Padua gọi là Nhà nguyện Scrovegni bởi vì nó được xây dựng bởi con trai của một người bảo trợ cái tên đó. Ông Scrovegni già rất khét tiếng đến mức Dante đặt ông vào một trong những vòng tròn của Địa ngục trong tác phẩm ” The Inferno”. Vì vậy, ở đây có một hành động điển hình thời trung cổ là mua lại. Con trai của người cho vay giữ lại nhà nguyện của ông trong một cử chỉ khởi xướng để đánh bóng cho sự giàu có của gia đình.

    Hình: Bức tranh Giovanni Arnolfmi và vợ”, Jan Van Eyck vẽ năm 1434.

    Máy in ra đời xuất bản nhanh chóng tài liệu.

    Sự vĩ đại của con người sẽ được chứng minh và tăng tốc theo cách khác bằng phát minh máy in di chuyển ở Đức vào khoảng năm 1445 và do một thợ kim hoàn gọi là Gutenberg. Đến năm 1480, hơn một trăm mười thị trấn châu Âu có cửa hàng in ấn. Và vào năm 1500, khoảng hai mươi triệu cuốn sách đã được in. Và TK 16 có ít nhất mười lần hơn thế. Các nhà nhân văn nhanh chóng nhận ra lợi thế của những cuốn sách rẻ hơn và số lượng sách nhiều hơn; Giáo hội cũng vậy. Lúc đầu, hầu hết các cuốn sách đều do thư ký và giáo sĩ viết. Và hầu hết trong số đó là tiếng Latinh, điều đó có nghĩa là việc truy cập đọc sách bị hạn chế. Nhưng vào thế kỷ thứ mười sáu, điều này đã thay đổi. Quan tòa, dân thành phố và thương gia sở hữu sách thường thường bằng ngôn ngữ riêng của họ. Một ngành công nghiệp xuất bản phát triển để phục vụ cho những người bình thường hơn với những cuốn sách tôn giáo, sách giải trí và niên giám. Các cuộc phiêu lưu lãng mạn, hào hiệp và vinh quang đã được xuất bản ra với số lượng lớn do các máy in Ý và Tây Ban Nha, mà từ đó đã nuôi dưỡng ước mơ của những người chinh phục trong tương lai. Và thực tế là trong TK 15 và nửa đầu TK 16, thời Phục hưng là một thời kỳ thành tựu văn hóa mãnh liệt và rực rỡ, sẽ cùng tồn tại với Thời đại Khám phá. Một giai đoạn mở rộng thế giới mạnh mẽ. Cũng giống như chưa bao giờ có nhiều sự sáng tạo và đa dạng trong nghệ thuật, nên cũng chưa bao giờ có quá nhiều cuộc thám hiểm và khám phá như vậy.

    Tác động của những nhà thám hiểm vĩ đại lên cuộc sống trí tuệ.

    Khi Bartholomeu Diaz đi vòng quanh Mũi Hảo Vọng vào năm 1487, Botticelli đang vẽ giúp Nhà nguyện Sistine ở Rome. Năm 1506, Columbus chết trong suy yếu, bị lãng quên, vẫn tin rằng ông đã khám phá ra bờ biển châu Á. Và cùng năm đó, Bramante bắt đầu xây dựng Nhà thờ Thánh Phêrô ở Rome. Năm 1513, Balboa băng qua eo biển Panama phát hiện ra sự tồn tại của Thái Bình Dương, và Machiavelli xuất bản “The Prince”. Raphael qua đời vào năm 1520 khi Magellan đang đi vòng quanh thế giới, và một cuộc nổi dậy đang tụ họp ở Đức xung quanh một tu sĩ tên là Martin Luther, cuộc nổi dậy này sẽ sớm bùng nổ thành phong trào Cải cách Tôn giáo. Và trong những năm 1530 trong khi Pizarro đang chinh phục Peru, Erasmus và Rabelais đang nở rộ, trong khi Michelangelo đang vẽ “Phán xét cuối cùng” trên bức tường bệ thờ của Nhà nguyện Sistine.

    Thời Phục Hưng và Thời đại Khám phá là hai thành tựu đỉnh cao. Một là thuộc về trí tưởng tượng, thành tựu kia thuộc về hành động. Nhưng chúng có điểm gì chung không? Có thể nói rằng Erasmus đã viết, Raphael vẽ, và Bartholomeu Diaz mạo hiểm vượt qua Mũi Bão Tố đã cùng tuân theo một sự thúc đẩy? Và sự thúc đẩy này bắt nguồn từ một số kinh nghiệm chung? Một cách suy nghĩ, một cách tiếp cận cuộc sống mà các sử gia đã đồng ý gọi là Phục hưng Châu Âu. Có phải sự thôi thúc khám phá những vùng đất mới được phát triển từ sự xáo động trí tuệ của thời Phục Hưng không? Và việc mở rộng chân trời địa lý có ảnh hưởng gì đến những chân trời tinh thần của người dân ở nhà?

    Điều đầu tiên chúng ta có thể nói là bản chất con người không thay đổi, nhưng phạm vi nguyện vọng của con người đã được tăng lên do vật chất trong xã hội nhiều hơn. Vào những năm 1480 và thập niên 90, châu Âu đã phát triển một nền nông nghiệp căn bản, một nền công nghiệp độc lập, một ưu thế trong tay và một kỹ năng ngang dọc đại dương, cho phép nó khám phá phần còn lại của thế giới để chinh phục, cướp bóc và xâm chiếm nó trong bốn thế kỷ tiếp theo, mà người La Mã cổ đại tham lam nhất cũng phải ghen tỵ. Tuy nhiên, nhiều dụng cụ trợ giúp cho việc khám phá này có thể đã xuất hiện từ thời Trung cổ. La bàn từ tính đã có vào năm 1187; các bản đồ biển và sách hoa tiêu đã có sẵn sau năm 1280. Các tàu thuyền và súng mà các nhà thám hiểm sử dụng không phải do phát triển trí tuệ thời Phục hưng mà do các thợ thủ công làm. Và cũng giống như các phương tiện thăm dò được phát triển từ thời Trung Cổ, các mục đích đằng sau nó cũng vậy. Đây là buổi tiếp đón Columbus của Ferdinand và Isabella. Họ và những người cai trị khác quan tâm đến vàng và bạc để bổ sung nguồn thu nhỏ ở quê nhà, và quan tâm đến nô lệ, đến gia vị từ phương Đông rất cần thiết để bảo quản thực phẩm ngay tại nơi sản xuất, vì chúng nhanh chóng hư hỏng trong thời đại chưa có máy đông lạnh. Gia vị khá đơn giản để làm cho thực phẩm tệ hại có thể ăn được, chung chung như thịt xơ cứng của gia súc gầy, rau không vị, thức ăn không ngon và thường hư hỏng. Nhưng thương mại gia vị này đã bị đe dọa bởi sự phát triển của một lực lượng Hồi giáo mới, là người Thổ Nhĩ Kỳ. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã chiếm Constantinople năm 1453. Và người Balkan cũng phát triển, do đó làm xáo trộn sự cân bằng thương mại của Địa Trung Hải. Trước đó, người Ý đã gần như được hưởng một sự độc quyền của thương mại gia vị trong nhiều thế kỷ, đó là nguồn gốc của sự thịnh vượng của họ. Vì vậy, các nước Tây Âu cũng muốn tìm kiếm thương mại ngoài vùng của người Thổ Nhĩ Kỳ và người Ý cũng vậy. Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, và Hà Lan đều nhìn thấy khả năng vượt biển về phía nam hoặc phía tây để đến Đông Ấn và họ có phương tiện để làm điều đó. Một động cơ khác, được thể hiện phổ cập và được tin tưởng rộng rãi là mong muốn mở rộng Kitô giáo. Và ở đây cũng vậy, Thời đại khám phá không thấy điều gì mới mẻ, mà chỉ là sự chuyển hướng một mục đích thời Trung cổ trước đó, là đã làm cuộc chinh phục xấu gắn với với sự nhiệt tình truyền giáo trong các cuộc Thập tự chinh mà Châu Âu đã đưa ra từ TK 11. Lý tưởng Thập tự chinh này đã lắng xuống, nhưng nó đã được hồi sinh bởi sự phát triển của người Thổ ở phía Nam và phía Đông Địa Trung Hải và sự sụp đổ của Constantinople, và nó được duy trì bởi cuộc chiến chống lại người Moors ở Tây Ban Nha mà chỉ kết thúc đáng kể vào 1492.Tại thời điểm đó Vương quyền Tây Ban Nha cuối cùng đã cho phép Columbus đi thám hiểm biển.

    Khía cạnh Phục hưng nhất của sự khám phá nằm trong sự hợp tác giữa Vương quyền, các chuyên gia địa lý và những thương gia ngoài lợi nhuận còn có học thức cao, nhưng cũng rất tò mò và muốn ngày càng có nhiều thông tin. Và chúng ta có thể tìm thấy một tâm lý mới trong số những thủy thủ và du khách. Chúng ta tìm thấy điều đó ở một Venetian thường gọi là Cadamosto mà người nói rằng: “Ông đã tham gia các chuyến đi của Bồ Đào Nha xuống bờ biển châu Phi trong 1455 và 1456 để xem những quan cảnh thú vị”. Và chúng tôi cũng tìm thấy ở một người Ý khác là Antonio Pegafetta, người đã tham gia cuộc thám hiểm của Magellan sáu mươi năm sau đó “để thử nghiệm”, ông nói: “đi và nhìn thấy bằng chính mắt của tôi một phần của những điều chúng tôi đã nghe kể rất nhiều”. Và cuối cùng chúng ta tìm thấy nó trong chính những nhà thám hiểm vĩ đại, những người không chỉ là tín đồ và thủy thủ. Nhưng, những người đã phải hiện thực hóa cam kết của họ trong bối cảnh một kiến ​​thức mới nổi của thế giới, kiểm tra giả thuyết về địa lý thời Trung cổ, và phát triển chúng thành một khoa học mới hoàn toàn, như chúng ta sẽ thấy trong chương trình tiếp theo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 3: Văn Hóa Tây Âu Thời Phục Hưng
  • Lịch Sử Văn Minh Châu Âu (5): Phục Hưng
  • Tên Trần Hoàng Gia Huy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Trần Tuấn Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Trần Phúc Gia Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Thông Tin Tuyển Sinh Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • “mường” Là Gì? Nghĩa Của Từ Mường Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt
  • Dân Tộc Mường Có Từ Bao Giờ?
  • Đặc Sắc Chiếc Khăn Đội Đầu Người Mường
  • Bài 21 : Khởi Nghĩa Lý Bí. Nước Vạn Xuân (542
  • Tên Và Ý Nghĩa Của 12 Cung Hoàng Đạo Là Gì?
  • Cập nhật: 06/11/2020

    • Tên trường: Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
    • Tên tiếng Anh: Ho Chi Minh City Open University (OU)
    • Mã trường: MBS
    • Loại trường: Công lập
    • Hệ đào tạo: Đại học – Tại chức -Văn bằng 2 – Liên thông – Liên kết nước ngoài
    • Địa chỉ:
      • Cơ sở 1:97 Võ Văn Tần, P. 6, Q. 3, TP. Hồ Chí Minh.
      • Cơ sở 2:35-37 Hồ Hảo Hớn, P. Cô Giang, Q. 1, TP. Hồ Chí Minh.
      • Cơ sở 3:371 Nguyễn Kiệm, P. 3, Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh.
      • Cơ sở 4:02 Mai Thị Lựu, P. Đa Kao, Q. 1, TP. Hồ Chí Minh.
      • Cơ sở 5:68 Lê Thị Trung, P. Phú Lợi, TP. Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương.
      • Cơ sở 6:Đường số 9, P. Long Bình Tân, TP. Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai.
      • Cơ sở 7:Tổ dân phố 17 P. Ninh Hiệp, Thị Xã Ninh Hòa, Tỉnh Khánh Hòa.
    • SĐT: 028 3836 4748

    B. THÔNG TIN TUYỂN SINH NĂM 2022

    1. Thời gian tuyển sinh

    • Phương thức 1: Theo quy định của Bộ GD&ĐT.
    • Phương thức 2 và 3: Thời gian nhận hồ sơ từ 15/6/2020 đến 30/6/2020.
      Đã tốt nghiệp THPT (theo hình thức giáo dục chính quy hoặc giáo dục thường xuyên) hoặc đã tốt nghiệp trung cấp; Người tốt nghiệp trung cấp nhưng chưa có bằng tốt nghiệp THPT phải học và được công nhận đã hoàn thành các môn văn hóa THPT theo quy định.

