Tên Con Ngô Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì

--- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Nguyễn Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Ngô Việt Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Cao Việt Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lại Việt Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Bùi Việt Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Luận giải tên Ngô Minh Hưng tốt hay xấu ?

    Về thiên cách tên Ngô Minh Hưng

    Thiên Cách là đại diện cho mối quan hệ giữa mình và cha mẹ, ông bà và người trên. Thiên cách là cách ám chỉ khí chất của người đó đối với người khác và đại diện cho vận thời niên thiếu trong đời.

    Thiên cách tên Ngô Minh Hưng là Ngô, tổng số nét là 8 và thuộc hành Âm Kim. Do đó Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ Kiên nghị khắc kỷ là quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG. Đây là quẻ nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời.

    Xét về địa cách tên Ngô Minh Hưng

    Ngược với thiên cách thì địa cách đại diện cho mối quan hệ giữa mình với vợ con, người nhỏ tuổi hơn mình và người bề dưới. Ngoài ra địa cách còn gọi là “Tiền Vận” ( tức trước 30 tuổi), địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận tuổi mình.

    Địa cách tên Ngô Minh Hưng là Minh Hưng, tổng số nét là 14 thuộc hành Âm Hỏa. Do đó địa cách sẽ thuộc vào quẻ Phù trầm phá bại là quẻ HUNG. Đây là quẻ Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Luận về nhân cách tên Ngô Minh Hưng

    Nhân cách là chủ vận ảnh hưởng chính đến vận mệnh của cả đời người. Nhân cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Nhân cách là nguồn gốc tạo vận mệnh, tích cách, thể chất, năng lực, sức khỏe, hôn nhân của gia chủ, là trung tâm của họ và tên. Muốn tính được Nhân cách thì ta lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên.

    Nhân cách tên Ngô Minh Hưng là Ngô Minh do đó có số nét là 15 thuộc hành Dương Thổ. Như vậy nhân cách sẽ thuộc vào quẻ Từ tường hữu đức là quẻ ĐẠI CÁT. Đây là quẻ Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Về ngoại cách tên Ngô Minh Hưng

    Ngoại cách là đại diện mối quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài như bạn bè, người ngoài, người bằng vai phải lứa và quan hệ xã giao với người khác. Ngoại cách ám chỉ phúc phận của thân chủ hòa hợp hay lạc lõng với mối quan hệ thế giới bên ngoài. Ngoại cách được xác định bằng cách lấy tổng số nét của tổng cách trừ đi số nét của Nhân cách.

    Tên Ngô Minh Hưng có ngoại cách là Hưng nên tổng số nét hán tự là 7 thuộc hành Dương Kim. Do đó ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn là quẻ CÁT. Đây là quẻ Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Luận về tổng cách tên Ngô Minh Hưng

    Tổng cách là chủ vận mệnh từ trung niên về sau từ 40 tuổi trở về sau, còn được gọi là “Hậu vận”. Tổng cách được xác định bằng cách cộng tất cả các nét của họ và tên lại với nhau.

    Do đó tổng cách tên Ngô Minh Hưng có tổng số nét là 21 sẽ thuộc vào hành Dương Mộc. Do đó tổng cách sẽ thuộc quẻ Độc lập quyền uy là quẻ ĐẠI CÁT. Đây là quẻ số vận thủ lĩnh, được người tôn kính, hưởng tận vinh hoa phú quý. Như lầu cao vạn trượng, từ đất mà lên. Nữ giới dùng bất lợi cho nhân duyên, nếu dùng cần phối hợp với bát tự và ngũ hành.

    Quan hệ giữa các cách tên Ngô Minh Hưng

    Số lý họ tên Ngô Minh Hưng của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Dương Thổ” Quẻ này là quẻ Tính tình thiện lương, giản dị dễ gần, ôn hoà trầm lặng, luôn hiểu biết và thông cảm với người khác, trọng danh dự, chữ tín. Lòng trượng nghĩa khinh tài, song không bao giờ để lộ. Tính xấu là hay lãnh đạm với mọi sự.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm KimDương Thổ – Âm Hỏa” Quẻ này là quẻ Kim Thổ Hỏa: Có thể gặt hái được thành công bất ngờ, có danh, có lợi. sống bình yên (cát).

    Kết quả đánh giá tên Ngô Minh Hưng tốt hay xấu

    Như vậy bạn đã biêt tên Ngô Minh Hưng bạn đặt là tốt hay xấu. Từ đó bạn có thể xem xét đặt tên cho con mình để con được bình an may mắn, cuộc đời được tươi sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Lê Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Lê Minh Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Dương Quốc Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Trần Quốc Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Trần Quốc Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Minh Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Lê Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Ngô Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Ngô Việt Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Cao Việt Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Gợi ý một số tên gần giống đẹp nhất:

    Luận giải tên Lê Minh Hưng tốt hay xấu ?

    Thiên Cách là đại diện cho cha mẹ, bề trên, sự nghiệp, danh dự. Nếu không tính sự phối hợp với các cách khác thì còn ám chỉ khí chất của người đó. Ngoài ra, Thiên cách còn đại diện cho vận thời niên thiếu.

    Thiên cách tên của bạn là có tổng số nét là 12 thuộc hành Âm Mộc. Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ HUNG (Quẻ Bạc nhược tỏa chiết): Người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ

    Địa cách còn gọi là “Tiền Vận” (trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. Về mặt thời gian trong cuộc đời, Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.

    Địa cách tên bạn là Minh Hưng có tổng số nét là 14 thuộc hành Âm Hỏa. Địa cách theo tên sẽ thuộc quẻ HUNG (Quẻ Phù trầm phá bại): Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Nhân cách: Còn gọi là “Chủ Vận” là trung tâm của họ và tên, vận mệnh của cả đời người do Nhân Cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Giống như mệnh chủ trong mệnh lý, Nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

    Nhân cách tên bạn là Lê Minh có số nét là 19 thuộc hành Dương Thủy. Nhân cách thuộc vào quẻ HUNG (Quẻ Tỏa bại bất lợi): Quẻ đoản mệnh, bất lợi cho gia vận, tuy có trí tuệ, nhưng thường hay gặp hiểm nguy, rơi vào bệnh yếu, bị tàn phế, cô độc và đoản mệnh. Số này có thể sinh ra quái kiệt, triệu phú hoặc dị nhân.

    Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

    Ngoại cách tên của bạn là họ Hưng có tổng số nét hán tự là 7 thuộc hành Dương Kim. Ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ CÁT (Quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn): Có thế đại hùng lực, dũng cảm tiến lên giàng thành công. Nhưng quá cương quá nóng vội sẽ ủ thành nội ngoại bất hòa. Con gái phải ôn hòa dưỡng đức mới lành.

    Tổng cách (tên đầy đủ)

    Tổng cách thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa cách nên đại diện tổng hợp chung cả cuộc đời của người đó đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được hậu vận tốt xấu của bạn từ trung niên trở về sau.

    Tên đầy đủ (tổng cách) gia chủ là Lê Minh Hưng có tổng số nét là 25 thuộc hành Âm Thủy. Tổng cách tên đầy đủ làquẻ CÁT (Quẻ Anh mại tuấn mẫn): Con gái xinh đẹp, con trai tuấn tú, có quý nhân khác giới giúp đỡ, trong nhu có cương, thành công phát đạt. Nhưng nói nhiều tất có sai lầm, hoặc tính cách cổ quái.

