Top 19 # Ý Nghĩa Tên Khoa Học / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Uplusgold.com

Giới Thiệu Về Khoa Học Đặt Tên == / 2023

GIỚI THIỆU VỀ KHOA HỌC ĐẶT TÊN cho con cháu

Việc đặt tên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cái tên có vai trò ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả một đời người. Cái tên của mỗi người chính là biểu tượng phản ánh toàn bộ chủ thể bản thân con người ấy. Cái tên cũng dùng rất nhiều trong giao tiếp, trong học tập, sinh hoạt, công việc hàng ngày. Vì lẽ đó, cái tên tạo thành một trường năng lượng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến vận mệnh mỗi con người.

Từ xa xưa cha ông ta đã lưu ý rất nhiều khi đặt tên cho con cháu mình, thời Phong Kiến, người xưa có quan niệm rằng kỵ đặt tên phạm huý, tức là tên trùng với tên họ của vua quan quý tộc, như thế sẽ bất lợi cho con cháu. Ngoài ra, cũng kỵ đặt những tên quá mỹ miều, sợ quỷ thần ghen ghét làm hại nên lúc nhỏ sẽ khó nuôi. Những người có học hành, chữ nghĩa thì đặt tên con cháu theo những ý nghĩa đặc trưng của Nho Giáo như Trung, Nghĩa, Hiếu, Thiện,…

Ngày nay việc đặt tên có xu hướng phóng khoáng hơn xưa nhưng cái tên vẫn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những chỉ mang yếu tố mỹ cảm mà về yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành cái tên còn có vai trò rất quan trọng trong việc cải tạo vận mệnh của mỗi người.

Tổng quan những lý thuyết quan trọng cho việc đặt tên bao hàm những yếu tố sau:

-Cái tên được đặt phải phù hợp với truyền thống của mỗi dòng họ. Từ xưa đến nay trong văn hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá Á Đông nói chung đề cao vai trò của gia đình, dòng họ. Con cháu phải kế thừa và phát huy được những truyền thống của tổ tiên gia tộc mình. Điều này thể hiện trong phả hệ, những người cùng một tổ, một chi thường mang một họ, đệm giống nhau với ý nghĩa mang tính kế thừa đặc trưng của mỗi chi, mỗi họ như họ Vũ Khắc, Nguyễn Đức,…

– Tên được đặt trên cơ sở tôn trọng cha, ông của mình, như tên kỵ đặt trùng với tên ông, bà, chú, bác…điều này rất quan trọng trong văn hoá truyền thống uống ước nhớ nguồn của Việt Nam ta.

-Tên phải có ý nghĩa cao đẹp, gợi lên một ý chí, một biểu tượng, một khát vọng, một tính chất tốt đẹp trong đời sống. Như cha mẹ đặt tên con là Thành Đạt hy vọng người con sẽ làm nên sự nghiệp. Cha mẹ đặt tên con là Trung Hiếu hy vọng người con giữ trọn đạo với gia đình và tổ quốc.

-Bản thân tên phải có ý nghĩa tốt lành, đã được đúc kết và nghiệm lý theo thời gian như tên Bảo, Minh thường an lành hạnh phúc. Kỵ những tên xấu như Lệ, Tài,…vì những tên này có ý nghĩa không tốt đẹp đã được kiểm chứng trong nhiều thế hệ.

– Tên bao gồm 3 phần là phần họ, đệm và tên. 3 phần này trong tên đại diện cho Tam Tài Thiên – Địa – Nhân tương hợp. Phần họ đại diện cho Thiên, tức yếu tố gốc rễ truyền thừa từ dòng họ. Phần đệm đại diện cho Địa tức yếu tố hậu thiên hỗ trợ cho bản mệnh. Phần tên đại diện cho Nhân tức là yếu tố của chính bản thân cá nhân đó. Thiên – Địa – Nhân phối hợp phải nằm trong thế tương sinh. Mỗi phần mang một ngũ hành khác nhau, việc phối hợp phải tạo thành thế tương sinh, kỵ tương khắc. Ví dụ như Thiên = Mộc, Địa = Hoả, Nhân = Thổ tạo thành thế Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim là rất tốt. Nếu Thiên = Mộc, Địa = Thổ, Nhân = Thuỷ tạo thành thế tương khắc là rất xấu. Yếu tố này cũng có thể nói gọn là tên phải cân bằng về Ngũ Hành.