    4. Phương thức tuyển sinh

    4.1. Phương thức xét tuyển

    • Phương thức 1: Xét tuyển dựa vào kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2022.
    • Phương thức 2: Xét tuyển dựa vào kết quả học tập của 5 học kỳ của 3 năm THPT (trừ học kỳ 2 lớp 12).
    • Phương thức 3: Xét tuyển dựa trên điểm tú tài quốc tế (IB): Tốt nghiệp THPT quốc tế có tổng điểm thi tốt nghiệp IB từ 26.0 trở lên.

    4.2. Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, điều kiện ĐKXT

    • Phương thức 1: Trường sẽ thông báo trên website sau khi có kết quả thi THPT năm 20220.
    • Phương thức 2: Tổng điểm trung bình môn học 5 học kỳ trong tổ hợp xét tuyển phải đạt từ 18.0 điểm trở lên đối với ngành Công nghệ sinh học, Công tác xã hội, Xã hội học, Đông Nam Á học. Các ngành còn lại từ 20.0 điểm trở lên (không bao gồm điểm ưu tiên).
    • Phương thức 3: Tốt nghiệp THPT quốc tế có tổng điểm thi tốt nghiệp IB từ 26.0 trở lên.

    4.3. Chính sách ưu tiên và tuyển thẳng

    5. Học phí

    • Học phí dự kiến bình quân đối với sinh viên chính quy năm học 2022-2021 từ 17 triệu đồng đến 22 triệu đồng, tùy theo ngành học.
    • Lộ trình tăng học phí tối đa cho từng năm được thực hiện theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015.

    2. Chương trình Chất lượng cao

    C. ĐIỂM TRÚNG TUYỂN CÁC NĂM

    Điểm chuẩn của trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

    II. Chương trình chất lượng cao

    Khi có yêu cầu thay đổi, cập nhật nội dung trong bài viết này, Nhà trường vui lòng gửi mail tới: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Ý Nghĩa Tên Gọi Các Địa Danh Việt Nam
  • Tên Khủng Bố Nguyễn Trung Trọng Nghĩa Vừa Nhập Cảnh Về Việt Nam Đã Bị Bắt
  • Tên Nguyễn Thế Dũng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Trọng Hoàng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Lịch Sử Văn Minh Châu Âu (5): Phục Hưng – Khi Đại Bàng Vỗ Cánh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Gọi “Nha Trang” Có Nguồn Gốc Từ Đâu?
  • Thực Chất Tên Gọi Nha Trang Có Ý Nghĩa Gì?
  • Tóm Tắt Lịch Sử Singapore – Visit Singapore Trang Chính Thức
  • Khám Phá Những Điều Thú Vị Và Biểu Tượng Đặc Trưng Của Đất Nước Singapore
  • Ý Nghĩa Của Hoa Oải Hương Lavender – Loài Hoa Của Tình Yêu Chung Thủy
  • LỊCH SỬ VĂN MINH CHÂU ÂU (5): PHỤC HƯNG – KHI ĐẠI BÀNG VỖ CÁNH

    Tác giả: Tôn Thất Thông, CHLB Đức

    Bằng cách này hay cách khác, Phục hưng là thuật ngữ được dùng để diễn tả một khía cạnh đặc biệt của nền văn hóa châu Âu ở ngưỡng cửa năm 1500. Nền văn hóa đó khởi đầu cho lịch sử hiện đại châu Âu .

    Sử gia kinh tế R. Romano và A. Tenenti, giáo sư đại học Paris

    “Thời đại phục hưng” không phải là một thuật ngữ được sáng chế bởi người đương thời, mà được các nhà sử học thế kỷ 19 dùng để chỉ một giai đoạn lịch sử đặc thù ở cuối thời kỳ trung cổ châu Âu. Thuật ngữ tiếng Pháp “Renaissance” (có nghĩa là Hồi sinh – Rebirth) được nhà sử học Jules Michelet sử dụng lần đầu năm 1858. Hai năm sau, sử gia văn hóa Jacob Burckhardt người Thụy Sĩ thánh hóa nó trong tác phẩm kinh điển nổi tiếng với tựa đề “Văn hóa Phục hưng ở Ý”. Từ đó về sau, Renaissance dần dần trở thành ngôn ngữ quốc tế và phổ biến rộng trong các nước thuộc văn hóa la-tinh, mặc dù mỗi nước đều có thuật ngữ địa phương riêng và thỉnh thoảng cũng được sử dụng trong sách vở của họ. Riêng ở Ý, nơi sinh thành của phong trào phục hưng, thì thuật ngữ địa phương Rinascimento được lưu truyền phổ biến rộng.

    Nói đến phục hưng, trước hết chúng ta cần phân biệt vài thuật ngữ vốn dĩ có nội dung tương đối khác nhau, nhưng rất dễ lẫn lộn với nhau.

    Trước hết, trào lưu nghệ thuật phục hưng là tên gọi của trào lưu kế tiếp sau nghệ thuật Gothic vốn dĩ đã kéo dài từ thế kỷ 12 cho đến ngưỡng cửa năm 1500. Sau hơn một thế kỷ hưng thịnh, nghệ thuật phục hưng bắt đầu tàn lụi ở khoảng cuối thế kỷ thứ 16 và nhường chỗ cho trào lưu Baroque. Tuy chỉ là nghệ thuật nhưng trào lưu này là điểm khởi đầu cho một thời đại mới, thời đại phục hưng, chấm dứt xã hội trung cổ để bước vào thời hiện đại. Vì tầm quan trọng của trào lưu nghệ thuật này, chúng ta sẽ có một chương riêng cho nó.

    Thứ hai, phong trào phục hưng hay còn được gọi là thời đại phục hưng hoặc thời kỳ phục hưng để chỉ một trào lưu rộng lớn bao gồm nhiều mặt: văn hóa, nghệ thuật, triết học, xã hội, chính trị và khoa học. Phong trào này phát triển mạnh mẽ nhất vào thế kỷ 15 và 16 nhưng nó không có một biên giới rõ rệt lúc khởi đầu và lúc suy tàn. Tinh thần phục hưng vốn đã có nguồn gốc từ phong trào dịch thuật từ thế kỷ 12, nó trở lại và phát triển hưng thịnh trong thế kỷ 15/16, sau đó phong trào phục hưng còn để lại ảnh hưởng lâu dài lên châu Âu trong những thế kỷ tiếp theo. Rõ rệt nhất là phong trào khai sáng thế kỷ 17/18, vốn dĩ là sự hồi sinh của phong trào khai minh Hy Lạp được bắt đầu từ thời đại Protagoras thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, cho nên các học giả chuyên về văn minh cổ đại ào ạt di tản về phương Tây, mang theo tài liệu, sách vở và các công trình văn hóa, góp phần cho trào lưu học thuật mới phát triển mạnh. Giáo sư Ilan Rachum thì xem 1415 là điểm khởi đầu khi chủ nghĩa nhân bản đang hưng thịnh, đồng thời cũng là năm quan trọng trong lịch sử thời trung cổ với trận đánh lớn ở Agincourt. Vài sử gia khác thì xem năm sinh của nhà nhân bản tiên phong Francesco Petrarca (1304-1374) là khởi điểm; thời gian đó cũng có một biến cố lịch sử đặc biệt khác: Dante Alighieri bắt đầu viết tác phẩm bất tử Hài kịch thần thánh.

    Trở về với Protagoras thời cổ đại cũng có nghĩa là giương cao khẩu hiệu trứ danh nói trên. Ông đã thực sự đặt cơ sở ban đầu cho vấn đề nhận thức, một bước tiến quan trọng trong tư duy triết học.

    Cho nên khi các học giả phục hưng trở về với văn hóa cổ đại, với những điều phát hiện bất ngờ như tư tưởng của Protagoras, họ bỗng ngạc nhiên thấy rằng người Hy Lạp và La Mã hành xử một cách hoàn toàn khác, lo-gic hơn, gần gủi với con người thế tục hơn. Rõ ràng nhất là người La Mã, mặc dù vẫn có niềm tin vững chắc vào thần thánh, nhưng trước sau họ vẫn là những người có tinh thần trách nhiệm với chính bản thân mình, và sẵn sàng nhận lãnh mọi hậu quả của lỗi lầm do chính mình gây nên. Tuyệt vời biết bao khi con người sẵn sàng chấp nhận rủi ro để nắm lấy vận mệnh của mình. Ở đây chúng ta thấy rõ hơn một điều: nền triết học trừu tượng của Hy Lạp kết hợp với tinh thần thực dụng của người La Mã đã để lại dấu ấn lâu dài lên nền văn hóa, mà xã hội châu Âu còn thừa kế cho đến hôm nay.

    Tư tưởng Hy Lạp – La Mã cổ đại ấy tất yếu ảnh hưởng lên cách nhìn của con người phục hưng đối với guống máy cai trị. Họ khước từ quan niệm về một nhà nước thần quyền. Thay vào đó, một nhà nước thế tục và một xã hội thế tục cần được xây dựng lại, trong đó những con người thế tục như họ phải được nắm lấy toàn bộ trách nhiệm. Họ chấp nhận các lãnh đạo tôn giáo như những cố vấn, chứ không thể như là các lãnh chúa.

    Phải chăng chúng ta trong thế kỷ 21 hôm nay đã kế thừa tư tưởng của những người phục hưng để xây dựng các nhà nước dân chủ đang hiện hữu khắp nơi, dù rằng mỗi nước có những dạng thức dân chủ khác nhau, trình độ dân chủ cao thấp cũng khác nhau?

    Cũng cần nhận thức rằng, phong trào phục hưng trước hết là sự tôn vinh giá trị nghệ thuật và trí thức của thế giới cổ đại đa thần để mang vào áp dụng trong đời sống thực tế của xã hội Kitô, cho nên tính chất khoan dung của nó vô cùng lớn lao. Ngay cả một vài vị Giáo Hoàng không những cho phép mà còn trả công cho các nghệ sĩ phục hưng dùng các huyền thoại thời cổ đại đa thần để sáng tác nghệ thuật làm trang trí cho giáo đường và các công trình của giáo hội. Điều đó cũng nói lên sự nổi bật của các giá trị và sức thuyết phục cao trong nghệ thuật phục hưng.