    Mối quan hệ giữa các cách

    Số lý của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Dương Thủy” Quẻ này là quẻ Ham thích hoạt động, xã giao rộng, tính hiếu động, thông minh, khôn khéo, chủ trương sống bằng lý trí. Người háo danh lợi, bôn ba đây đó, dễ bề thoa hoang đàng.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm MộcDương Thủy – Âm Hỏa” Quẻ này là quẻ : Mộc Thủy Hỏa.

    Đánh giá tên Lê Minh Hưng bạn đặt

    Bạn vừa xem xong kết quả đánh giá tên Lê Minh Hưng. Từ đó bạn biết được tên này tốt hay xấu, có nên đặt hay không. Nếu tên không được đẹp, không mang lại may mắn cho con thì có thể đặt một cái tên khác. Để xem tên khác vui lòng nhập họ, tên ở phần đầu bài viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Dương Quốc Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Trần Quốc Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Trần Quốc Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Phạm Chấn Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Lê Chấn Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Minh Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Trần Minh Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Việt Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Đặt Tên Cho Con Nguyễn Việt Hưng 60/100 Điểm Tốt
  • Tên Lại Thái Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Đinh Thái Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Gợi ý một số tên gần giống đẹp nhất:

    Luận giải tên Nguyễn Minh Hưng tốt hay xấu ?

    Thiên Cách là đại diện cho cha mẹ, bề trên, sự nghiệp, danh dự. Nếu không tính sự phối hợp với các cách khác thì còn ám chỉ khí chất của người đó. Ngoài ra, Thiên cách còn đại diện cho vận thời niên thiếu.

    Thiên cách tên của bạn là Nguyễn có tổng số nét là 7 thuộc hành Dương Kim. Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ CÁT (Quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn): Có thế đại hùng lực, dũng cảm tiến lên giàng thành công. Nhưng quá cương quá nóng vội sẽ ủ thành nội ngoại bất hòa. Con gái phải ôn hòa dưỡng đức mới lành

    Địa cách còn gọi là “Tiền Vận” (trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. Về mặt thời gian trong cuộc đời, Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.

    Địa cách tên bạn là Minh Hưng có tổng số nét là 14 thuộc hành Âm Hỏa. Địa cách theo tên sẽ thuộc quẻ HUNG (Quẻ Phù trầm phá bại): Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Nhân cách: Còn gọi là “Chủ Vận” là trung tâm của họ và tên, vận mệnh của cả đời người do Nhân Cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Giống như mệnh chủ trong mệnh lý, Nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

    Nhân cách tên bạn là Nguyễn Minh có số nét là 14 thuộc hành Âm Hỏa. Nhân cách thuộc vào quẻ HUNG (Quẻ Phù trầm phá bại): Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

    Ngoại cách tên của bạn là họ Hưng có tổng số nét hán tự là 7 thuộc hành Dương Kim. Ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ CÁT (Quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn): Có thế đại hùng lực, dũng cảm tiến lên giàng thành công. Nhưng quá cương quá nóng vội sẽ ủ thành nội ngoại bất hòa. Con gái phải ôn hòa dưỡng đức mới lành.

    Tổng cách (tên đầy đủ)

    Tổng cách thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa cách nên đại diện tổng hợp chung cả cuộc đời của người đó đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được hậu vận tốt xấu của bạn từ trung niên trở về sau.

    Tên đầy đủ (tổng cách) gia chủ là Nguyễn Minh Hưng có tổng số nét là 20 thuộc hành Âm Thủy. Tổng cách tên đầy đủ làquẻ ĐẠI HUNG (Quẻ Phá diệt suy vong): Trăm sự không thành, tiến thoái lưỡng nan, khó được bình an, có tai họa máu chảy. Cũng là quẻ sướng trước khổ sau, tuyệt đối không thể dùng.

    Mối quan hệ giữa các cách

    Số lý của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Âm Hỏa” Quẻ này là quẻ Tính nóng ngầm chứa bên trong, bề ngoài bình thường lạnh lẽo, có nhiều nguyện vọng, ước muốn song không dám để lộ. Có tài ăn nói, người nham hiểm không lường. Sức khoẻ kém, hiếm muộn con cái, hôn nhân gia đình bất hạnh.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Dương KimÂm Hỏa – Âm Hỏa” Quẻ này là quẻ : Kim Hỏa Hỏa.

    Đánh giá tên Nguyễn Minh Hưng bạn đặt

    Bạn vừa xem xong kết quả đánh giá tên Nguyễn Minh Hưng. Từ đó bạn biết được tên này tốt hay xấu, có nên đặt hay không. Nếu tên không được đẹp, không mang lại may mắn cho con thì có thể đặt một cái tên khác. Để xem tên khác vui lòng nhập họ, tên ở phần đầu bài viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Phạm Quốc Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Quốc Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Chấn Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lại Hưng Phát Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Hưng Phát Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Ngô Việt Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Cao Việt Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lại Việt Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Bùi Việt Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Thái Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Về thiên cách tên Nguyễn Minh Hưng

    Thiên Cách là đại diện cho mối quan hệ giữa mình và cha mẹ, ông bà và người trên. Thiên cách là cách ám chỉ khí chất của người đó đối với người khác và đại diện cho vận thời niên thiếu trong đời.

    Thiên cách tên Nguyễn Minh Hưng là Nguyễn, tổng số nét là 7 và thuộc hành Dương Kim. Do đó Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn là quẻ CÁT. Đây là quẻ có thế đại hùng lực, dũng cảm tiến lên giàng thành công. Nhưng quá cương quá nóng vội sẽ ủ thành nội ngoại bất hòa. Con gái phải ôn hòa dưỡng đức mới lành.

    Xét về địa cách tên Nguyễn Minh Hưng

    Ngược với thiên cách thì địa cách đại diện cho mối quan hệ giữa mình với vợ con, người nhỏ tuổi hơn mình và người bề dưới. Ngoài ra địa cách còn gọi là “Tiền Vận” ( tức trước 30 tuổi), địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận tuổi mình.

    Địa cách tên Nguyễn Minh Hưng là Minh Hưng, tổng số nét là 14 thuộc hành Âm Hỏa. Do đó địa cách sẽ thuộc vào quẻ Phù trầm phá bại là quẻ HUNG. Đây là quẻ Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Luận về nhân cách tên Nguyễn Minh Hưng

    Nhân cách là chủ vận ảnh hưởng chính đến vận mệnh của cả đời người. Nhân cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Nhân cách là nguồn gốc tạo vận mệnh, tích cách, thể chất, năng lực, sức khỏe, hôn nhân của gia chủ, là trung tâm của họ và tên. Muốn tính được Nhân cách thì ta lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên.

    Nhân cách tên Nguyễn Minh Hưng là Nguyễn Minh do đó có số nét là 14 thuộc hành Âm Hỏa. Như vậy nhân cách sẽ thuộc vào quẻ Phù trầm phá bại là quẻ HUNG. Đây là quẻ Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Về ngoại cách tên Nguyễn Minh Hưng

    Ngoại cách là đại diện mối quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài như bạn bè, người ngoài, người bằng vai phải lứa và quan hệ xã giao với người khác. Ngoại cách ám chỉ phúc phận của thân chủ hòa hợp hay lạc lõng với mối quan hệ thế giới bên ngoài. Ngoại cách được xác định bằng cách lấy tổng số nét của tổng cách trừ đi số nét của Nhân cách.