-Tên phải cân bằng về mặt Âm Dương, những vần bằng thuộc Âm, vần trắc thuộc Dương. Trong tên phải có vần bằng, trắc cân đối, kỵ thái quá hoặc bất cập. Ví dụ như Thái Phú Quốc quá nhiều vần trắc, Dương cường, Âm nhược nên luận là xấu. Tên Thái Phú Minh luận là Âm Dương cân bằng nên tốt hơn.

-Yếu tố rất quan trọng của tên ngoài việc cân bằng về Âm Dương, Ngũ Hành còn phải đảm bảo yếu tố hỗ trợ cho bản mệnh. Ví dụ, bản mệnh trong Tứ Trụ thiếu hành Thuỷ thì tên phải thuộc Thuỷ để bổ trợ cho mệnh, vì thế tên phải đặt là Thuỷ, Hà, Sương,…

-Tên còn cần phối hợp tạo thành quẻ trong Kinh Dịch, quẻ phải tốt lành như Thái, Gia Nhân, Càn, tránh những quẻ xấu nhiều tai hoạ rủi ro như quẻ Bĩ, Truân, Kiển,…Quẻ cũng cần phối hợp tốt với Âm Dương Bát Quái của bản mệnh.

1. Ngũ Hành tương sinh : Họ Nguyễn = Mộc sinh Thái = Hoả sinh Ngọc = Thổ sinh Nhi = Kim. Ngũ Hành tạo thành vòng tương sinh hỗ trợ cho bản mệnh thiếu Kim

2. Tên này Âm Dương cân bằng vì hai vần bằng trắc cân đối ngụ ý một đời sống an lành, tốt đẹp

3. Ý nghĩa của tên trong Hán văn có nghĩa là viên ngọc quý, hàm ý một đời sống sang trọng, đầy đủ

4. Phối quẻ được quẻ Dự là một quẻ tốt cho nữ số.

Những người có tên không tốt hoặc vận mệnh đang gặp khó khăn trở ngại thì đổi tên là một trong những phương pháp hiệu quả để cải tạo vận mệnh của chính mình.

Tóm lại, đặt tên tốt là một việc rất khó khăn, bao hàm rất nhiều yếu tố phối kết hợp để tạo thành một tên đẹp theo nghĩa mỹ cảm lẫn Âm Dương, Ngũ Hành, hầu đem lại cho người mang tên đó một sự hỗ trợ cần thiết cho cuộc sống tốt lành trong tương lai, để rạng danh được dòng họ của mình, mang lại sự nghiệp tốt đẹp cho bản thân và xã hội.

Đặt Tên Cho Con Theo Khoa Học Thật Ý Nghĩa / 2023

Ngày nay việc đặt tên có xu hướng phóng khoáng hơn xưa nhưng cái tên vẫn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những chỉ mang yếu tố mỹ cảm mà về yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành cái tên còn có vai trò rất quan trọng trong việc cải tạo vận mệnh của mỗi người.