    Dù khác nhau về tên gọi, nhưng sự phát triển ở các nước đều đi theo một sơ đồ tương đối giống nhau. Đầu tiên là giai đoạn đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người nhân bản mới mẻ và bên kia là xu hướng kinh viện đã thành truyền thống từ lâu; tiếp đến là tranh luận về hướng đi cụ thể trên nền tảng chung là trở về nghiên cứu nền văn minh cổ đại, vì tự bản thân các nhà kinh điển Hy Lạp vẫn còn nhiều khác biệt về nguyên lý cần được làm sáng tỏ; và sau cùng khi nền giáo dục nhân bản đã trở thành xu hướng chủ đạo, hướng đi và nội dung đã rõ ràng, thì phong trào địa phương hóa nổi lên, tức là sáng tác văn thơ, triết học, diễn giải kinh thánh bằng tiếng mẹ đẻ. Điều này đã làm cho sự phát triển ngôn ngữ quốc gia đi vào một khúc quanh mới: Văn phạm ngày càng chính xác, ngôn ngữ diễn đạt ngày càng tao nhã, văn chương thơ phú ngày càng thanh lịch và dễ đi vào lòng người. Việc phát triển văn hóa ở các nước châu Âu đi vào một giai đoạn mới với ngôn ngữ, nội dung và phong thái quốc gia được phóng lên bức phông phía trước, đi kèm theo đó là những hậu quả tích cực và tiêu cực tất yếu của nó lên chính trị và xã hội trên lục địa.

    Một trong những thành quả lớn của văn chương triết lý thời đại phục hưng là đã tạo nên một mẫu con người mới, với ý thức và phong cách sống vượt ra khỏi mọi khuôn phép truyền thống có sẵn. Đó là những con người hiểu biết sâu sắc chủ thể nhận thức của mình, lấy tự do cá nhân làm nền tảng cho mọi tư duy. Họ lấy cuộc đời thế tục làm điểm nhắm cho mọi cố gắng, đồng thời đưa thế giới thần thánh lùi vào sau hậu trường. Đấy là một thái độ chưa bao giờ có trong quá khứ. Văn nghệ sĩ thì đưa con người thế tục lên mặt tiền cuộc sống, sẵn sàng từ giã thế giới thần thánh với những đề tài nhàm chán không một chút sáng tạo. Giới học giả bình thường thì biết nhìn vào chiều sâu của tâm thức để định hướng cho suy nghĩ và hành động.

    Sử gia văn hóa Jacob Burckhard có một sự so sánh rất sống động về sự phát triển con người thời phục hưng. Chúng ta chưa bàn vào nội dung, chỉ riêng sự đa dạng trong các trào lưu triết học đó đã là sự đóng góp quan trọng của phong trào phục hưng, là bước khởi đầu chuẩn bị cho sự thăng hoa về mặt tư tưởng trong các thế kỷ sau này.

    Đặc biệt sự lên ngôi của Plato thay cho Aristotle, mà tư tưởng đã chiếm lĩnh châu Âu suốt hơn 1000 năm trước đó, là một bước ngoặc quan trọng, nó mở ra một phương hướng mới và chất lượng mới cho nghiên cứu triết học trong nhiều thế kỷ về sau. Không ít nhà nghiên cứu cho rằng “triết học Plato là cội nguồn tiến hóa của chính nền triết học châu Âu”, hoặc như Hegel: “triết học như là một khoa học được bắt đầu bằng Plato”.

    Sử gia kinh tế R. Romano và A. Tenenti, giáo sư đại học Paris 

    Nhà nhân bản tiên phong Francesco Petrarca là người đầu tiên diễn đạt cái đẹp và sự huyền bí của thiên nhiên một cách xuất thần bằng văn chương thơ phú. Năm 1333, Petrarca leo lên ngọn đồi Mont Ventoux, nhìn về phía tây là thung lũng màu mỡ sông Rhône, phía đông là rặng núi Alps trong nắng vàng rực rỡ. Tim ông gần như ngưng đập. Cái đẹp choán ngợp tâm hồn đã tạo nên một cảm giác mới lạ về cuộc sống. Ông viết “Tôi đứng đó, xúc động ngập tràn trong làn gió thoảng và khung trời mênh mông chung quanh. Tôi nhìn xuống dưới, mây như bao phủ tới chân. Tôi nhìn lên trên, rặng núi Alps dường như với được trong tầm tay”. Dù rất muộn màng, con người phục hưng đã học được từ thế giới cổ đại rằng, việc tìm tòi nghiên cứu các hiện tượng đang hiện hữu trong thiên nhiên có tính hấp dẫn hơn là tưởng niệm u hoài về một thế giới khác bên ngoài cuộc đời thế tục.

    Hình 1. Người Vitruvius (Sáng tác khoảng năm 1492 theo diễn giải của kiến trúc sư Hy Lạp Vitruvius: đặc tính cơ thể con người biểu diễn bằng những khái niệm toán học). Tác giả: Leonardo da Vinci

    Nguồn: Gallerie dell’Accademia, vùng công cộng

    Suốt nhiều thế kỷ trong quá khứ, giới trí thức trung cổ tương đối thỏa mãn với những nguồn kiến thức có sẵn, dựa trên các tài liệu rất hiếm hoi, chủ yếu từ các bản dịch sách kinh điển của Aristotle kèm theo diễn giải từ tu viện và các đại học theo truyền thống kinh viện. Nhưng bắt đầu từ thế kỷ 14 và 15, nguồn tài liệu đến từ Ả Rập và Byzantine ngày càng nhiều, tri thức ngày càng phong phú và đa dạng được lưu truyền từ các tác giả thuộc nhiều ngành khác nhau, đại biểu cho nhiều xu hướng khác nhau, và may mắn thay, nhiều lúc mâu thuẫn nhau. Điều này càng kích thích tính tò mò và óc phê phán của học giả phục hưng. Họ tiếp nhận tri thức mới không bằng thái độ “học” như trước, mà nghiên cứu chúng một cách khách quan như nguồn tham khảo, rồi so sánh với những quan sát riêng để đưa ra phán đoán cuối cùng. Họ dần dần từ bỏ phong cách làm khoa học thời trung cổ, thậm chí phản biện và từ chối tri thức của một vài thần tượng đã chiếm ngự thế giới học giả suốt nhiều thế kỷ. Sự xuống ngôi của Aristotle và Ptolemy chỉ là vài thí dụ.

    Điều đó có tác động rõ ràng nhất trong lĩnh vực khoa học tự nhiên như thiên văn, động vật, thực vật, khoáng chất, giải phẩu, y khoa, toán và vật lý. Trong các lĩnh vực này, chúng ta chứng kiến sự phát triển không ngừng về kiến thức và tiến bộ trong suốt một thế kỷ. Từ Copernicus, Tycho Brahe, Paracelsus, Vesalius, Kepler và cuối thế kỷ 16 là Galileo Galilei, người khai sinh ra nền khoa học hiện đại với phương pháp tổng hợp giữa toán học và vật lý. Những học giả này đạt đến các phát minh quan trọng cũng nhờ lòng dũng cảm và phong cách tự do, biết chọn lọc để từ giã những nhân vật đầy ảnh hưởng của văn minh cổ đại. Lấy thí dụ sự từ giã tư tưởng Aristotle. Các nhà nhân bản .

    Tinh thần khoa học bắt đầu từ lúc con người từ bỏ việc nhận thức sự vật bằng cảm nhận và niềm tin mà phải xem xét thật sự bản chất của hiện tượng, tìm mối liên hệ và qui luật chuyển động của chính bản thân sự vật, nếu cần thì thử nghiệm để chứng minh. Mục đích cuối cùng là đưa ra những kết luận có căn cứ. Tinh thần này khuyến khích nhà khoa học từ bỏ những tiên tri trừu tượng của thần học. Dù sùng đạo hay không, người khoa học có xu hướng từ bỏ thế giới thần thánh và trở về với đời sống thế tục và con người thế tục.

    Cho nên cũng là điều dễ hiểu, khi tinh thần nghiên cứu khoa học tự nhiên bắt đầu bằng sự phản biện các học thuyết thiếu căn cứ đã bám rễ trong giới học thuật cả thiên niên kỷ trước, kết hợp với lòng dũng cảm, sẵn sàng thách thức sự chống đối thậm chí đe dọa cấm đoán cũng như kết án của giáo hội và hàng giáo phẩm. Trước hết, chúng ta phải kể đến nhà học giả Ba Lan Nicolaus Copernicus (1473-1543), người khai sinh cho tinh thần nghiên cứu khoa học trên lục địa châu Âu. Ông đưa ra luận thuyết cho rằng, vũ trụ bao gồm nhiều hành tinh kể cả quả đất, và chúng chuyển động chung quanh mặt trời.

    Câu hỏi mặt đất phẳng hay cong, quả đất hình khối hay hình cầu, điều đó thì không có gì để bàn cãi, nhất là sau khi đoàn thám hiểm Magellan đi hết vòng quanh quả địa cầu. Nhưng câu hỏi khác quan trọng hơn chưa đi đến chung cuộc là, quả đất đứng yên hay chuyển động? mặt trời xoay quanh quả đất hay trái đất xoay quanh mặt trời? Aristotle, Ptolemy và hệ thống triết lý thần học Kitô đều có phán đoán chắc chắn về lý thuyết địa tâm: Quả đất là trung tâm của vũ trụ, mọi hành tinh khác kể cả mặt trời đều xoay quanh quả đất. Điều đó được xem như chân lý, không ai dám bàn cãi từ hơn 1000 năm trước.

    Chưa hề biết thế nào là kính viễn vọng, mà chỉ bằng trực giác, Copernicus trước hết đã phát hiện trạng thái mà ông gọi là “dường như chuyển động” của các hành tinh. Bằng sự tò mò, óc quan sát, qua thử nghiệm và lòng kiên nhẫn cao độ, Copernicus tiếp tục tìm hiểu và đi đến một kết luận chấn động rằng, thực sự có một chuyển động tương đối giữa các hành tinh và chúng chuyển động chung quanh mặt trời, điều mà lý thuyết cơ học của Isaac Newton (1642-1726) hơn 100 năm sau mới có một định nghĩa chính xác. Nhưng con đường dẫn đến cơ học Newton cũng xuất phát từ tư tưởng tiên phong của Copernicus không thừa nhận học thuyết của Copernicus, khi nghe ông thuyết giảng rằng mặt trời, chứ không phải quả đất là trung tâm của vũ trụ. Cả vị Giáo hoàng kế nhiệm Paul III cũng thế. Nhà thần học tin lành Martin Luther thì phản bác với trích dẫn lời nguyền của đấng sáng tạo Joshua theo diễn giải Thánh Kinh. Đặc biệt là mục sư Philipp Melanchthon xem lý thuyết của Copernicus là tà giáo, chứa đựng những tư tưởng mới lạ, tội lỗi và vô thần. Tác phẩm kinh điển “Về sự chuyển động vòng của các hành tinh.

    Sự vươn lên của trào lưu nghiên cứu khoa học tự nhiên cũng là sự khởi đầu đi xuống của giáo hội. Các học giả nghi ngờ kiến thức và vai trò đại diện Thượng Đế của các vị giáo hoàng, họ cũng nghi ngờ tính chính danh của giáo hội trong vai trò phục vụ cộng đồng và quãng bá phúc âm. Ngay cả những lời tiên tri trong Thánh Kinh cũng không còn giá trị tuyệt đối như trước. Tinh thần phê phán, phương pháp tư duy và lòng dũng cảm của Nicolaus Copernicus đã mở ra một chân trời mới cho nền khoa học hiện đại. Khám phá của Nicolaus Copernicus về vũ trụ với việc phản bác lý thuyết địa tâm của Aristotle và Ptolemy có giá trị cao hơn một cuộc cách mạng về khoa học tự nhiên.