    Tên Nguyễn Minh Hưng có ngoại cách là Hưng nên tổng số nét hán tự là 7 thuộc hành Dương Kim. Do đó ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn là quẻ CÁT. Đây là quẻ Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Luận về tổng cách tên Nguyễn Minh Hưng

    Tổng cách là chủ vận mệnh từ trung niên về sau từ 40 tuổi trở về sau, còn được gọi là “Hậu vận”. Tổng cách được xác định bằng cách cộng tất cả các nét của họ và tên lại với nhau.

    Do đó tổng cách tên Nguyễn Minh Hưng có tổng số nét là 20 sẽ thuộc vào hành Âm Thủy. Do đó tổng cách sẽ thuộc quẻ Phá diệt suy vong là quẻ ĐẠI HUNG. Đây là quẻ trăm sự không thành, tiến thoái lưỡng nan, khó được bình an, có tai họa máu chảy. Cũng là quẻ sướng trước khổ sau, tuyệt đối không thể dùng.

    Quan hệ giữa các cách tên Nguyễn Minh Hưng

    Số lý họ tên Nguyễn Minh Hưng của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Âm Hỏa” Quẻ này là quẻ Tính nóng ngầm chứa bên trong, bề ngoài bình thường lạnh lẽo, có nhiều nguyện vọng, ước muốn song không dám để lộ. Có tài ăn nói, người nham hiểm không lường. Sức khoẻ kém, hiếm muộn con cái, hôn nhân gia đình bất hạnh.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Dương KimÂm Hỏa – Âm Hỏa” Quẻ này là quẻ Kim Hỏa Hỏa: Trong cuộc sống thường bị chèn ép, không có thành tựu đặc biệt, dễ mắc bệnh phổi và bệnh não (hung).

    Kết quả đánh giá tên Nguyễn Minh Hưng tốt hay xấu

    Như vậy bạn đã biêt tên Nguyễn Minh Hưng bạn đặt là tốt hay xấu. Từ đó bạn có thể xem xét đặt tên cho con mình để con được bình an may mắn, cuộc đời được tươi sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Ngô Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Lê Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Lê Minh Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Dương Quốc Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Trần Quốc Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Lê Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Ngô Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Minh Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Ngô Việt Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Cao Việt Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lại Việt Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Luận giải tên Lê Minh Hưng tốt hay xấu ?

    Về thiên cách tên Lê Minh Hưng

    Thiên Cách là đại diện cho mối quan hệ giữa mình và cha mẹ, ông bà và người trên. Thiên cách là cách ám chỉ khí chất của người đó đối với người khác và đại diện cho vận thời niên thiếu trong đời.

    Thiên cách tên Lê Minh Hưng là , tổng số nét là 12 và thuộc hành Âm Mộc. Do đó Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ Bạc nhược tỏa chiết là quẻ HUNG. Đây là quẻ người ngoài phản bội, người thân ly rời, lục thân duyên bạc, vật nuôi sinh sâu bọ, bất túc bất mãn, một mình tác chiến, trầm luân khổ nạn, vãn niên tối kỵ.

    Xét về địa cách tên Lê Minh Hưng

    Ngược với thiên cách thì địa cách đại diện cho mối quan hệ giữa mình với vợ con, người nhỏ tuổi hơn mình và người bề dưới. Ngoài ra địa cách còn gọi là “Tiền Vận” ( tức trước 30 tuổi), địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận tuổi mình.

    Địa cách tên Lê Minh Hưng là Minh Hưng, tổng số nét là 14 thuộc hành Âm Hỏa. Do đó địa cách sẽ thuộc vào quẻ Phù trầm phá bại là quẻ HUNG. Đây là quẻ Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Luận về nhân cách tên Lê Minh Hưng

    Nhân cách là chủ vận ảnh hưởng chính đến vận mệnh của cả đời người. Nhân cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Nhân cách là nguồn gốc tạo vận mệnh, tích cách, thể chất, năng lực, sức khỏe, hôn nhân của gia chủ, là trung tâm của họ và tên. Muốn tính được Nhân cách thì ta lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên.

    Nhân cách tên Lê Minh Hưng là Lê Minh do đó có số nét là 19 thuộc hành Dương Thủy. Như vậy nhân cách sẽ thuộc vào quẻ Tỏa bại bất lợi là quẻ HUNG. Đây là quẻ Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Về ngoại cách tên Lê Minh Hưng

    Ngoại cách là đại diện mối quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài như bạn bè, người ngoài, người bằng vai phải lứa và quan hệ xã giao với người khác. Ngoại cách ám chỉ phúc phận của thân chủ hòa hợp hay lạc lõng với mối quan hệ thế giới bên ngoài. Ngoại cách được xác định bằng cách lấy tổng số nét của tổng cách trừ đi số nét của Nhân cách.

    Tên Lê Minh Hưng có ngoại cách là Hưng nên tổng số nét hán tự là 7 thuộc hành Dương Kim. Do đó ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn là quẻ CÁT. Đây là quẻ Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Luận về tổng cách tên Lê Minh Hưng

    Tổng cách là chủ vận mệnh từ trung niên về sau từ 40 tuổi trở về sau, còn được gọi là “Hậu vận”. Tổng cách được xác định bằng cách cộng tất cả các nét của họ và tên lại với nhau.

    Do đó tổng cách tên Lê Minh Hưng có tổng số nét là 25 sẽ thuộc vào hành Âm Thủy. Do đó tổng cách sẽ thuộc quẻ Anh mại tuấn mẫn là quẻ CÁT. Đây là quẻ con gái xinh đẹp, con trai tuấn tú, có quý nhân khác giới giúp đỡ, trong nhu có cương, thành công phát đạt. Nhưng nói nhiều tất có sai lầm, hoặc tính cách cổ quái.

    Quan hệ giữa các cách tên Lê Minh Hưng

    Số lý họ tên Lê Minh Hưng của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Dương Thủy” Quẻ này là quẻ Ham thích hoạt động, xã giao rộng, tính hiếu động, thông minh, khôn khéo, chủ trương sống bằng lý trí. Người háo danh lợi, bôn ba đây đó, dễ bề thoa hoang đàng.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm MộcDương Thủy – Âm Hỏa” Quẻ này là quẻ Mộc Thủy Hỏa: Mặc dù có thể phát triển sự nghiệp nhưng chỉ nhất thời, cuộc đời không ổn định, dễ sinh nguy biến và tai họa, lại khắc vợ nên gal đình gặp nhiều điều bất hạnh (hung).

    Kết quả đánh giá tên Lê Minh Hưng tốt hay xấu

    Như vậy bạn đã biêt tên Lê Minh Hưng bạn đặt là tốt hay xấu. Từ đó bạn có thể xem xét đặt tên cho con mình để con được bình an may mắn, cuộc đời được tươi sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Lê Minh Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Dương Quốc Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Trần Quốc Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Trần Quốc Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Phạm Chấn Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Trần Minh Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Nguyễn Việt Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Đặt Tên Cho Con Nguyễn Việt Hưng 60/100 Điểm Tốt
  • Tên Lại Thái Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Đinh Thái Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Thái Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Gợi ý một số tên gần giống đẹp nhất:

    Luận giải tên Trần Minh Hưng tốt hay xấu ?