Đặt tên cho con theo khoa học thật ý nghĩa

Việc đặt tên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cái tên có vai trò ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh của cả một đời người. Cái tên của mỗi người chính là biểu tượng phản ánh toàn bộ chủ thể bản thân con người ấy. Cái tên cũng dùng rất nhiều trong giao tiếp, trong học tập, sinh hoạt, công việc hàng ngày. Vì lẽ đó, cái tên tạo thành một trường năng lượng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến vận mệnh mỗi con người. Từ xa xưa cha ông ta đã lưu ý rất nhiều khi đặt tên cho con cháu mình, thời Phong Kiến, người xưa có quan niệm rằng kỵ đặt tên phạm huý, tức là tên trùng với tên họ của vua quan quý tộc, như thế sẽ bất lợi cho con cháu. Ngoài ra, cũng kỵ đặt những tên quá mỹ miều, sợ quỷ thần ghen ghét làm hại nên lúc nhỏ sẽ khó nuôi. Những người có học hành, chữ nghĩa thì đặt tên con cháu theo những ý nghĩa đặc trưng của Nho Giáo như Trung, Nghĩa, Hiếu, Thiện,… Ngày nay việc đặt tên có xu hướng phóng khoáng hơn xưa nhưng cái tên vẫn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những chỉ mang yếu tố mỹ cảm mà về yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành cái tên còn có vai trò rất quan trọng trong việc cải tạo vận mệnh của mỗi người. Tổng quan những lý thuyết quan trọng cho việc đặt tên bao hàm những yếu tố sau: – Cái tên được đặt phải phù hợp với truyền thống của mỗi dòng họ. Từ xưa đến nay trong văn hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá Á Đông nói chung đề cao vai trò của gia đình, dòng họ. Con cháu phải kế thừa và phát huy được những truyền thống của tổ tiên gia tộc mình. Điều này thể hiện trong phả hệ, những người cùng một tổ, một chi thường mang một họ, đệm giống nhau với ý nghĩa mang tính kế thừa đặc trưng của mỗi chi, mỗi họ như họ Vũ Khắc, Nguyễn Đức,… – Tên được đặt trên cơ sở tôn trọng cha, ông của mình, như tên kỵ đặt trùng với tên ông, bà, chú, bác…điều này rất quan trọng trong văn hoá truyền thống uống ước nhớ nguồn của Việt Nam ta. – Tên phải có ý nghĩa cao đẹp, gợi lên một ý chí, một biểu tượng, một khát vọng, một tính chất tốt đẹp trong đời sống. Như cha mẹ đặt tên con là Thành Đạt hy vọng người con sẽ làm nên sự nghiệp. Cha mẹ đặt tên con là Trung Hiếu hy vọng người con giữ trọn đạo với gia đình và tổ quốc. – Bản thân tên phải có ý nghĩa tốt lành, đã được đúc kết và nghiệm lý theo thời gian như tên Bảo, Minh thường an lành hạnh phúc. Kỵ những tên xấu như Lệ, Tài,…vì những tên này có ý nghĩa không tốt đẹp đã được kiểm chứng trong nhiều thế hệ. – Tên bao gồm 3 phần là phần họ, đệm và tên. 3 phần này trong tên đại diện cho Tam Tài Thiên – Địa – Nhân tương hợp. Phần họ đại diện cho Thiên, tức yếu tố gốc rễ truyền thừa từ dòng họ. Phần đệm đại diện cho Địa tức yếu tố hậu thiên hỗ trợ cho bản mệnh. Phần tên đại diện cho Nhân tức là yếu tố của chính bản thân cá nhân đó. Thiên – Địa – Nhân phối hợp phải nằm trong thế tương sinh. Mỗi phần mang một ngũ hành khác nhau, việc phối hợp phải tạo thành thế tương sinh, kỵ tương khắc. Ví dụ như Thiên = Mộc, Địa = Hoả, Nhân = Thổ tạo thành thế Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ, Thổ sinh Kim là rất tốt. Nếu Thiên = Mộc, Địa = Thổ, Nhân = Thuỷ tạo thành thế tương khắc là rất xấu. Yếu tố này cũng có thể nói gọn là tên phải cân bằng về Ngũ Hành. – Tên phải cân bằng về mặt Âm Dương, những vần bằng thuộc Âm, vần trắc thuộc Dương. Trong tên phải có vần bằng, trắc cân đối, kỵ thái quá hoặc bất cập. Ví dụ như Thái Phú Quốc quá nhiều vần trắc, Dương cường, Âm nhược nên luận là xấu. Tên Thái Phú Minh luận là Âm Dương cân bằng nên tốt hơn. – Yếu tố rất quan trọng của tên ngoài việc cân bằng về Âm Dương, Ngũ Hành còn phải đảm bảo yếu tố hỗ trợ cho bản mệnh. Ví dụ, bản mệnh trong Tứ Trụ thiếu hành Thuỷ thì tên phải thuộc Thuỷ để bổ trợ cho mệnh, vì thế tên phải đặt là Thuỷ, Hà, Sương,… – Tên còn cần phối hợp tạo thành quẻ trong Kinh Dịch, quẻ phải tốt lành như Thái, Gia Nhân, Càn, tránh những quẻ xấu nhiều tai hoạ rủi ro như quẻ Bĩ, Truân, Kiển,…Quẻ cũng cần phối hợp tốt với Âm Dương Bát Quái của bản mệnh. Ví dụ về đặt tên: nữ sinh năm Giáp Thân, trong Tứ Trụ mệnh thiếu Kim, nên dùng tên bổ trợ hành Kim cho bản mệnh. Tên đặt Nguyễn Thái Ngọc Nhi. Sau đây phân tích những yếu tố tốt của tên này: 1. Ngũ Hành tương sinh : Họ Nguyễn = Mộc sinh Thái = Hoả sinh Ngọc = Thổ sinh Nhi = Kim. Ngũ Hành tạo thành vòng tương sinh hỗ trợ cho bản mệnh thiếu Kim 2. Tên này Âm Dương cân bằng vì hai vần bằng trắc cân đối ngụ ý một đời sống an lành, tốt đẹp 3. Ý nghĩa của tên trong Hán văn có nghĩa là viên ngọc quý, hàm ý một đời sống sang trọng, đầy đủ 4. Phối quẻ được quẻ Dự là một quẻ tốt cho nữ số. Những người có tên không tốt hoặc vận mệnh đang gặp khó khăn trở ngại thì đổi tên là một trong những phương pháp hiệu quả để cải tạo vận mệnh của chính mình. Tóm lại, đặt tên tốt là một việc rất khó khăn, bao hàm rất nhiều yếu tố phối kết hợp để tạo thành một tên đẹp theo nghĩa mỹ cảm lẫn Âm Dương, Ngũ Hành, hầu đem lại cho người mang tên đó một sự hỗ trợ cần thiết cho cuộc sống tốt lành trong tương lai, để rạng danh được dòng họ của mình, mang lại sự nghiệp tốt đẹp cho bản thân và xã hội.