    Nicolaus Copernicus chết năm 1543, nhưng cuộc cách mạng Copernicus vẫn mở ra cho nhân loại khả năng tiếp tục khám phá vũ trụ, một loại hoạt động khoa học kéo dài đến thế kỷ 21 ngày nay vẫn chưa chấm dứt. Nhưng đấy là chuyện không trung, vũ trụ. Ở dưới đất và ngay trong vùng tận cùng bí mật mà con người chưa bao giờ nhìn thấy cũng mở ra một cánh cửa mới, cũng trong năm 1543: Lần đầu tiên, vị bác sĩ giải phẩu người Hà Lan Andreas Vesalius (1514-1564) công bố một hình vẽ chi tiết về cấu trúc bên trong và hoạt động của cơ thể con người. Tác phẩm của Vesalius “Cấu tạo cơ thể con người” xuất bản năm 1543 đã mở đầu cho ngành phẩu thuật hiện đại. Tác phẩm đó xứng đáng là một cuộc cách mạng vì nó chấm đứt vai trò huyền thoại Galenus của Hy Lạp trong ngành phẩu thuật, điều chỉnh lại toàn bộ nền khoa học phẩu thuật đã có từ trước, và hoàn tất nền móng vật lý cho ngành y học hiện đại người Hungary sử dụng tri thức vật lý, cơ khí và luyện kim để biến nó thành đại bác công nghiệp để công phá và triệt hạ Constantinople năm 1453, thành lũy kiên cố nhất của đế chế Byzantine. Biến cố này đã vĩnh viễn thay đổi mọi chiến lược quân sự trước đó trong lịch sử loài người. Trung Hoa cũng đã phát minh kỹ thuật in mộc bản từ thế kỷ thứ chín, nhưng chỉ sử dụng cho các cáo thị triều đình và một ít sách vở không đáng kể. Phải đợi đến lúc Johannes Gutenberg sử dụng kiến thức cơ khí để phát minh máy in, phát minh kỹ thuật đúc chữ bằng chì và kẽm với độ chính xác cao và kết hợp với một ý chí đổi đời mãnh liệt để làm cuộc cách mạng vĩ đại ngành in ấn, góp phần tham gia vào việc quãng bá tri thức rộng rãi với giá thành thấp phù hợp cho mọi người từ giàu tới nghèo. Kim nam châm vốn không xuất xứ từ châu Âu, nhưng với ý chí mạo hiểm của người đi biển kết hợp với kiến thức mới về cơ khí, họ đã chế tạo được các thiết bị viễn dương, nhờ thế mà Columbus mới đến được châu Mỹ năm 1492, và đoàn tàu Magellan có thể đi được vòng quanh trái đất những năm 1519-1522 v.v…

    Nghiên cứu khoa học tự nhiên đã đưa ra những giả thuyết đôi khi xuất phát từ những quan sát tình cờ, rồi được chứng minh để tổng kết thành các định luật toán học, vật lý. Từ đó những bộ óc thông minh đi kèm với năng khiếu kỹ thuật đã dẫn dắt người châu Âu bước vào kỷ nguyên hiện đại. Tất cả những biến cố vĩ đại nói ở trên đều xảy ra trong thời đại phục hưng, mà nếu không có tinh thần khoa học và sáng kiến kỹ thuật thì cũng khó lòng trở thành hiện thực.

    Phục Hưng và giáo hội Kitô

    Niềm tin vào Kitô giáo trước sau vẫn là tinh thần quán xuyến trong đời sống xã hội. Chỉ trừ sau những đại họa thiên nhiên, lòng tin có ít nhiều suy giảm. Điều này chúng ta thấy rõ sau các tai họa lớn nhỏ xảy ra suốt thế kỷ 14: mất mùa hạn hán đi kèm với nạn đói chết chóc vào đầu thế kỷ, cái chết đen, và tiếp theo những cơn đại dịch sau đó trong hậu bán thế kỷ 14. Sau mỗi đại họa như thế, người ta đặt câu hỏi, tại sao Chúa sáng tạo ra loài người mà có thể nhẫn tâm sinh ra đại họa để thử thách tín đồ. Lòng tin vào Chúa vì thế có suy giảm, nhưng khi đại họa qua đi, mọi chuyện vẫn đâu vào đấy, ít người đặt lại vấn đề niềm tin.

    Nhưng điều đó không ngăn cản những nhà phục hưng âm thầm hoặc công khai phê phán giáo hội Kitô. Họ không đặt lại niềm tin vào Thượng Đế, mà dưới nhiều khía cạnh khác nhau, họ phê phán giáo hội đã đóng sai vai trò của tổ chức đại diện cho Thượng Đế trên trần gian, và cả Giáo Hoàng cũng không tránh được cách nhìn phê phán của người phục hưng. Vài thí dụ tiêu biểu: Nhà thần học Martin Luther, người phê phán giáo hội La Mã và mở đầu cho phong trào cải cách tôn giáo đầu thế kỷ 16. Cùng thời gian đó, nhà nhân bản Desiderius Erasmus dù cực kỳ sùng đạo cũng không ngần ngại sử dụng các tác phẩm văn học của mình để chế diễu cay độc những tội lỗi bên trong giáo hội và mang các vị trong hàng giáo phẩm cao cấp ra làm trò cười dẫn linh hồn về Thượng Đế và đạt đến một viễn tượng huyền bí, nơi mọi sáng tác thi phú đều chấm dứt. Tác phẩm “Monarchia” (Chế độ quân chủ) bị giáo hội đưa vào danh sách cấm lưu hành. Thế cộng sinh giữa chế độ quân chủ và giáo hội Kitô bắt đầu đi vào giai đoạn mới, một cuộc khủng hoảng mới dường như không có lối ra.

    Thêm vào đó, sự vươn dậy của trào lưu nghiên cứu khoa học tự nhiên trong thời đại phục hưng cũng vô hình trung làm cho uy tín của giáo hội ngày càng đi xuống trong giới học giả, nhất là trong thế kỷ 16 và 17, khi giáo hội chính thức phản bác, cấm lưu hành các công bố khoa học hoặc tài liệu phản biện về tôn giáo và chính trị, thậm chí lên án và trừng phạt một số nhà khoa học tiếng tăm. Nicolaus Copernicus, Galilleo Galilei chỉ là vài thí dụ. Đấy là chưa kể, Dante Alighieri trước đó đã phải sống lưu vong hơn 20 năm, cũng do tác động ít nhiều của vị Giáo Hoàng đương thời.

    Sự giảm sút niềm tin của giới khoa học vào giáo hội có nguyên do rất sâu xa: Thánh Kinh và giáo lý Kitô đã đặt một ranh giới không thể vượt qua cho những người muốn tìm tòi nghiên cứu: Khoa học phải ưu tiên phục vụ cho niềm tin, còn chuyện đi tìm chân lý chỉ đóng vai trò thứ yếu. Giờ đây người thế tục tự giải phóng mình ra khỏi ràng buộc đó, và câu hỏi về tôn giáo bị đẩy lùi vào hậu trường. Họ đặt cho khoa học nhiệm vụ phải phá vỡ chiếc cầu nối đến niềm tin tôn giáo, chứ họ không thể thuần phục niềm tin và từ bỏ khát vọng tìm tòi khám phá tri thức mới. Lý tưởng của người sùng đạo nhiệt thành về cuộc đời khổ hạnh không còn là một giá trị cho con người có học thức trong thời đại phục hưng noi theo. Giáo hội đã sa đọa đến độ mà John Wiclif còn cho rằng thế giới Kitô sẽ thiêng liêng hơn, nếu không có Giáo Hoàng và các Đức Hồng Y.

    Điều đó cũng có thể cắt nghĩa được. Tôn giáo là một hệ thống mang tính chất văn hóa và ý thức hệ của xã hội. Một hệ thống như thế khó lòng chuyển hóa triệt để, nếu không có những biến cố chấn động từ bên trong và sự trợ lực từ bên ngoài của các lực lượng mới thành hình có đầy đủ sức mạnh và ý chí hành động. Châu Âu trong thế kỷ 14 và 15 vẫn còn trong quá trình củng cố và phải đối phó với nhiều vấn đề có thể đe dọa sự tồn tại của các quốc gia.

    Sức mạnh của giáo hội và uy tín của Giáo Hoàng bắt đầu lung lay sau khi giới học giả tiếp cận ngày càng nhiều triết học Hy Lạp cổ đại, vốn dĩ được phát triển trong xã hội đa thần và xem “con người là thước đo của vạn vật” (Protagoras), chứ không phải thần thánh hướng dẫn cuộc sống trên trần thế. Khi chủ nghĩa nhân bản trở thành một trào lưu văn hóa sống động kể từ đầu thế kỷ 15, con người suy nghĩ độc lập hơn, hành động theo lý tính chứ ít thiên về niềm tin. Bước sang thời đại phục hưng, hệ thống triết học phong phú hơn, tinh thần nghiên cứu khoa học phát triển mạnh hơn, ý thức phản kháng cao hơn, cho nên vai trò Giáo Hoàng ngày càng lu mờ và sức mạnh của giáo hội dường như bắt đầu sụp đổ. Phong trào phục hưng đã hoàn tất những bước chuẩn bị sau cùng. Cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther khởi động chắc hẳn không phát triển mạnh mẽ như chúng ta biết, nếu không có những thành quả của phong trào phục hưng đi trước lót đường.

    Từ một giáo hội xa hoa, đầy quyền lực và sa đọa cho đến lúc phải cải cách, quá trình cũng kéo dài mất nhiều thế kỷ. Thực thể đó cho chúng ta một bài học muôn thuở rằng, không có một tổ chức thoái hóa nào có thể tự cải cách, xuất phát từ lòng tốt của những con người trong đó, mà áp lực từ bên dưới là yếu tố cần thiết để thúc đẩy quá trình chuyển hóa. Những con người phục hưng đã tạo được sức ép cần thiết để buộc giáo hội phải cải cách. Nhưng vì cuộc cải cách đến quá chậm, cho nên cuối cùng thế giới Kitô bị phân hóa làm nhiều tông phái khác nhau cùng thờ một Chúa. Đấy là chưa kể bao nhiêu cuộc chiến tranh đẫm máu sau đó vì hiềm khích tôn giáo, mà thảm khốc nhất là cuộc chiến tranh hủy diệt trên toàn châu Âu kéo dài 30 năm từ 1618 đến 1648. Nguồn gốc đưa đến hậu quả chia rẽ này và những thảm họa đi kèm không phải là ý muốn từ bỏ niềm tin Kitô, mà là sự phản kháng chống lại đời sống xa hoa sa đọa và sự lạm dụng quyền lực của giáo hội La Mã. Sau thời đại phục hưng, người ta chỉ gọi là giáo hội Thiên Chúa Giáo. Trong thực tế thì vẫn còn một thế giới Kitô với nhiều tông phái, nhưng nếu hiểu giáo hội là tổ chức có vai trò lãnh đạo tinh thần cho giáo dân, thì cụm từ giáo hội Kitô không còn ý nghĩa và trên thực tế nó cũng không còn tồn tại kể từ cuối thế kỷ 16.