    Thiên Cách là đại diện cho cha mẹ, bề trên, sự nghiệp, danh dự. Nếu không tính sự phối hợp với các cách khác thì còn ám chỉ khí chất của người đó. Ngoài ra, Thiên cách còn đại diện cho vận thời niên thiếu.

    Thiên cách tên của bạn là Trần có tổng số nét là 7 thuộc hành Dương Kim. Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ CÁT (Quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn): Có thế đại hùng lực, dũng cảm tiến lên giàng thành công. Nhưng quá cương quá nóng vội sẽ ủ thành nội ngoại bất hòa. Con gái phải ôn hòa dưỡng đức mới lành

    Địa cách còn gọi là “Tiền Vận” (trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. Về mặt thời gian trong cuộc đời, Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.

    Địa cách tên bạn là Minh Hưng có tổng số nét là 14 thuộc hành Âm Hỏa. Địa cách theo tên sẽ thuộc quẻ HUNG (Quẻ Phù trầm phá bại): Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Nhân cách: Còn gọi là “Chủ Vận” là trung tâm của họ và tên, vận mệnh của cả đời người do Nhân Cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Giống như mệnh chủ trong mệnh lý, Nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

    Nhân cách tên bạn là Trần Minh có số nét là 14 thuộc hành Âm Hỏa. Nhân cách thuộc vào quẻ HUNG (Quẻ Phù trầm phá bại): Điềm phá gia, gia duyên rất bạc, có làm không có hưởng, nguy nạn liên miên, chết nơi đất khách, không có lợi khi ra khỏi nhà, điều kiện nhân quả tiên thiên kém tốt.

    Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

    Ngoại cách tên của bạn là họ Hưng có tổng số nét hán tự là 7 thuộc hành Dương Kim. Ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ CÁT (Quẻ Cương ngoan tuẫn mẫn): Có thế đại hùng lực, dũng cảm tiến lên giàng thành công. Nhưng quá cương quá nóng vội sẽ ủ thành nội ngoại bất hòa. Con gái phải ôn hòa dưỡng đức mới lành.

    Tổng cách (tên đầy đủ)

    Tổng cách thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa cách nên đại diện tổng hợp chung cả cuộc đời của người đó đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được hậu vận tốt xấu của bạn từ trung niên trở về sau.

    Tên đầy đủ (tổng cách) gia chủ là Trần Minh Hưng có tổng số nét là 20 thuộc hành Âm Thủy. Tổng cách tên đầy đủ làquẻ ĐẠI HUNG (Quẻ Phá diệt suy vong): Trăm sự không thành, tiến thoái lưỡng nan, khó được bình an, có tai họa máu chảy. Cũng là quẻ sướng trước khổ sau, tuyệt đối không thể dùng.

    Mối quan hệ giữa các cách

    Số lý của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Âm Hỏa” Quẻ này là quẻ Tính nóng ngầm chứa bên trong, bề ngoài bình thường lạnh lẽo, có nhiều nguyện vọng, ước muốn song không dám để lộ. Có tài ăn nói, người nham hiểm không lường. Sức khoẻ kém, hiếm muộn con cái, hôn nhân gia đình bất hạnh.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Dương KimÂm Hỏa – Âm Hỏa” Quẻ này là quẻ : Kim Hỏa Hỏa.

    Đánh giá tên Trần Minh Hưng bạn đặt

    Bạn vừa xem xong kết quả đánh giá tên Trần Minh Hưng. Từ đó bạn biết được tên này tốt hay xấu, có nên đặt hay không. Nếu tên không được đẹp, không mang lại may mắn cho con thì có thể đặt một cái tên khác. Để xem tên khác vui lòng nhập họ, tên ở phần đầu bài viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Nguyễn Minh Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Quốc Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Quốc Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Chấn Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lại Hưng Phát Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Hoàng Minh Phúc Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Hoàng Bảo Tuấn Kiệt Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Thị Hồng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Trần Khánh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Thị Bích Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Mai Ngọc Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Về thiên cách tên Hoàng Minh Phúc Hưng

    Thiên Cách là đại diện cho mối quan hệ giữa mình và cha mẹ, ông bà và người trên. Thiên cách là cách ám chỉ khí chất của người đó đối với người khác và đại diện cho vận thời niên thiếu trong đời.

    Thiên cách tên Hoàng Minh Phúc Hưng là Hoàng Minh, tổng số nét là 17 và thuộc hành Dương Kim. Do đó Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ Cương kiện bất khuất là quẻ CÁT. Đây là quẻ quyền uy cương cường, ý chí kiên định, khuyết thiếu hàm dưỡng, thiếu lòng bao dung, trong cương có nhu, hóa nguy thành an. Nữ giới dùng số này có chí khí anh hào.

    Xét về địa cách tên Hoàng Minh Phúc Hưng

    Ngược với thiên cách thì địa cách đại diện cho mối quan hệ giữa mình với vợ con, người nhỏ tuổi hơn mình và người bề dưới. Ngoài ra địa cách còn gọi là “Tiền Vận” ( tức trước 30 tuổi), địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận tuổi mình.

    Luận về nhân cách tên Hoàng Minh Phúc Hưng

    Nhân cách là chủ vận ảnh hưởng chính đến vận mệnh của cả đời người. Nhân cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Nhân cách là nguồn gốc tạo vận mệnh, tích cách, thể chất, năng lực, sức khỏe, hôn nhân của gia chủ, là trung tâm của họ và tên. Muốn tính được Nhân cách thì ta lấy số nét chữ cuối cùng của họ cộng với số nét chữ đầu tiên của tên.

    Về ngoại cách tên Hoàng Minh Phúc Hưng

    Ngoại cách là đại diện mối quan hệ giữa mình với thế giới bên ngoài như bạn bè, người ngoài, người bằng vai phải lứa và quan hệ xã giao với người khác. Ngoại cách ám chỉ phúc phận của thân chủ hòa hợp hay lạc lõng với mối quan hệ thế giới bên ngoài. Ngoại cách được xác định bằng cách lấy tổng số nét của tổng cách trừ đi số nét của Nhân cách.

    Luận về tổng cách tên Hoàng Minh Phúc Hưng

    Tổng cách là chủ vận mệnh từ trung niên về sau từ 40 tuổi trở về sau, còn được gọi là “Hậu vận”. Tổng cách được xác định bằng cách cộng tất cả các nét của họ và tên lại với nhau.

    Do đó tổng cách tên Hoàng Minh Phúc Hưng có tổng số nét là 32 sẽ thuộc vào hành Âm Mộc. Do đó tổng cách sẽ thuộc quẻ Kiểu hạnh quý nhân là quẻ CÁT. Đây là quẻ Như rồng bơi bến nước nông, chưa thành đại vận, nhưng may nhờ quý nhân đến giúp, sự nghiệp như ý, thế như chẻ tre, phẩm tính ôn lương, chỉ thiếu phần mạnh dạn, tiểu lợi thành nhân.