Hội Thảo Khoa Học “Tỉnh Thủ Dầu Một / 2023

Ngày 17/12/2020, trường ĐH Thủ Dầu Một phối hợp cùng Viện Khoa học Xã hội Vùng Nam Bộ và Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương tổ chức thành công hội thảo khoa học “Tỉnh Thủ Dầu Một – 120 năm”.

Tham dự Hội thảo có chúng tôi Nguyễn Văn Hiệp – Chủ tịch Hội đồng trường ĐH Thủ Dầu Một, TS. Huỳnh Ngọc Đáng – Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương, chúng tôi Bùi Thế Cường – Nguyên Viện Trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ, TS. Nguyễn Khánh Trung Kiên – Phó Viện Trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ; cùng lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể trong tỉnh; các đại biểu là chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh đến từ các trường đại học và viện nghiên cứu trong nước.

Chủ đề hội thảo quy tụ 42 tham luận đã qua phản biện khắt khe, đầy đặn về hàm lượng khoa học, được biên tập chỉnh chu thành kỷ yếu với hơn 550 trang. Các tham luận được chia thành 4 nhóm chuyên đề: (1) Nhóm tham luận thứ nhất tập trung vào các đặc điểm kinh tế xã hội của tỉnh Thủ Dầu Một thời Pháp thuộc; (2) Nhóm tham luận thứ hai tập trung vào lịch sử và ý nghĩa của địa danh Thủ Dầu Một; (3) Nhóm tham luận thứ ba quan tâm đến văn hóa và con người vùng đất Bình An – Thủ Dầu Một – Bình Dương; (4) Nhóm tham luận chuyên sâu về tiềm năng và hiện trạng phát triển kinh tế, về phát triển đô thị, đời sống xã hội đô thị và về đô thị thông minh.

Phát biểu chào mừng hội thảo chúng tôi Nguyễn Văn Hiệp – Chủ tịch Hội đồng trường ĐH Thủ Dầu Một cho biết, nội dung của hội thảo sẽ được trường ĐH Thủ Dầu Một xuất bản thành sách để phát hành rộng rãi trong nước và quốc tế. Ông cũng đề xuất các nhà khoa học trao đổi, làm nổi bật vấn đề về nguồn ngốc, ý nghĩa, giá trị tên gọi Thủ Dầu Một; những kết nối không gian tự nhiên và văn hóa xã hội của Thủ Dầu Một trong trong tổng thể vùng Đông Nam Bộ – Nam Bộ; cội nguồn lịch sử, tiến trình phát triển, đặc sắc về dân cư, truyền thống và khát vọng của cư dân Thủ Dầu Một xưa và nay; những dấu ấn về kinh tế, văn hóa, xã hội, tầm nhìn và tư duy quản lý, vai trò động lực phát triển kinh tế xã hội của Thủ Dầu Một trong vùng Đông Nam Bộ và cả nước.