    Phục hưng và ý thức quốc gia

    Khi thế kỷ 14 chấm dứt, châu Âu bắt đầu bước vào con đường dẫn đến chế độ tập trung. Thế kỷ 15 tiếp nối và hoàn thiện xu hướng đó, một xu hướng còn tiếp tục phát triển suốt vài thế kỷ tiếp theo. Thế kỷ 15 đã làm sống dậy những sáng kiến và quan tâm về các giá trị phổ quát, đồng thời các tính chất đặc thù địa phương dần dần biến mất, để nhường chỗ cho sự hợp nhất thành một tổng thể rộng lớn hơn chưa bao giờ có trước đó, ấy là ý thức về quốc gia và nhà nước. Quá trình này được hoàn tất trong thế kỷ 16 và 17, nhưng các bước chuẩn bị đã được bắt đầu từ thế kỷ 15. Medici của Ý hoặc Fugger của Đức là vài thí dụ.

    Chúng ta thử lướt qua vài đặc trưng trong quá trình phát triển ý thức quốc gia ở một vài nước lớn của châu Âu.

    Ở bán đảo Ý, tư tưởng quốc gia xuất phát từ sáng kiến xây dựng thế mạnh về thương mại đạt được từ các cộng hòa đang dẫn đầu châu Âu, đồng thời duy trì vị trí lãnh đạo của các trung tâm văn hóa nghệ thuật đang còn nằm rải rác ở nhiều cộng hòa khác nhau, mỗi nơi có một nhà nước thành phố khác nhau. Với dân số chưa tới một triệu người, các cộng hòa riêng lẻ đó không tạo được sức mạnh cần thiết, đủ để đối chọi với với các thế lực lớn đang bắt đầu ngoi lên trên lục địa. Thống nhất nước Ý là một xu hướng tất yếu, được bắt đầu khởi dậy từ cuối thế kỷ 15. Sáng kiến này trong các cộng hòa nhỏ ngày càng rõ nét, giúp cho các vùng khác của châu Âu tìm đường thoát khỏi gọng kìm của một bên là hệ thống phong kiến của nhà nước thế tục và bên kia là bóng mây của hệ thống quyền lực sa đọa trong nhà nước thần quyền. Riêng tại Ý, sự chuyển hóa đến quá chậm cho nên một vài vùng của Ý bị Pháp và Tây Ban Nha thôn tính cuối thế kỷ 15, và Ý phải đợi thêm vài thế kỷ nữa để giấc mơ thống nhất quốc gia mới trở thành hiện thực.

    Ở Pháp và Anh, ý thức quốc gia đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn chiến tranh 100 năm độc lập nhau. Phải đợi đến 1492, khi hai vợ chồng Ferdinand II (Vua xứ Aragon) và Isabella I (Hoàng hậu xứ Castilla) đánh bạt đội quân Islam ra khỏi lãnh địa cuối cùng là Granada, chấm dứt gần 800 năm hiện diện của khối Islam trên bán đảo Iberia, Vương quốc Tây Ban Nha mới trở thành một nước thống nhất với tên gọi Kingdom of Spain cho tới hôm nay. Mặc dù các ngôn ngữ địa phương như Catalian, Galician, Basque vẫn còn tồn tại ở các địa phương đó cho đến bây giờ, ngôn ngữ Castillian mà chúng ta quen gọi là Spanish trở thành ngôn ngữ quốc gia thống nhất.

    Qua lịch sử của các nước kể trên trong thế kỷ 15, chúng ta có thể kết luận rằng, ý thức quốc gia và tinh thần yêu nước phát triển mạnh mẽ nhất khi họ phải tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm. Đoàn kết là tính chất cần thiết để tạo nên sức mạnh đối kháng. Nhưng khi chiến tranh chống ngoại xâm chấm dứt thành công, không ai bảo đảm rằng ý thức quốc gia sẽ tiếp tục tồn tại và một quốc gia thống nhất sẽ thành hình. Giữa những vùng gần gũi nhau, cùng chung tiếng nói và phong tục tập quán giống nhau, họ cần một chất keo vững chắc hơn để nối kết các thành viên lại với nhau. Chất keo đó chính là kho tàng văn hóa tích lũy được từ nhiều thế hệ. Ngôn ngữ và phong tục tập quán phải được thể hiện thành những tác phẩm đọc được, thấy được, sờ mó được. Đó là kho tàng văn chương, thơ phú bằng tiếng mẹ đẻ, là hội họa, điêu khắc của người “đồng hương” sáng tác, là các công trình kiến trúc xuất hiện lồ lộ trong địa phương. Kho tàng văn hóa ấy là chiếc gương soi để người dân có thể nhìn thấy bóng mình phản chiếu trong các tác phẩm. Văn hóa nghệ thuật phục hưng đã đặt nền móng vững chắc ban đầu để làm tròn chức năng đó.

    Ý thức quốc gia được đánh thức lần đầu nhưng vô cùng mạnh mẽ từ những áng văn thơ sáng tác bằng tiếng Ý của Dante Alighieri và sau đó là Francisco Petrarca và Giovanni Boccaccio. Hai tập thơ bất tử của Dante – Cuộc đời mới (Vita Nova) và Hài kịch thần thánh (Divina Commodia) – và những tác phẩm nổi danh khác của Petrarca và Boccaccio là những biểu tượng cho trào lưu sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ không những trên nước Ý mà dần dần lan tỏa lên các nước khác trên lục địa châu Âu.

    Kể từ thế kỷ 15, la-tinh cổ điển trở thành ngôn ngữ ngoại giao thống nhất tại châu Âu, thậm chí có những tác giả thành danh – thí dụ như nhà thơ Anh John Milton.

    Kể từ đây, mỗi nước có một nền văn hóa độc đáo riêng để người dân hãnh diện, có tiếng nói riêng, chữ viết riêng. Ý thức quốc gia đã định hình rõ rệt trong thế kỷ 17, một xu hướng không thể nào đảo ngược trên mọi vùng châu Âu. Từ đó về sau, lịch sử cho chúng ta thấy rằng, nước nào mà ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc không đủ mạnh, nước đó không trước thì sau cũng sẽ bị kẻ khác đến dòm ngó và thôn tính.

    Nhưng dù ý thức quốc gia với biên giới rõ ràng của nó ngày càng cao, và cho dù tiếng nói cũng khác nhau, điều đó cũng không ngăn cản sự giao lưu văn hóa giữa các vùng xa xôi trên lục địa nhờ sự gắn kết từ lâu thông qua một ngôn ngữ học thuật giống nhau là tiếng la-tinh và một niềm tin Kitô giáo giống nhau. Chất keo gắn kết tạo được trong thế kỷ 15 và 16 rõ ràng được chắt lọc từ các thành quả của phong trào phục hưng.

    Tác giả: Tôn Thất Thông, CHLB Đức

    (Độc giả có quyền đăng lại hoặc trích dẫn không giới hạn, nhưng cần ghi rõ nguồn. Để theo dõi nội dung này một cách đầy đủ hơn, xin mời quí vị tham khảo các sách về “Văn minh châu Âu” của cùng tác giả)

    Tài liệu tham khảo

    1. Böckle, Franz & Franz-Xaver Kaufmann, Karl Rahner, Bernhard Welte chủ biên

    Niềm tin Kitô trong xã hội hiện đại, Tập 19 (Christlicher Glaube in moderner Gesellschaft, Teilband 19). ISBN 3-451-19219-5  

    1. Brucker, Gene

    Florence trong thời kỳ phục hưng (Florenz in der Renaissance – Claudia Preuschoft dịch từ tiếng Anh: Renaissance Florence). ISBN 3-499-55480-1

    1. Bùi Văn Nam Sơn

    Trò chuyện triết học. Nhà xuất bản Tri Thức, 2012

    1. Burckhardt, Jacob

    Văn hóa phục hưng ở Ý (Die Kultur der Renaissance in Italien). ISBN 3-933-20389-9

    1. Burke, Peter

    Thời kỳ Phục hưng ở Ý. Lịch sử xã hội của nền văn hóa giữa truyền thống và phát minh (Die Renaissance in Italien. Sozialgeschichte einer Kultur zwischen Tradition und Erfindung – Reinhardt Kaiser dịch từ tiếng Anh: Culture and Society in Renaissance Italy). ISBN 3-8031-3521-4

    1. Challoner, Jack

    1001 phát minh thay đổi thế giới (1001 Inventions that changed the world). ISBN 978-1-84403-611-0

    1. Durant, Will

    Lịch sử văn minh 6: Thời đại cải cách (The story of civilization 6: The Reformation). ISBN 1-56731-017-6

    1. Durant, Will

    Huy hoàng và sụp đổ của phong trào phục hưng Ý (Glanz und Verfall der italienischen Renaissance – Margrit Lang dịch từ tiếng Anh). ISBN 3-548-36108-0

    1. Fischer, Ernst Peter

    Aristotle, Einstein và những người khác (Aristoteles, Einstein & Co.). ISBN 3-492-03778-X

    1. Flasch, Kurt

    Đọc và hiểu Dante (Endlich, Dante lesen und verstehen. Marc Reichwein phỏng vấn GS Kurt Flasch). http://www.welt.de ngày 25.5.2015

    1. Guizot, François

    Lịch sử Văn minh châu Âu (The History of Civilization in Europe – William Hazlitt dịch từ tiếng Pháp: Histoire Générale de la Civilisation en Europe). Penguin Books 1997

    1. Hay, Denys

    Phục hưng – Trở về thời cổ đại (Die Renaissance – Die Rückwende zur Antik – Siglinde Summerer dịch từ tiếng Anh). ISBN 3-426-03630-4

    1. Höffe, Otfried

    Những nhà kinh điển của triết học, Tập I (Klassiker der Philosophie I). ISBN 3-406-08048-0

    1. Jardine, Lisa

    Sự huy hoàng của Phục Hưng (Der Glanz der Renaissance. Anne Spielmann dịch từ tiếng Anh: Wordly Goods. A new history of the Renaissance). ISBN 3-471-79360-7

    1. Johnson, Paul

    Thời Phục Hưng – Một lịch sử tóm tắt (The Renaissance – A short history). ISBN 978-0-8129-6619-0

    1. Kuester, Hildegard chủ biên & nhiều tác giả

      Thế kỷ 16 – Thời phục hưng ở châu Âu (Das 16. Jahrhundert – Europäische Renaissance). ISBN 3-7917-1468-6

    2. Maddison, Angus

    Kinh tế thế giới – Tập I và II (The World Economy – Volume I & II). ISBN 92-64-02261-9

    1. Rachum, Ilan

    Từ điển tường giải phong trào phục hưng (Enzyklopädie der Renaissance – Hermann Teifer dịch từ tiếng Anh: The Renaissance: An Illustrated Encyclopaedia. ISBN 3-7611-0725-0

    1. Romano, Ruggiero & Tenenti, Alberto

    Thành tố cơ bản của thế giới hiện đại (Die Grundlegung der Modernen Welt – Helga Brissa, Heinz Wismann và Egbert Türk dịch từ tiếng Ý: Alle origini del mondo moderno). ISBN 3-828-90400-9

    1. Samhaber, Ernst

    Lịch sử châu Âu (Geschichte Europas). ISBN 3-771-30169-6

    1. Schmid, Marion chủ biên & nhiều tác giả

    Nhân bản, Phục hưng, Cải cách – các nhà nghiên cứu và triết gia (Humanismus, Renaissance und Reformation – Forscher und Philosophen). ISBN 3-596-17023-0

    1. Stevenson, Leslie; Haberman, David L. & Wright, Peter M.

    Mười hai học thuyết về bản tính con người (Lưu Hồng Khanh dịch từ tiếng Anh: Twelve Theories of Human Nature). ISBN 978-604-956-006-4

    1. Stützer, Herbert Alexander

    Phong trào phục hưng ở Ý (Die Italienische Renaissance). ISBN 3-7701-0990-2

    1. Van Doren, Charles

    Lịch sử của tri thức (Geschichte des Wissens – Anita Ehler dịch từ tiếng Anh: A history of knowledge). ISBN 3-764-35324-4

    1. Vorländer, Karl

    Triết học thời kỳ phục hưng (Philosophie der Renaissance). ISBN 3-499-55242-6

     

    Ghi chú

    , R. Romano và A. Tenenti, trang 144. “Xứ hoàng hôn” (Abendland – Occident) là thuật ngữ quen thuộc để chỉ vùng văn hóa Tây Âu để phân biệt với “Xứ rạng đông” (Morgenland – Orient).