    Quan hệ giữa các cách tên Hoàng Minh Phúc Hưng

    Số lý họ tên Hoàng Minh Phúc Hưng của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Dương Kim” Quẻ này là quẻ Ý chí kiên cường, tự ái mạnh, ưa tranh đấu, quả cảm quyết đoán, sống thiếu năng lực đồng hoá. Thích tranh cãi biện luận, dễ có khuynh hướng duy ý chí, có khí phách anh hùng, cuộc đời nhiều thăng trầm.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Dương KimDương Kim – Dương Thổ” Quẻ này là quẻ Kim Kim Thổ: Dễ thành công và đạt được mục đích, cuộc sống bình yên, cơ thể khỏe mạnh, tuy nhiên do tính cách quá cứng cỏi, nếu không cẩn thận thì sẽ gặp họa bất ngờ (nửa cát).

    Kết quả đánh giá tên Hoàng Minh Phúc Hưng tốt hay xấu

    Như vậy bạn đã biêt tên Hoàng Minh Phúc Hưng bạn đặt là tốt hay xấu. Từ đó bạn có thể xem xét đặt tên cho con mình để con được bình an may mắn, cuộc đời được tươi sáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Trần Minh Hoàng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Trần Minh Hoàng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Phạm Hoàng Hiểu Minh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Phạm Minh Hoàng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Hoàng Minh Nhật Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Lịch Sử Văn Minh Châu Âu (5): Phục Hưng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 3: Văn Hóa Tây Âu Thời Phục Hưng
  • Văn Minh Phương Tây: Hiểu Nhanh Thời Phục Hưng Và Thời Đại Khám Phá
  • Tìm Việc Làm Tại Công Ty Cổ Phần Xây Dựng Phục Hưng Holdings
  • Vì Sao Lại Có Tên Gọi Nha Trang
  • Ý Nghĩa Thú Vị Của Tên Gọi Nha Trang
  • LỊCH SỬ VĂN MINH CHÂU ÂU (5): PHỤC HƯNG – KHI ĐẠI BÀNG VỖ CÁNH

    Tác giả: Tôn Thất Thông, CHLB Đức

    Bằng cách này hay cách khác, Phục hưng là thuật ngữ được dùng để diễn tả một khía cạnh đặc biệt của nền văn hóa châu Âu ở ngưỡng cửa năm 1500. Nền văn hóa đó khởi đầu cho lịch sử hiện đại châu Âu . Sử gia kinh tế R. Romano và A. Tenenti, giáo sư đại học Paris

    “Thời đại phục hưng” không phải là một thuật ngữ được sáng chế bởi người đương thời, mà được các nhà sử học thế kỷ 19 dùng để chỉ một giai đoạn lịch sử đặc thù ở cuối thời kỳ trung cổ châu Âu. Thuật ngữ tiếng Pháp ” Renaissance” (có nghĩa là Hồi sinh – Rebirth) được nhà sử học Jules Michelet sử dụng lần đầu năm 1858. Hai năm sau, sử gia văn hóa Jacob Burckhardt người Thụy Sĩ thánh hóa nó trong tác phẩm kinh điển nổi tiếng với tựa đề “Văn hóa Phục hưng ở Ý”. Từ đó về sau, Renaissance dần dần trở thành ngôn ngữ quốc tế và phổ biến rộng trong các nước thuộc văn hóa la-tinh, mặc dù mỗi nước đều có thuật ngữ địa phương riêng và thỉnh thoảng cũng được sử dụng trong sách vở của họ. Riêng ở Ý, nơi sinh thành của phong trào phục hưng, thì thuật ngữ địa phương Rinascimento được lưu truyền phổ biến rộng.

    Nói đến phục hưng, trước hết chúng ta cần phân biệt vài thuật ngữ vốn dĩ có nội dung tương đối khác nhau, nhưng rất dễ lẫn lộn với nhau.

    Trước hết, trào lưu nghệ thuật phục hưng là tên gọi của trào lưu kế tiếp sau nghệ thuật Gothic vốn dĩ đã kéo dài từ thế kỷ 12 cho đến ngưỡng cửa năm 1500. Sau hơn một thế kỷ hưng thịnh, nghệ thuật phục hưng bắt đầu tàn lụi ở khoảng cuối thế kỷ thứ 16 và nhường chỗ cho trào lưu Baroque. Tuy chỉ là nghệ thuật nhưng trào lưu này là điểm khởi đầu cho một thời đại mới, thời đại phục hưng, chấm dứt xã hội trung cổ để bước vào thời hiện đại. Vì tầm quan trọng của trào lưu nghệ thuật này, chúng ta sẽ có một chương riêng cho nó.

    Thứ hai, phong trào phục hưng hay còn được gọi là thời đại phục hưng hoặc thời kỳ phục hưng để chỉ một trào lưu rộng lớn bao gồm nhiều mặt: văn hóa, nghệ thuật, triết học, xã hội, chính trị và khoa học. Phong trào này phát triển mạnh mẽ nhất vào thế kỷ 15 và 16 nhưng nó không có một biên giới rõ rệt lúc khởi đầu và lúc suy tàn. Tinh thần phục hưng vốn đã có nguồn gốc từ phong trào dịch thuật từ thế kỷ 12, nó trở lại và phát triển hưng thịnh trong thế kỷ 15/16, sau đó phong trào phục hưng còn để lại ảnh hưởng lâu dài lên châu Âu trong những thế kỷ tiếp theo. Rõ rệt nhất là phong trào khai sáng thế kỷ 17/18, vốn dĩ là sự hồi sinh của phong trào khai minh Hy Lạp được bắt đầu từ thời đại Protagoras thế kỷ thứ 5 trước công nguyên, cho nên các học giả chuyên về văn minh cổ đại ào ạt di tản về phương Tây, mang theo tài liệu, sách vở và các công trình văn hóa, góp phần cho trào lưu học thuật mới phát triển mạnh. Giáo sư Ilan Rachum thì xem 1415 là điểm khởi đầu khi chủ nghĩa nhân bản đang hưng thịnh, đồng thời cũng là năm quan trọng trong lịch sử thời trung cổ với trận đánh lớn ở Agincourt. Vài sử gia khác thì xem năm sinh của nhà nhân bản tiên phong Francesco Petrarca (1304-1374) là khởi điểm; thời gian đó cũng có một biến cố lịch sử đặc biệt khác: Dante Alighieri bắt đầu viết tác phẩm bất tử , tập thơ quan trọng nhất của văn chương thơ phú được lưu truyền rộng rãi trong thời đại phục hưng.

    Trong hậu bán thế kỷ 15, khoa học và triết học cổ đại được dịch và phổ biến rộng trong giới học thuật ở Ý; về kinh tế, các cộng hòa Ý chứng kiến một sự hưng thịnh hiếm có với nhiều nghề nghiệp mới mẻ trong lĩnh vực tài chánh; kỹ nghệ đồ gốm phát triển đã nuôi dưỡng nhiều nghệ nhân có năng khiếu. Đó cũng là thời gian thành danh của nhà khoa học tiên phong Nicolaus Copernicus (1473-1543), những cuộc thám hiểm liên lục địa của Tây Ban Nha và Bồ đào Nha (1492-1519), và ý thức phản kháng trổi dậy ươm mầm cho phong trào cải cách tôn giáo (1517). Nhưng có một biến cố cần nói đến đã tác động vào quá trình phát triển lịch sử, ấy là kỹ thuật in ấn được phát minh tại Đức năm 1450 bởi Johannes Gutenberg song song với ngành sản xuất giấy được cải thiện trước đó bởi người Ý. Nhờ thế mà các nguồn văn chương, nghệ thuật và triết học du nhập từ Byzantine kể từ sau khi thất thủ năm 1453 được truyền bá nhanh chóng tại Tây Âu, góp phần vào việc phát triển trào lưu văn hóa mới.