Tại hội thảo, 07 báo cáo tiêu biểu đã được lựa chọn trình bày, làm cơ sở cho các trao đổi chuyên sâu của các học giả tham dự. Cụ thể: tham luận “Lịch sử địa danh Thủ Dầu Một: Những kiến giải mới” của TS Nguyễn Văn Giác; tham luận “Một mô tả học xã hội cư dân phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một” của chúng tôi Bùi Thế Cường; tham luận “Hoạt động trồng trọt ở Thủ Dầu Một thời Pháp thuộc” của tác giả Dương Văn Triêm; tham luận “Nhận diện đặc điểm dân cư Thủ Dầu Một – Bình Dương (1900-2020) của TS. Trần Hạnh Minh Phương; tham luận “Văn hóa sinh thái vùng đất Bình Dương -Thủ Dầu Một thể hiện qua tư liệu Hán Nôm trong các đình” của tác giả: Huỳnh Vĩnh Phúc; tham luận “Trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một với những biến đổi của địa phương” của ThS. Dương Tấn Giàu; tham luận “Nguồn gốc tên gọi Thủ Dầu Một về mặt dân gian và pháp lý” của tác giả Nguyễn Thị Tiền.

Phát biểu đúc kết hội thảo, TS. Nguyễn Khánh Trung Kiên – Phó Viện Trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ khẳng định, với 42 tham luận của nhiều nhóm đề tài phong phú, sinh động, các tác giả của các tham luận đã bày ra một bức tranh nhiều sắc màu sinh động của vùng đất và con người tỉnh Thủ Dầu Một sau 120 năm hình thành và phát triển với nhiều lần thay đổi địa danh, địa giới và sắc cờ của chế độ chính trị. Trải qua tất cả mọi biến đổi, lịch sử vùng đất con người Thủ Dầu Một sau 120 năm vẫn ẩn chứa những hương vị nồng nàn và sắc màu tươi tắn của vị đất và tình người. Nổi lên trên nền của sắc màu và hương vị đó là những di sản của 120 năm tỉnh Thủ Dầu Một. Mọi di sản đều nên được trân quý nhưng cũng cần được xem xét điều chỉnh, bổ sung và phát huy, để phát triển và tạo lập những di sản mới.

Hội thảo do trường ĐH Thủ Dầu Một phối hợp cùng Viện Khoa học Xã hội Vùng Nam Bộ và Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bình Dương tổ chức

Đặt Tên Cho Con Theo Phương Pháp Khoa Học( Phần 3) / 2023

Những thành ngữ sau đây gồm bốn chữ, lấy từ một câu trong các cổ thư Trung Hoa. Có thể chọn một, hai chữ theo thứ tự trong thành ngữ hoặc sắp xếp cho hợp ý mình. Mỗi thành ngữ có nội dung được diễn giải rõ ràng, đầy đủ và có ví dụ đặt tên.

Đặt tên cho con theo phương pháp khoa học( Phần 3)