    , P. Johnson trang 3

    , D. Hay trang 93

    , I. Rachum trang 442-443

    , H. A. Stützer trang 24

    , C. Van Doren trang 219-220. Câu nói của Protagoras là: “Der Mensch ist das Maß aller Dinge (Man is the measure of all things)”.

    , Bùi Văn Nam Sơn trang 49

    , C. Van Doren trang 219

    , P. Johnson trang 179-180

    , H. Kuester và B. K. Vollmann, trang 11-12

    , J. Burckhardt trang 161

    , F. Böckle & Alexander Schwan trang 9 (Humanismen und Christentum)

    , O. Höffe & Jürgen Mittelstraß, trang 38

    , R. Romano và A. Tenenti, trang 177

    , E. Samhaber trang 314

    , E. Samhaber trang 315

    , H. Kuester và Benedikt Konrad Vollmann, trang 10-11

    , M. Schmid và Pascual Jordan, trang 97

    Xem tài liệu Xem tài liệu Xem tài liệu Xem tài liệu Ferdinand Magellan dẫn đầu đoàn thuyền 5 chiếc với 237 người để thám hiểm vòng quanh quả đất. Cuối cùng, Magellan chết trong một cuộc xung đột với dân bản xứ ở Phi Luật Tân, nhưng phó đoàn Sebastian Del Cano đã đưa được chiếc tàu cuối cùng Victoria với 31 thủy thủ đi đúng một vòng quả đất trở về khởi điểm Sevilla, Tây Ban Nha.

    Thật ra, không có một thống kê nhất quán về số người chết. Người ta phỏng đoán bằng những số liệu tượng trưng đâu đó giữa 1/4 đến 1/2 dân số bị tử vong.

    , I. Rachum trang 149-150 tham khảo từ “Morias enkomion” và “Colloquia” của Erasmus

    , C. Van Doren trang 170. Câu trên là ý tưởng của Dante trong “Divina Commedia”

    , K. Flasch. Giáo sư Flasch là tác giả bản dịch “Commodia” ra tiếng Đức (Commodia. In deutscher Prosa) xuất bản năm 2011, Fischer Verlag.

    , C. Van Doren trang 208

    , E. Samhaber trang 318

    , R. Romano và A. Tenenti, trang 111

    Xem tài liệu Xem tài liệu Xem tài liệu Cuộc chiến tranh kéo dài từ 1337 đến 1453. Trong cuộc chiến đó, Jeanne d’Arc vươn lên như một thiên thần, góp phần xây dựng bản sắc dân tộc Pháp trong thế kỷ 15. Jeanne d’Arc sau này được phong Thánh và tôn vinh là “huyền thoại quốc gia” Pháp.

    Xem tài liệu Xem tài liệu [24], C. Van Doren trang 191-192

    Bình chọn

    Share this:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiwi Và Tên Gọi Quả Lý Gai Trung Quốc
  • Ý Nghĩa Hình Xăm Gia Cát Lượng
  • 7 Anh Hùng Tam Quốc: Cái Tên Nói Lên Số Phận, Chu Du Đặc Biệt Nhất
  • Cách Đặt Tên Hay Cho Con Trai Họ Trần Năm 2022 Tân Sửu Đẹp Và Ý Nghĩa Nhất • Adayne.vn
  • 22 Tháng Mười Một Thánh Cecilia (Thế Kỷ Iii) – Huynh Đoàn Giáo Dân Đa Minh
  • Cách Đặt Tên Đại Phú Đại Quý Cho Con Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Sinh Con Trai Năm 2022 Nên Đặt Tên Bé Thế Nào?
  • Tử Vi Khoa Học Đặt Tên Cho Con
  • Cách Đặt Tên Con Theo Tử Vi Khoa Học 2022 Chuẩn Nhất
  • Cách Đặt Tên Cho Con Theo Khoa Học Hợp Lá Số Tử Vi
  • Cách Đặt Tên Con Theo Phong Thủy Ngũ Hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ Mang Lại May Mắn Thành Công Cho Các Bé
  • 1. Đặc điểm tính cách của bé sinh năm Bính Thân 2022

    Theo lịch âm, năm con Khỉ (năm Bính Thân) bắt đầu từ ngày 8-2-2016 đến hết ngày 27/1/2017. Sinh con năm 2022, năm Bính Thân, bé con nhà bạn thuộc mạng Hỏa (Sơn hạ hỏa, Lửa dưới chân núi).

    Xếp thứ 9 trong bảng thứ tự 12 con giáp, khỉ là động vật cực kỳ thông minh, nhanh nhẹn. Vì vậy, không có gì khó hiểu nếu đứa trẻ sinh năm 2022, năm Bính Thân, sẽ sở hữu những đặc tính tuyệt vời này.

    Khỉ chính là tượng trưng cho sự tốt lành, may mắn. Hình ảnh của khỉ thường được điêu khắc hoặc dán trên các bức tường và cửa ra vào với mục đích kêu gọi phước lành và niềm vui.

    Điểm mạnh của bé Khỉ không gì khác đó chính là sự sống động, linh hoạt, nhanh nhẹn và cực kỳ thông minh, lém lỉnh. Đôi khi, ba mẹ sẽ rất bất ngờ với những ưu điểm mang đặc tính khá thất thường này của bé. Điều này đồng nghĩa trong trường hợp tưởng chừng không giải quyết nổi, bé sẽ có cách vượt qua.

    Bé tuổi Khỉ thích thể thao, năng động và lúc nào cũng muốn chạy nhảy. Về mặt quan hệ, xã hội, ba mẹ cứ yên tâm vì bé rất tự tin, hòa đồng.

    Chính từ những đặc tính này, Khỉ con luôn có khát khao mạnh mẽ để tìm tòi và khám phá những mới mẻ trong cuộc sống. Khi giao tiếp, bé không thích bị kiểm soát nhưng lại rất muốn thể hiện mình. Trong học tập hay công việc, Khỉ con luôn chứng tỏ mình là người sáng tạo.

    Bên cạnh các ưu điểm kể trên, Khỉ con vẫn tồn tại một số khuyết điểm. Bé sinh năm 2022, năm Bính Thân, không được kiên nhẫn cho lắm. Muốn gì cũng muốn ngay và luôn, nhưng khi đạt được rồi lại cả thèm chóng chán. Thiếu sót của Khỉ con còn có tính ganh tỵ, nghi ngờ, khá ích kỷ và kiêu ngạo. Nếu khắc phục được các điểm yếu này, bé sẽ đạt được thành tích đáng gờm.

    Đặt tên cho con theo Tam Hợp

    Tam Hợp được tính theo tuổi, do tuổi Thân nằm trong Tam hợp Thân – Tý – Thìn nên những cái tên nằm trong bộ này đều phù hợp và có thể coi là tốt đẹp.

    Đặt tên cho con theo Bản Mệnh

    Bản Mệnh thể hiện tuổi của con thuộc Mệnh nào và dựa vào Ngũ Hành tương sinh tương khắc để đặt tên phù hợp. Tốt nhất là nên chọn hành tương sinh hoặc tương vượng với Bản mệnh.

    Đặt tên cho con theo Tứ Trụ

    Dựa vào ngày, giờ, tháng, năm sinh của bé để quy thành Ngũ Hành, nếu bé thiếu hành gì có thể chọn tên hành đó, để bổ sung hành đã bị thiếu trong tứ trụ, để cho vận số của em bé được tốt.

    Đặt tên cho con theo quy luật tự nhiên

    Loài khỉ, con giáp tượng trưng cho tuổi của bé thường sinh sống theo từng bầy trong rừng. Vì vậy, những từ thuộc hành Mộc sẽ thích hợp để chọn tên cho bé. Một số gợi ý cho bạn: Khôi, Lê, Đỗ, Mai, Đào,Trúc, Tùng, Quỳnh, Thảo, Liễu, Bách, Lâm, Sâm, Kiện, Xuân, Quý, Hạnh, Thôn, Phương, Phần, Chi,Thị, Bính, Bình, Sa, Phúc, Phước…

    Khỉ cũng rất thích bắt chước cử chỉ và tiếng nói của con người, bởi chúng là loài động vật cao cấp rất gần gũi với con người trên nấc thang tiến hóa. Vì vậy, cái tên chứa bộ Nhân, Ngôn cũng là lựa chọn thích hợp mà bạn nên cân nhắc. Ví dụ: Nhân, Giới, Kim, Đại, Nhiệm, Trọng, Tín, Hà, Bảo, Hưu, Nghi, Huấn, Thành

    Đặt tên cho con theo tính cách

    Loài khỉ rất lanh lợi, hoạt bát, nên những cái tên có bộ Sam, Cân, Y, Mịch sẽ giúp tôn lên sự duyên dáng, đẹp đẽ. Bạn có thể chọn cho con những cái tên như: Hình, Ngạn, Ảnh, Chương, Đồng, Thường, Hi, Sư, Phàm, Ước, Tố, Kinh, Hồng, Duyên…

    Thân tam hợp với Tý, Thìn. Nếu tên của người tuổi Thân có các chữ trong tam hợp đó thì họ sẽ được sự trợ giúp rất lớn và có vận mệnh tốt đẹp. Mặt khác, Thân thuộc hành Kim, Thủy tương sinh Kim nên những chữ thuộc bộ Thủy cũng rất tốt cho vận mệnh của người tuổi Thân.

    Theo đó, bạn có thể chọn những tên như: Khổng, Tự, Tồn, Tôn, Học, Hiếu, Nông, Thìn, Thần, Giá, Lệ, Chân, Khánh, Lân, Cầu, Băng, Tuyền, Giang, Hồng, Hồ, Tân, Nguyên, Hải…

    Rừng cây là nơi sinh sống của khỉ nên những chữ thuộc bộ Mộc rất thích hợp cho người tuổi Thân, ví dụ như: Bản, Tài, Đỗ, Đông, Tùng, Lâm, Liễu, Cách, Đào, Lương, Dương… Nhưng Thân thuộc hành Kim, Kim khắc Mộc nên bạn cần cẩn trọng khi dùng những tên trên.