    Nếu ranh giới thời gian rất nhạt nhòa khó minh định, thì nguồn gốc hình thành nên thời đại phục hưng lại rất rõ rệt: đó là điểm hội tụ của một chuỗi sự kiện lịch sử đặc biệt chưa bao giờ có trước đó. Nội dung của phong trào phục hưng thì rất phong phú, nó bao gồm hầu hết các lĩnh vực quan trọng, tạo nên những thành tố cần thiết để giã từ nếp sống trung cổ lạc hậu và tiến đến một xã hội văn minh trong thời đại mới. Và sau cùng là hậu quả của nó: Phục hưng quả là một cơn địa chấn, nó để lại những dấu vết không thể xóa nhòa trong nhiều thế kỷ tiếp theo, trước hết là ở châu Âu và sau nữa là cho toàn nhân loại.

    Để đi sâu bàn luận về thời đại phục hưng, chúng ta thử trả lời vài câu hỏi: Phục hưng là làm sống lại những gì, mang nội dung tư tưởng nào? Phục hưng được thành hình và phát triển trong bối cảnh nào? Tác động của phong trào phục hưng lên lịch sử châu Âu như thế nào?

    Phục hưng – Hồi sinh những giá trị gì?

    Phục hưng được khởi đầu bằng sự trở về với văn hóa Hy Lạp và La Mã thời cổ đại. Đó là thời kỳ hoàng kim với nhiều thành quả rất phong phú về mọi mặt triết học, toán học, y khoa, vật lý, thiên văn v.v… với rất nhiều học giả uyên thâm mà tri thức của họ vẫn còn được ca tụng trong thế kỷ 21. Sau hơn một thiên niên kỷ bưng bít, nhu cầu trao dồi tri thức trong giới học giả trung cổ được đánh thức dậy khi họ có cơ hội tiếp cận với sách vở tài liệu thời cổ đại, nhất là khi một số tác phẩm quan trọng được dịch ra tiếng la-tinh kể từ thế kỷ 12. Nhưng phải đợi đến thế kỷ 15, sáng kiến phục hồi nền văn minh cổ đại mới thực sự thành hình và bộc phát mạnh mẽ, khi nguồn tài liệu từ Byzantine ngày càng nhiều và đa dạng, và nhất là khi hệ thống giáo dục nhân bản đã trở thành một xu hướng rõ rệt trong xã hội Ý. Kể từ đây, phong trào phục hưng và chủ nghĩa nhân bản đi liền nhau như bóng với hình. Con người phục hưng và người nhân bản luôn luôn sát cánh nhau trong một thời kỳ, khi xu hướng chuyển hóa triệt để vẫn còn gặp nhiều rào cản xã hội, chính trị và tôn giáo.

    Phục Hưng và văn chương triết học

    Trước hết, khái niệm quan trọng nhất được “hồi sinh” trong thời đại phục hưng là gì? Câu trả lời: Ấy là sáng kiến đặt con người vào trung tâm của mọi suy nghĩ và hành động. Như triết gia Hy Lạp Protagoras đã nói trong thế kỷ thứ năm trước công nguyên: Con người là thước đo của vạn vật. Điều đó có một ý nghĩa vô cùng sâu sắc, có sức mạnh lay chuyển hệ tư tưởng đã được bám rễ từ lâu trong thế giới Kitô. Mặc dù giới học giả trước sau vẫn là những tín đồ sùng đạo, nhưng họ đã bắt đầu từ giả thái độ thuần phục thần thánh, và tìm cách trở lại với chủ thể nhận thức có đầy đủ tinh thần tự do cá nhân, tư duy độc lập và năng lực hoạt động sáng tạo. Đó chính là gốc rễ của mọi sự phát minh và tiến bộ, thúc đẩy xã hội châu Âu tiến lên, từ giả nếp sống trung cổ để bước vào kỷ nguyên hiện đại.

    Suốt cả 1000 năm sau khi đế chế Tây La Mã sụp đổ, con người đã giao khoán mọi trách nhiệm về đời sống tinh thần của chính mình cho những người đại diện của Thượng Đế trên trần gian, tức là Giáo Hoàng ở Rome, các vị Giám Mục, linh mục và cha xứ. Điều đó xuất phát từ một xác tín bất di dịch rằng, chỉ như thế họ mới được cứu rỗi và được ban phép lành vĩnh viễn.

    Tiếc thay, khi cuộc cải cách tôn giáo bước vào thời kỳ cao điểm cuối thế kỷ 16 với hận thù tôn giáo và xung đột ý thức hệ, đi kèm với những cuộc chiến tranh vô nghĩa khắp mọi nơi trên lục địa, thì tinh thần phục hưng cũng không còn chất dinh dưỡng để tiếp tục phát triển, học giả phục hưng trở nên hoang mang và phong trào phục hưng cũng dần dần tàn lụi.

    Trở lại vấn đề, phong trào phục hưng chưa tạo thành một trào lưu chính trị rộng lớn, mà chủ yếu là sản sinh ra những giá trị tinh thần, đặc biệt trong văn chương, nghệ thuật và luân lý đạo đức. Nhưng chính những giá trị ấy đã làm thay đổi tận gốc nhân sinh quan và vũ trụ quan của con người phục hưng, từ đó có tác dụng mạnh mẽ vào sự thay đổi lớn lao mọi lĩnh văn hóa, xã hội và chính trị: Nhận thức về vai trò của Giáo Hoàng và hàng giáo phẩm không còn như trước; nhà nước thế tục không thể tiếp tục tồn tại dưới hình thức như nó đã và đang ngự trị khắp nơi; triết học và khoa học cần tìm một hướng đi mới phù hợp với xu thế thời đại …

    Những chuyển biến tư duy ấy đã ươm mầm cho việc nghiên cứu triết học nghiêm túc để lý giải các vấn đề nảy sinh trong xã hội đang trên bước đường chuyển hóa triệt để. Từ đó ý thức dân chủ tự do, vốn dĩ là những giá trị ưu việt của xã hội Hy Lạp cổ đại, dần dần tạo dáng trong xã hội trung cổ châu Âu, dù chưa rõ rệt nhưng đã trở thành biểu tượng cho giới trí thức hướng tới. Cho dù con đường đến dân chủ tự do còn dài và gập ghềnh sỏi đá, nhưng các nguồn lực xã hội cũng bắt đầu được giải phóng để tham gia vào công cuộc phát triển chung. Về khía cạnh này, châu Âu đã đi trước các lục địa khác một bước rất dài, cho nên những cuộc cách mạng tư tưởng trong thế kỷ 17/18 và hệ luận tất yếu của chúng là cách mạng công nghiệp và kinh tế cũng xảy ra sớm hơn so với những nơi khác. Những thay đổi làm rung chuyển thế giới trong thế kỷ 18/19, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều có gốc rễ từ phong trào phục hưng.