1. An cư lạc nghiệp: An : yên lành; Cư: ở; Lạc: vui; Nghiệp: nghề Nghĩa: Ở yên chỗ, vui với nghề. Hán thư: “Các an kỳ cư nhỉ lạc kỳ nghiệp” (“Mỗi người đều ăn ở yên lành, sống vui với nghề nghiệp”). Ví dụ đặt tên: Đỗ An Cư – Nguyễn Lạc Nghiệp Phạm An Lạc – Trần Lạc An 2. An nhược kim âu: An: yên lành; Nhược: như; Kim: vàng; Âu: cái âu. Nghĩa: Vững như âu vàng. Ý nói: vững vàng, chắc chắn. Nam sử chép lời Hán Vũ Đế: “Ngã quốc gia do nhược kim âu, vô sở khiếm khuyết” (“Đất nước của ta vững bền như âu vàng, chẳng có chỗ nào kém khuyết”). Ví dụ đặt tên: Nguyễn Kim Âu – Lý Nhược An 3. Anh tài uyên tẩu: Anh: người tài năng xuất chúng; Tài: tài năng; Uyên: cái vực sâu, có nhiều cá ở; Tẩu: cái chằm, bụi rậm, có nhiều thú hoang ẩn núp. Ngụ ý nơi dạy được nhiều học trò giỏi, giống như cái vực sâu có nhiều cá và cái chằm rậm rạp có nhiều thú hoang ẩn náu. Ví dụ: Phạm Anh Tài – Ngô Tài Uyên. 4. Ánh tuyết độc thư: Ánh: ánh sáng chiếu lại; Tuyết: hơi nước trên không, gặp lạnh kết đông lại mà rơi xuống; Độc: đọc; Thư: sách. Nghĩa: Soi tuyết đọc sách. Chỉ người học trò nghèo mà ham học. Sách Thượng Hữu Lục kể truyện Lục Điền đời Tấn thông minh, chăm học nhưng nhà nghèo không có tiền mua dầu thắp đèn, ban đêm ông đem sách ra ngoài trời, nhờ có tuyết chiếu ánh sáng mà đọc. Ví dụ đặt tên: Đào Thị Ánh Tuyết. 5. Ẩm thuỷ tư nguyên: Ẩm: uống; Thuỷ: nước; Tư: nghĩ, nhớ; Nguyên: nguồn. Nghĩa: Uống nước nhớ nguồn. Chỉ sự biết ơn, nhớ ơn. Ví dụ đặt tên: Trần Tư Nguyên – Bùi Thuỷ Nguyên 6. Ẩn ác dương thiện: Ẩn: giấu đi; Ác: xấu, hung dữ; Dương: cất lên, khen ngợi; Thiện: tốt lành. Nghĩa: Giấu điều ác, điều xấu; khoe việc hay, sự tốt ra. Ví dụ đặt tên: Bùi Thiện Dương – Vũ Dương Thiện B 1. Bác cổ thông kim Bác: rộng; Cổ: đời xưa; Thông: suốt qua, hiểu rõ; Kim: đời nay. Nghĩa: Hiểu biết rộng đời xưa, thông suốt cả đời nay; người bác học. Ví dụ đặt tên: Lê Thông Kim – Trần Bác Kim Trịnh Kim Thông. 2. Bách chiến bách thắng: Bách: trăm; chiến: đánh nhau; thắng: hơn, lấy sức mà khuất phục người. Nghĩa: Đánh trăm trận đều thắng cả trăm trận. Nghĩa bóng: vô địch, không ai hơn nổi. Ví dụ đặt tên: Nguyễn Chiến Thắng – Lê Bách Thắng Trần Thiện Thắng – Tạ Bách Chiến 3. Bách bộ xuyên dương: Bách: trăm; bộ: bước; xuyên: suốt, thấu qua; dương: dương liễu Nghĩa: Cách trăm bước, bắn xuyên qua lá dương Sử ký viết: “Người bắn cung giỏi như Dưỡng Do Cơ đời nhà Chu, đứng xa cách trăm bước mà bắn tên trúng xuyên qua lá liễu”, chỉ tài bắn tên siêu phàm. Nghĩa bóng: Người có tài, hữu dụng cho đất nước. Ví dụ đặt tên: Nguyễn Bách Xuyên – Phạm Dương Xuyên Trần Xuyên Dương – Đinh Bách Dương 4. Bách niên hảo hợp: Bách: một trăm; niên: năm; hảo: tốt lành; hợp: hoà hợp. Nghĩa: Trăm năm hoà hợp. Ý chỉ vợ chồng hoà hợp tốt đẹp, lâu dài. Ví dụ đặt tên: Trần Thị Hảo – Đào Thị Hợp Đặng Văn Hảo – Nguyễn Văn Hợp. 5. Bách xích can đầu: Bách: trăm; xích: thước; can: cây sào; đầu: cái đầu. Nghĩa: Cây sào trăm thước. Nguyên câu là: “Bách xích can đầu, cánh tiến nhất bộ” (“Dù đã lên tới đầu cây sào cao trăm thước, nhưng vẫn cố tiến thêm một bước nữa”). Ý nói: Có tài cao, nhưng không lấy làm tự mãn, vẫn cố gắng để tiến