    Những chữ thuộc bộ Khẩu, Miên, Mịch gợi liên tưởng đến nghĩa “cái hang của khỉ” sẽ giúp người tuổi Thân có cuộc sống nhàn nhã, bình an. Đó là những tên như: Đài, Trung, Sử, Tư, Đồng, Hướng, Quân, Trình, Thiện, Hòa, Gia, Đường, An, Thủ, Tông, Quan, Thất, Dung, Nghi, Ninh, Hoành, Bảo, Hựu, Thực, Khoan…

    Người tuổi Thân thích hợp với những tên thuộc bộ Nhân hoặc bộ Ngôn bởi khỉ rất thích bắt chước động tác của người và có quan hệ gần gũi với loài người. Những tên gọi thuộc các bộ đó gồm: Nhân, Giới, Kim, Đại, Nhiệm, Trọng, Tín, Hà, Bảo, Hưu, Nghi, Huấn, Từ, Ngữ, Thành, Mưu, Nghị, Cảnh…

    Khỉ rất thích xưng vương nhưng để trở thành Hầu vương và có được uy phong thì chúng phải trả giá rất đắt. Do vậy, những chữ thuộc bộ vương như: Ngọc, Cửu, Linh, San, Trân, Cầu, Cầm, Lâm, Dao, Anh… khá phù hợp với người tuổi Thân. Tuy nhiên, bạn nên thận trọng khi sử dụng những tên đó.

    Dùng những tên thuộc bộ Sam, Cân, Mịch, Y, Thị để biểu thị sự linh hoạt và vẻ đẹp đẽ của chúng như: Hình, Ngạn, Ảnh, Chương, Bân, Lệ, Đồng, Thường, Hi, Tịch, Thị, Sư, Phàm, Ước, Hệ, Tố, Kinh, Hồng, Duyên… sẽ giúp người tuổi Thân có được vẻ anh tuấn, phú quý song toàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Tên Cho Con Trai Năm 2022
  • Đặt Tên Cho Con Gái Sinh Năm 2030 (Canh Tuất) Phù Hợp Với Cha Mẹ Tuổi Kỷ Sửu 2009
  • Đặt Tên Cho Con Trai Sinh Năm 2022 (Canh Tý) Phù Hợp Với Cha Tuổi Kỷ Sửu 1949
  • Các Tuổi Xông Đất Hợp Với Tuổi Kỷ Tỵ 1989 Trong Năm Mới 2022
  • Top 10 Món Trang Sức Đem Lại May Mắn Cho Tuổi Kỷ Tỵ
  • Sinh Con Trai Năm 2022 Đặt Tên Gì? List 50 Tên Ý Nghĩa Giúp Bé “đại Cát, Đại Lợi”

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Ở Nhà Cho Bé Gái Mang Phong Cách Tây Có Bộ Thủy
  • Đặt Tên Cho Con Trai, Gái Sinh Năm 2022 (Đinh Dậu) Phù Hợp Với Cha Tuổi Mậu Tý 1948
  • Giáo Án Ngữ Văn 12 Tiết 49+ 50: Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông
  • 9 Cách Trang Trí Quán Nhậu Đẹp
  • Tên Họ Đặng Hay Nhất 2022 ❤️ 1001 Tên Con Trai Con Gái
  • Sinh con trai năm 2022 đặt tên gì? Một cái tên gắn liền với bé trong suốt cuộc đời, một cái tên hay và ý nghĩa sẽ giúp bé luôn gặp may mắn, thuận lợi về sau.

    Sinh năm 2022 là tuổi con Chuột

    Năm sinh dương lịch: Từ 25/01/2020 đến 11/02/2021

    Năm sinh âm lịch: Canh Tý

    Thiên can: Canh

    Tương hợp: Ất

    Tương hình: Giáp, Bính

    Tam hợp: Thân – Tý – Thìn

    Tứ hành xung: Tý – Ngọ – Mão – Dậu

    Sinh con trai năm 2022 đặt tên gì? Xét theo tử vi năm 2022, em bé ra đời sẽ thuộc mệnh Thổ, do đó, cha mẹ hãy chú ý đến yếu tố vận mệnh của con mà đặt tên con cho phù hợp, theo Ngũ Hành tương sinh, tương khắc.

    Đặt tên con trai năm 2022 mệnh Thổ

    Dù là đặt tên cho con trai hay con gái thì bố mẹ cũng cần lưu ý chọn cho con những tên gọi có ý nghĩa, có vần điệu hay và hợp phong thủy gia đình. Khi đặt tên cho con trai mệnh Thổ sẽ có những cái tên hay cho bố mẹ tham khảo như:

    Anh (sự nhanh nhẹn): Tuấn Anh, Minh Anh, Duy Anh, Nhất Anh, Tâm Anh, Hoàng Anh, Đức Anh, Văn Anh, Nhật Anh,…

    Bằng (sống ngay thẳng): Tuấn Bằng, Hữu Bằng, Khánh Bằng, Thanh Bằng, Công Bằng, Tuyên Bằng, Quang Bằng, Thiện Bằng…

    Bảo (báu vật): Hoài Bảo, Kha Bảo, Phước Bảo, Phúc Bảo, Thiên Bảo, Minh Bảo, Sơn Bảo, Hiếu Bảo, Gia Bảo, Anh Bảo,…

    Cơ (nhân tố quan trọng): Phúc Cơ, Nghiệp Cơ, Hùng Cơ, Đại Cơ, Duy Cơ, Minh Cơ, Đức Cơ, Gia Cơ, Hoàng Cơ, Tùng Cơ,…

    Đại (ý chí lớn): Quốc Đại, Nhiên Đại, Tiến Đại, An Đại, Nhất Đại, Bình Đại, Trung Đại, Lâm Đại, Cao Đại, Huỳnh Đại,…

    Giáp (thành tích to lớn): Minh Giáp, Thiên Giáp, Hoàng Giáp, Nhiên Giáp, Huy Giáp, Quang Giáp, Quân Giáp, Tiến Giáp, Anh Giáp, Tùng Giáp, Sơn Giáp.

    Long (rồng lớn bay cao): Thiên Long, Kiến Long, Huy Long, Lâm Long, Tuy Long, Hải Long, Sơn Long, Phi Long, Đại Long,…

    Nghị (sự cứng cỏi): Tuấn Nghị, Quân Nghị, Hải Nghị, Ngọc Nghị, Quang Nghị, Đức Nghị, Khang Nghị, Phú Nghị, Lâm Nghị,…

    Nghiêm (chàng trai tôn nghiêm): Tiến Nghiêm, Hoàng Nghiêm, Duy Nghiêm, Sơn Nghiêm, Văn Nghiêm, Phúc Nghiêm, Hà Nghiêm,…

    Quân (người đàn ông mạnh mẽ): Thiên Quân, Sơn Quân, Hồng Quân, Nguyên Quân, Túc Quân, Mạnh Quân, Đức Quân, Duy Quân,…

    Trường (lý tưởng lớn): Văn Trường, Kiến Trường, Vạn Trường, Thiên Trường, Gia Trường, Bảo Trường, Đức Trường, Xuân Trường,…

    Vĩnh (sự trường tồn): Đức Vĩnh, Phú Vĩnh, Mạnh Vĩnh, Hoàng Vĩnh, Ngọc Vĩnh, Khánh Vĩnh, Anh Vĩnh, Huy Vĩnh, Trí Vĩnh,…

    List 50 tên ý nghĩa cho bé trai giúp bé “Đại Cát, Đại Lợi”

    1. Trường An: Mong muốn của bố mẹ để con bạn luôn có một cuộc sống an lành, và may mắn đức độ và hạnh phúc.
    2. Thiên Ân: Sự ra đời của bé là ân đức của trời dành cho gia đình.
    3. Minh Anh: Chữ Anh vốn dĩ là sự tài giỏi, thông minh, sẽ càng sáng sủa hơn khi đi cùng với chữ Minh.
    4. Quốc Bảo: Đối với bố mẹ, bé không chỉ là báu vật mà còn hi vọng rằng bé sẽ thành đạt, vang danh khắp chốn.
    5. Ðức Bình: Bé sẽ có sự đức độ để bình yên thiên hạ.
    6. Hùng Cường: Bé luôn có sự mạnh mẽ và vững vàng trong cuộc sống không sơ những khó khăn mà bé có thể vượt qua tất cả.
    7. Hữu Đạt: Bé sẽ đạt được mọi mong muốn trong cuộc sống.
    8. Minh Đức: Chữ Đức không chỉ là đạo đức mà còn chứa chữ Tâm, tâm đức sáng sẽ giúp bé luôn là con người tốt đẹp, giỏi giang, được yêu mến.
    9. Anh Dũng: Bé sẽ luôn là người mạnh mẽ, có chí khí để đi tới thành công.
    10. Đức Duy: Tâm Đức sẽ luôn sáng mãi trong suốt cuộc đời con.
    11. Huy Hoàng: Sáng suốt, thông minh và luôn tạo ảnh hưởng được tới người khác.
    12. Mạnh Hùng: Mạnh mẽ, và quyết liệt đây là những điều bố mẹ mong muốn ở bé.
    13. Phúc Hưng: Phúc đức của gia đình và dòng họ sẽ luôn được con gìn giữ, phát triển hưng thịnh.
    14. Gia Hưng: Bé sẽ là người làm hưng thịnh gia đình, dòng tộc.
    15. Gia Huy: Bé sẽ là người làm rạng danh gia đình, dòng tộc.
    16. Quang Khải: Thông minh, sáng suốt và luôn đạt mọi thành công trong cuộc sống.
    17. Minh Khang: Một cái tên với ý nghĩa mạnh khỏe, sáng sủa, may mắn dành cho bé.
    18. Gia Khánh: Bé luôn là niềm vui, niềm tự hào của gia đình.
    19. Ðăng Khoa: Cái tên sẽ đi cùng với niềm tin về tài năng, học vấn và khoa bảng của con trong tương lai.
    20. Minh Khôi: Sảng sủa, khôi ngô, đẹp đẽ.
    21. Trung Kiên: Bé sẽ luôn vững vàng, có quyết tâm và có chính kiến.
    22. Tuấn Kiệt: Bé vừa đẹp đẽ, vừa tài giỏi.
    23. Phúc Lâm: Bé là phúc lớn trong dòng họ, gia tộc.
    24. Bảo Long: Bé như một con rồng quý của cha mẹ, và đó là niềm tự hào trong tương lai với thành công vang dội.
    25. Anh Minh: Thông minh, và lỗi lạc, lại vô cùng tài năng xuất chúng.
    26. Ngọc Minh: Bé là viên ngọc sáng của cha mẹ và gia đình.
    27. Hữu Nghĩa: Bé luôn là người cư xử hào hiệp, thuận theo lẽ phải.
    28. Khôi Nguyên: Đẹp đẽ, sáng sủa, vững vàng, điềm đạm.
    29. Thiện Nhân: Ở đây thể hiện một tấm lòng bao la, bác ái, thương người.
    30. Tấn Phát: Bé sẽ đạt được những thành công, tiền tài, danh vọng.
    31. Chấn Phong: Chấn là sấm sét, Phong là gió, Chấn Phong là một hình tượng biểu trưng cho sự mạnh mẽ, quyết liệt cần ở một vị tướng, vị lãnh đạo.
    32. Trường Phúc: Phúc đức của dòng họ sẽ trường tồn.
    33. Minh Quân: Bé sẽ là nhà lãnh đạo sáng suốt trong tương lai.
    34. Minh Quang: Sáng sủa, thông minh, rực rỡ như tiền đồ của bé.
    35. Thái Sơn: Vững vàng, chắc chắn cả về công danh lẫn tài lộc.
    36. Ðức Tài: Vừa có đức, vừa có tài là điều mà cha mẹ nào cũng mong muốn ở bé.
    37. Hữu Tâm: Tâm là trái tim, cũng là tấm lòng. Bé sẽ là người có tấm lòng tốt đẹp, khoan dung độ lượng.
    38. Ðức Thắng: Cái Đức sẽ giúp con bạn vượt qua tất cả để đạt được thành công.
    39. Chí Thanh: Cái tên vừa có ý chí, có sự bền bỉ và sáng lạn.
    40. Hữu Thiện: Cái tên đem lại sự tốt đẹp, điềm lành đến cho bé cũng như mọi người xung quanh.
    41. Phúc Thịnh: Phúc đức của dòng họ, gia tộc ngày càng tốt đẹp.
    42. Ðức Toàn: Chữ Đức vẹn toàn, nói lên một con người có đạo đức, giúp người giúp đời.
    43. Minh Triết: Có trí tuệ xuất sắc, sáng suốt.
    44. Quốc Trung: Có lòng yêu nước, thương dân, quảng đại bao la.
    45. Xuân Trường: Mùa xuân với sức sống mới sẽ trường tồn.
    46. Anh Tuấn: Đẹp đẽ, thông minh, lịch lãm là những điều bạn đang mong ước ở bé đó.
    47. Thanh Tùng: Có sự vững vàng, công chính, ngay thẳng.
    48. Kiến Văn: Bé là người có kiến thức, ý chí và sáng suốt.
    49. Quang Vinh: Thành đạt, rạng danh cho gia đình và dòng tộc.
    50. Uy Vũ: Con có sức mạnh và uy tín.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sinh Con Trai Năm 2022 Tháng Nào Tốt Để Con Khỏe Mạnh, Giỏi Giang
  • Đặt Tên Con Trai Năm 2022: Bé Mang Số Giàu Sang, Phú Quý
  • Tên Cho Các Con Trai Mang Ý Thơ
  • Ý Nghĩa Tên Minh Nhật
  • Đặt Tên Cho Con: 510 Tên Hay Và Ý Nghĩa Cho Cả Bé Trai, Bé Gái
  • Tên Nguyễn Đại Nghĩa Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Trần Đại Nghĩa Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Dương Thục Đoan Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Bùi Thục Đoan Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Dương Gia Phước Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Võ Gia Phước Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Gợi ý một số tên gần giống đẹp nhất:

    Luận giải tên Nguyễn Đại Nghĩa tốt hay xấu ?

    Thiên Cách là đại diện cho cha mẹ, bề trên, sự nghiệp, danh dự. Nếu không tính sự phối hợp với các cách khác thì còn ám chỉ khí chất của người đó. Ngoài ra, Thiên cách còn đại diện cho vận thời niên thiếu.

    Thiên cách tên của bạn là Nguyễn có tổng số nét là 7 thuộc hành Dương Kim. Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ CÁT (Quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn): Có thế đại hùng lực, dũng cảm tiến lên giàng thành công. Nhưng quá cương quá nóng vội sẽ ủ thành nội ngoại bất hòa. Con gái phải ôn hòa dưỡng đức mới lành

    Địa cách còn gọi là “Tiền Vận” (trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. Về mặt thời gian trong cuộc đời, Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.

    Địa cách tên bạn là Đại Nghĩa có tổng số nét là 6 thuộc hành Âm Thổ. Địa cách theo tên sẽ thuộc quẻ CÁT (Quẻ Phú dụ bình an): Nhân tài đỉnh thịnh, gia vận hưng long, số này quá thịnh, thịnh quá thì sẽ suy, bề ngoài tốt đẹp, trong có ưu hoạn, cần ở yên nghĩ nguy, bình đạm hưởng thụ, vinh hoa nghĩ về lỗi lầm.

    Nhân cách: Còn gọi là “Chủ Vận” là trung tâm của họ và tên, vận mệnh của cả đời người do Nhân Cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Giống như mệnh chủ trong mệnh lý, Nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

    Nhân cách tên bạn là Nguyễn Đại có số nét là 9 thuộc hành Dương Thủy. Nhân cách thuộc vào quẻ HUNG (Quẻ Bần khổ nghịch ác): Danh lợi đều không, cô độc khốn cùng, bất lợi cho gia vận, bất lợi cho quan hệ quyến thuộc, thậm chí bệnh nạn, kiện tụng, đoản mệnh. Nếu tam tài phối hợp tốt, có thể sinh ra cao tăng, triệu phú hoặc quái kiệt.

    Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

    Ngoại cách tên của bạn là họ Nghĩa có tổng số nét hán tự là 4 thuộc hành Âm Hỏa. Ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ ĐẠI HUNG (Quẻ Phá hoại diệt liệt): Phân ly tang vong, rơi vào nghịch cảnh, tiến thoái lưỡng nan, bước vào suy thoái, đã hung càng hung, có điềm phát điên, tàn phế. Nhưng cũng thường sinh ra quái kiệt hoặc dị nhân.

    Tổng cách (tên đầy đủ)

    Tổng cách thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa cách nên đại diện tổng hợp chung cả cuộc đời của người đó đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được hậu vận tốt xấu của bạn từ trung niên trở về sau.

    Tên đầy đủ (tổng cách) gia chủ là Nguyễn Đại Nghĩa có tổng số nét là 12 thuộc hành Âm Mộc. Tổng cách tên đầy đủ làquẻ HUNG (Quẻ Bạc nhược tỏa chiết): Người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ.

    Mối quan hệ giữa các cách

    Số lý của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Dương Thủy” Quẻ này là quẻ Ham thích hoạt động, xã giao rộng, tính hiếu động, thông minh, khôn khéo, chủ trương sống bằng lý trí. Người háo danh lợi, bôn ba đây đó, dễ bề thoa hoang đàng.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Dương KimDương Thủy – Âm Thổ” Quẻ này là quẻ : Kim Thủy Thổ.

    Đánh giá tên Nguyễn Đại Nghĩa bạn đặt

    Bạn vừa xem xong kết quả đánh giá tên Nguyễn Đại Nghĩa. Từ đó bạn biết được tên này tốt hay xấu, có nên đặt hay không. Nếu tên không được đẹp, không mang lại may mắn cho con thì có thể đặt một cái tên khác. Để xem tên khác vui lòng nhập họ, tên ở phần đầu bài viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Vũ Đại Phong Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Đại Phong Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Vũ Đại Phong Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Con Trai Chủ Tịch Nước Trần Đại Quang Chia Sẻ Tâm Nguyện Của Cha
  • Tên Con Nguyễn Đại Quang Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Đại Lâm Mộc Có Ý Nghĩa Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • 8 Điều Về Mệnh Đại Lâm Mộc Mà Bạn Cần Biết
  • Du Lịch Quế Lâm Trung Quốc
  • Tên Lương Diệu An Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Diệu An Nhiên Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Hồ Diệp An Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Người mạng Mộc có tinh thần vị tha và năng nổ. Là người nhiều ý tưởng, tính cách hướng ngoạicủa họ được nhiều người thương, giúp. Họ tưởng tượng nhiều hơn thực sự gắn bó với kế hoạch.

    Vậy Đại Lâm Mộc có ý nghĩa gì ?

    Trong Phong thủy, Hành Mộc tượng trưng cho mùa xuân, mùa của sự sinh sôi nảy nở, cho phương vị Đông và Đông Nam.

    Hành Mộc có 6 nạp âm phân thành: Đại Lâm Mộc, Dương Liễu Mộc, Tùng Bách Mộc, Bình Địa Mộc, Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc.

    Trong Lục Mộc chỉ có Bình Địa Mộc (cây đất đồng bằng) không sợ Kim (Kim khắc Mộc), mà còn cần hòa hợp mới thành vật hữu dụng (cưa, búa đẽo gọt cây thành vật để dùng như tủ, bàn, ghế). Bình Địa Mộc và Đại Lâm Mộc gặp nhau thì tốt. Lưỡng Mộc thành Lâm.

    Những loại Mộc còn lại như Tùng Bách Mộc (gỗ cây Tùng – Bách), Dương Liễu Mộc (cây dương liễu), Tang Đố Mộc (gỗ cây dâu), Thạch Lựu Mộc (cây lựu mọc trên đá) và Đại Lâm Mộc (cây rừng lớn) đều sợ Kim, nếu phối hợp sẽ tử biệt hay nghèo khổ suốt đời (Hưu Tù Tử). Những loại cây trong rừng (Đại Lâm, Tùng Bách), những cây sống chùm gửi (Thạch Lựu), cây còi (Dương Liễu) rất hay bị đốn chặt.

    Đại Lâm Mộc – 大林木 – (Cây rừng lớn)

    Mậu Thìn (1928 – 1988) và Kỷ Tỵ (1929 – 1989)

    Mậu Thìn Kỷ Tỵ, Thìn là chốn thôn dã, giải bình nguyên rộng lớn. Tỵ là lục Dương (thuần Dương, Tỵ là quẻ Càn của 12 quẻ tiêu tức), là ánh thái dương chói chang. Mộc đến lục Dương thì cành tốt tươi, lá rậm rạp phong phú, tạo thành cây cối phồn vinh như rừng. Cây trong rừng um tùm, rậm rạp khắp nơi một màu xanh nên tâm chất không mưu cầu đột xuất. Lấy sự tốt tươi thịnh vượng của Mộc mà vốn tại chốn thôn dã, vì vậy đặt là Đại Lâm Mộc (cây rừng lớn).

    Trí tuệ minh mẫn với sự ngả theo thời thế, làm chức thừa hành tốt, vào cương vị chỉ huy không hay. Khả năng cũng như khuynh hướng không có màu sắc riêng của mình.

    Số Mậu Thìn với Kỷ Tỵ, thì Mậu Thìn đều thuộc thổ, mộc khắc thổ làm nhược khí thế, trong khi Kỷ Tỵ thì Tỵ hỏa. Bởi vậy Kỷ Tỵ trong cuộc phấn đấu chống với hung vận dễ dàng hơn Mậu Thìn.

    Mộc chỉ mùa xuân, sự tăng trưởng và đời sống cây cỏ.

    Thuộc khí Âm: Mộc mềm và dễ uốn.

    Thuộc khí Dương: Mộc rắn như thân gỗ lim.

    Dùng với mục đích lành: Mộc là cây gậy chống.

    Với mục đích dữ: Mộc là ngọn giáo.

    Cây treViệt Namđược ca ngợi về khả năng mềm dẻo trước gió, nhưng lại được dùng làm giàn giáo. Được nhìn dưới hình tượng cây, năng lượng của Mộc có tính sinh sôi nảy nở, nuôi dưỡng và mềm dẻo.

    Tính cách người thuộc hành mộc

    Người mạngMộc có tinh thần vị tha và năng nổ. Là người nhiều ý tưởng, tính cách hướng ngoạicủa họ được nhiều người thương, giúp. Họ tưởng tượng nhiều hơn thực sự gắn bó với kế hoạch.

    Tích cực: Có bản tính nghệ sĩ, làm việc nhiệt thành.

    Tiêu cực: Thiếu kiên nhẫn, dễ nổi giận, thường bỏ ngang công việc.

    Vạn vật thuộc hành mộc

    Các loài thảo mộc.

    Đồ đạc bằng gỗ.

    Giấy.

    Màu xanh lục

    Cột trụ

    Sự trang hoàng

    Tranhphong cảnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Lê Mộc Lam Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Hoàng Hải Lâm Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Hải Lâm Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Trần Gia Lâm Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Gia Lâm Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100