    Về mặt văn chương triết học của phong trào phục hưng trên toàn lục địa, thời vàng son có thể được định vị ở thế kỷ 16. Mỗi nước có một tên gọi khác nhau. Ở Ý người ta gọi đó là “thời kỳ hóa bạc”, ở Tây Ban Nha vào giữa thế kỷ thì họ gọi là “thế kỷ vàng” (siglo de oro), Pháp và Anh thì gọi là “văn học phục hưng”, ở Ba Lan là “thời đại vàng son”. Trong thời trung cổ, hai mặt của nhận thức – nhìn thế giới bên ngoài và cảm nhận về nội tâm bên trong con người – giống như được ẩn dấu dưới một tấm màn thưa che mặt, được dệt bằng niềm tin tôn giáo, sự rụt rè từ lúc trẻ thơ, và những ảo tưởng mù quáng. Xuyên qua lớp màn che, thế giới bên ngoài được tô màu đẹp đẽ, trong lúc nội tâm là một khoảng trống rỗng chỉ biết có tập thể và đám đông: cùng chủng tộc, cùng giống dân, hoặc cùng đảng phái, cùng liên minh, gia đình, hoặc những gì tương tự mang tính chất cộng đồng. Trong lúc các nước khác chưa có gì thay đổi, thì lần đầu tiên ở Ý, tấm màn thưa che mặt được gió cuốn bay, thế giới hiện lên rõ rệt bằng tầm nhìn khách quan, cách hành xử của nhà nước và những vấn đề tương tự được soi rõ hơn. Trong lúc đó thì từ nội tâm, một cách nghĩ chủ quan được đánh thức dậy và con người bỗng trở thành một chủ thể độc lập vượt ra khỏi đám đông, một tình trạng mà chúng ta đã gặp trước đây ở người Hy Lạp đối với các giống dân man di, hoặc thế giới Ả Rập đối với các chủng tộc châu Á.

    Chỉ trên góc nhìn từ chủ thể độc lập ấy mà ở Ý – chứ không phải nơi nào khác ở châu Âu – mới có thể xuất hiện những con người như Dante, Petrarca, Boccaccio với phong cách sáng tác văn chương thi phú mang dáng dấp mới, hướng về từng con người cụ thể trong xã hội, những con người thế tục biết yêu đương, biết để cho tâm hồn bay bỗng vào thế giới lãng mạn không tưởng, biết say đắm với nét đẹp huyền bí của thiên nhiên, biết phô diễn chủ thể tự do cá nhân và thách thức những khuôn thước gò bó trong chính trị, xã hội và tôn giáo. Nhân cách, phẩm hạnh mang tính chất tự do cá nhân cũng được rèn luyện dễ dàng hơn với một nhân sinh quan uyển chuyển như thế.

    Tinh thần phục hưng đã tạo nên cho mỗi người trong xã hội một niềm tự tin mới vào chính bản thân. Đấy là những con người bắt đầu ý thức rằng, tính tự chủ là giá trị không thể bỏ quên trong một xã hội đầy rẫy hoang mang, bất công và tàn bạo như thời đại của họ đang sống, thời đại trung cổ. Trong các thế kỷ này, khái niệm tự do phổ quát trong tương quan với những diễn biến trong xã hội chưa được thành hình, huống hồ là khái quát hóa thành lý luận? Tuy nhiên tính tự chủ và ý thức tự do cá nhân là nền tảng đầu tiên để các nhà tư tưởng thời kỳ phục hưng đưa ra những khuôn mẫu mới, tạo tiền lệ cho phong trào khai sáng các thế kỷ sau dần dần hoàn thiện lý luận, góp phần thúc đẩy các cuộc cách mạng toàn diện về tư tưởng, về thể chế chính trị, về kinh tế cũng như về khoa học.

    Con người phục hưng đã tự giải thoát ra khỏi mọi khuôn thước rụt rè “đồng phục” trước đây, và sẵn sàng phô diễn nét đặc thù của cá nhân, sẵn sàng làm những điều khác với mọi người. Và cũng nhờ thế mà xã hội thời phục hưng mới có thể sản sinh ra những con người khác thường, tràn đầy năng lực để sáng tạo ra những tác phẩm khác thường có giá trị vượt thời gian, những con người sẵn sàng làm chuyện kinh thiên động địa, cho dù chỉ xuất phát từ động cơ cá nhân: ước vọng được giàu sang, tiếng tăm, danh vọng. Columbus, Megallan là những thí dụ điễn hình. Những người này chắc hẳn khó thành công trong một thời đại khác với thời kỳ phục hưng.

    Hơn cả những tác động nói trên lên xã hội trung cổ, phong trào phục hưng đi kèm với chủ nghĩa nhân bản thế kỷ 15 cũng có đóng góp rất lớn vào sự phát triển bước đầu cho nền triết học châu Âu. Trước đó thì tư tưởng Aristotle chiếm lĩnh hàng đầu trong toàn bộ hệ thống giáo dục cấp cao. Với sự vươn dậy của chủ nghĩa nhân bản thời phục hưng, đặc biệt trong thời gian hậu bán thế kỷ 15, vai trò của Aristotle mặc dù vẫn còn quan trọng, nhưng đã bị thách thức nghiêm trọng bởi những gương mặt mới. Các trào lưu tư tưởng khác của thời cổ đại ngày càng có nhiều ảnh hưởng trong đời sống văn hóa châu Âu. Triết thuyết Plato, Epicurus, chủ nghĩa hoài nghi (S cepticism), chủ nghĩa khắc kỷ (S toicism) là một vài thí dụ.

    Phục hưng và khoa học tự nhiên

    Không có gì nghi ngờ rằng, một trong những bước nhảy vọt về chất lượng trong lịch sử phát triển khoa học là thời kỳ giữa thế kỷ 15 và giữa thế kỷ 16 – bước nhảy vọt không chỉ trên bình diện lý thuyết, mà nhất là trên phương diện thực hành và cách đặt các vấn đề thực tiễn.

    Bức thư của Petrarca không chỉ là sự diễn đạt một cảm giác từ nội tâm, mà nó mở ra một cách nhìn mới về cuộc đời thế tục với ý thức hưởng thụ cái đẹp trong cuộc đời thực. Điều này đã trở thành điểm thu hút trong mọi quan tâm của con người về sau. Xu hướng đó ngày càng được văn thi sĩ, họa sĩ, nghệ sĩ tạc tượng tiếp nhận và phổ biến trong đời sống văn hóa nghệ thuật. Tác phẩm về thiên nhiên và ca tụng thẩm mỹ ngày càng nhiều. Sự kiện đó đã đánh thức một đam mê mới lạ của những người yêu khoa học. Khám phá những bí mật huyền diệu của thiên nhiên trở thành một giá trị mới trong cuộc sống những nhà khoa học.