bộ thêm. Thành ngữ “bách xích can đầu” chỉ người có tài năng, đạo đức ở đỉnh cao. Ví dụ đặt tên: Lưu Bách Xích – Hồ Bách Can. 6. Bàn khê thọ khảo: Bàn: địa danh ở huyện Bảo Khê, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc; khê: khe suối; thọ: sống lâu; khảo: già. Nghĩa: Khe bàn sống lâu. Theo tích xưa, Khương Tử Nha ngồi câu cá ở Khe Bàn, lúc đó khoảng tám chục tuổi, được Văn Vương mời ra cầm quân diệt nhà Trụ, lập nên nhà Chu. Ví dụ đặt tên: Mai Thọ Khê – Trần Bàn Khê. 7. Băng hồ thu nguyệt: Băng: giá, nước vì lạnh mà đóng lại thành thể rắn; hồ: cái bình đựng rượu; thu: mùa thu; nguyệt: trăng. Nghĩa: Bầu giá trăng thu. Nghĩa bóng: Lòng trong sạch của bậc hiền nhân quân tử. Thơ Lý Diên Niên: Băng hồ thu nguyệt Oánh triệt vô hà. Nghĩa: Như bầu giá băng Trong suốt không bợn. Ví dụ đặt tên: Trần Băng Hồ – Trịnh Thị Thu Nguyệt Dương Ngọc Hồ – Phạm Băng Tâm 8. Bất khả tư nghị: Bất: không; khả: có thể; tư: nghĩ; nghị: bàn Nghĩa: Không thể bàn. Chữ trong kinh Phật: “Kỳ công đức bất khả tư nghị, quả báo diệc bất khả tư nghị” (“Công đức không thể nghĩ, bàn bạc được; quả báo cũng không thể nghĩ, bàn bạc được”). Chỉ một sự việc, một nhân cách cao siêu, không thể bàn bạc, nghĩ đến được. Ví dụ đặt tên: Nguyễn Bất Nghị – Mạnh Khả Tư Phạm Tư Nghị 9. Bất tri vi bất tri: Bất: không; tri: biết; vi: là Nghĩa: Không biết thì là không biết Chữ lấy trong sách Mạnh Tử: “Tri chi vi tri, bất tri vi bất tri, thị tri dã” (“Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, như thế đó mới gọi là biết vậy”). Ý câu này dạy sự chân thật trong tri thức. Ví dụ đặt tên: Lê Thị Bất Tri – Nguyễn Thị Tri Dương Bất Tri – Trần Văn Tri 10. Bị hạt hoài ngọc: Bị: mặc; hạt: áo vải của người nghèo; hoài: mang, ôm, lận; ngọc: viên ngọc Nghĩa là : Mặc vải lận ngọc. Nghĩa bóng: Người quân tử không muốn cho người đời biết mình. Sách Lão Tử viết: “Tri ngã giả hi, tắc ngã quí hĩ; thị dĩ thánh nhân bị hạt hoài ngọc” (“Ít kẻ biết ta thì ta lại quý, cho nên thánh nhân mặc đồ vải gai mà trong lưng lận ngọc báu”). Ví dụ đặt tên: Bùi Ngọc Hoài – Vũ Ngọc Hoài Phùng Hoài Ngọc – Trương Hoài Ngọc 11. Bĩ cực thái lai: Bĩ: tên một quẻ trong Kinh Dịch; chỉ sự bế tắc; cực: rất lắm, cuối cùng; thái: tên một quẻ, chỉ sự thông thuận, an vui; lai: đến. Nghĩa: Bế tắc ở mức cùng tột thì đến sự thông thuận, an vui. Hết thời vận xấu, đến thời may mắn. Ví dụ đặt tên: Nguyễn Thái Lai – Trần Văn Lai Phạm Văn Thái. 12. Biên châu chuyết ngọc: Biên: đan bện, sắp xếp; châu: hạt ngọc trai; chuyết: kết lại với nhau; ngọc: viên ngọc Nghĩa: Sắp xếp lại các hạt châu và kết các viên ngọc lại với nhau. Nghĩa bóng: làm bài văn tuyệt diệu. Đây là lời khen một nhà làm văn xuất sắc. Ví dụ đặt tên: Trần Thị Châu Ngọc – Lý Ngọc Châu Phạm Ngọc Biên – Nguyễn Chuyết Ngọc 13. Bộ bộ liên hoa Bộ: đi bộ, bước; liên: hoa sen; hoa: bông hoa. Nghĩa: bước bước hoa sen. Nam sử kể: Đông Hôn Hầu yêu quý nàng hầu là Phan Phi rất đẹp, cho làm cái lầu ở, sàn chạm những đoá sen. Mỗi lần nàng bước đi, ông khen: “Thử bộ bộ liên hoa dã” (“Mỗi bước đi nở một đoá sen vậy”). Chỉ sự tôn quý, đẹp đẽ. Ví dụ đặt tên: Nguyễn Thị Liên Hoa – Trần Thị Liên