    Lần đầu tiên trong lịch sử trung cổ, phương pháp nghiên cứu khoa học tự nhiên trở thành một khái niệm thời thượng rất được ngưỡng mộ trong giới học giả quan tâm đến khoa học. Với tinh thần tự do cá nhân và tư duy độc lập, con người không còn dễ dàng chấp nhận những mặc khải thần thánh về chân lý tuyệt đối, mà họ nhận thức rằng, việc quan sát chính xác và thử nghiệm sẽ mang lại cho họ hiểu biết về bản chất sự vật trong thiên nhiên. Khoa học đã bắt đầu tách rời khỏi thần học. Càng bỏ công nhiều vào việc tìm hiểu thiên nhiên, càng đào sâu vào việc phân tích các hiện tượng thiên nhiên, con người càng thấy rõ hơn cấu trúc bên trong của nó. Và thật huyền diệu biết bao, khi người ta có thể dùng công cụ toán học để biểu diễn những qui luật tự nhiên bên trong của chúng. Người Hy Lạp đã nhận thấy điều này trước đó 2000 năm đã dọn đường một phần từ thế kỷ 14. Đến thời kỳ phục hưng thì Plato nghiễm nhiên chiếm ngự vị trí huy hoàng này, mà giới khoa học thường gọi là cuộc cách mạng Copernicus.

    Ngày hôm nay, chúng ta khó hình dung những khó khăn nào của các khoa học gia có tư tưởng cách mạng như Copernicus trong một xã hội, nơi mà thế giới học giả xem Aristotle là thần tượng, con người thế tục thì xem lời Giáo hoàng là chân lý tuyệt đối, trong một xã hội như thế mà lại có một người học giả không có quyền thế dám đưa ra một lý thuyết mới mẻ đi ngược lại học thuyết Aristotle và đi ngược tinh thần của Thánh Kinh.

    Thật thế, Giáo hoàng Clemens VII” của Copernicus bị giáo hội Thiên Chúa Giáo cấm phổ biến kể từ 1616, và mãi 200 năm sau, lệnh cấm mới được thu hồi vào năm 1822, một cuộc cách mạng lớn trong ngành y khoa, vừa mang tính chất khoa học thực nghiệm, vừa có ý nghĩa nhân văn, triết học và tôn giáo. Bác sĩ nổi danh thế kỷ 19 người Canada, Sir William Osler gọi đó là tác phẩm vĩ đại nhất về y khoa từng được xuất bản. Tất cả được bắt đầu bằng tác phẩm tuyệt diệu của vị bác sĩ 29 tuổi Andreas Vesalius, đúng vào những thập niên hưng thịnh của nền khoa học phục hưng.

    Sau hàng ngàn năm thụ động và duy tâm, con người phục hưng bỗng nhiên tìm thấy trong bản thân mình sức mạnh mới và một ý chí mới với niềm khát khao thay đổi thế giới. Sự giao thông rộng rãi kết hợp với những tri thức mới về toán và vật lý đã làm mọi ước mơ trở thành hiện thực, biến tư tưởng mạo hiểm trở thành những hành động hữu ích cho mình và cho xã hội.

    Các cuộc thánh chiến trong hai thế kỷ 12 và 13 đã đưa người Tây Âu đến tận cửa ngõ Trung Đông và Ả Rập, tiếp cận với những nền văn hóa khác. Các đoàn thương gia đi xa hàng vạn cây số để giao thương buôn bán với các nước ở tận Đông Á. Họ không những mua bán gia vị, tơ lụa mà còn mang về sáng kiến mới, phát minh mới mà họ quan sát được từ những vùng xa xôi đó. Kết hợp với những kiến thức mới về toán và vật lý đi kèm với năng khiếu kỹ thuật, họ biến những sáng kiến từ xa trở thành sản phẩm có ích cho cuộc sống, cải thiện chúng để trở thành công cụ phục vụ cho tiến bộ và giàu có.

    Vài thí dụ. Người Trung Hoa đã phát minh ra đại bác tầm nhỏ từ thế kỷ 12, và phải đợi đến lúc kỹ sư Urban, chấm dứt những cuộc tranh luận nhàm chán về quả đất hình khối hay hình cầu.

    Ngoài những phát minh quan trọng của các vĩ nhân như Copernicus, Vesalius, chúng ta còn chứng kiến trong thời đại phục hưng rất nhiều phát minh và sáng kiến độc đáo phục vụ cho đời sống con người. Thế kỷ 16 là thế kỷ của phát minh khoa học, dẫn dắt châu Âu vào kỷ nguyên mới. Ngành thực vật học đã đến tận người dân giản dị nhất: Trong các nhà tư nhân đã xuất hiện những khu vườn có các loại rau quả sử dụng hàng ngày. Kính soi mặt được phát minh năm 1503 tại Venice, đồng hồ bỏ túi đầu tiên được Peter Henlein người Đức sáng chế năm 1508, khóa số được phát minh tại Ý năm 1550, bác sĩ Ambroise Paré người Pháp phát minh tay chân giả năm 1564, Nhà quang học Hà Lan Sacharias Jansen khám phá kính hiển vi năm 1590, thuốc nổ được đưa vào sử dụng thành công trong ngành khai thác khoáng sản, và tiếp theo những cơn đại dịch sau đó trong hậu bán thế kỷ 14. Sau mỗi đại họa như thế, người ta đặt câu hỏi, tại sao Chúa sáng tạo ra loài người mà có thể nhẫn tâm sinh ra đại họa để thử thách tín đồ. Lòng tin vào Chúa vì thế có suy giảm, nhưng khi đại họa qua đi, mọi chuyện vẫn đâu vào đấy, ít người đặt lại vấn đề niềm tin.

    Nhưng điều đó không ngăn cản những nhà phục hưng âm thầm hoặc công khai phê phán giáo hội Kitô. Họ không đặt lại niềm tin vào Thượng Đế, mà dưới nhiều khía cạnh khác nhau, họ phê phán giáo hội đã đóng sai vai trò của tổ chức đại diện cho Thượng Đế trên trần gian, và cả Giáo Hoàng cũng không tránh được cách nhìn phê phán của người phục hưng. Vài thí dụ tiêu biểu: Nhà thần học Martin Luther, người phê phán giáo hội La Mã và mở đầu cho phong trào cải cách tôn giáo đầu thế kỷ 16. Cùng thời gian đó, nhà nhân bản Desiderius Erasmus dù cực kỳ sùng đạo cũng không ngần ngại sử dụng các tác phẩm văn học của mình để chế diễu cay độc những tội lỗi bên trong giáo hội và mang các vị trong hàng giáo phẩm cao cấp ra làm trò cười dẫn linh hồn về Thượng Đế và đạt đến một viễn tượng huyền bí, nơi mọi sáng tác thi phú đều chấm dứt. Tác phẩm ” Monarchia(Chế độ quân chủ) bị giáo hội đưa vào danh sách cấm lưu hành. Thế cộng sinh giữa chế độ quân chủ và giáo hội Kitô bắt đầu đi vào giai đoạn mới, một cuộc khủng hoảng mới dường như không có lối ra.

    Thêm vào đó, sự vươn dậy của trào lưu nghiên cứu khoa học tự nhiên trong thời đại phục hưng cũng vô hình trung làm cho uy tín của giáo hội ngày càng đi xuống trong giới học giả, nhất là trong thế kỷ 16 và 17, khi giáo hội chính thức phản bác, cấm lưu hành các công bố khoa học hoặc tài liệu phản biện về tôn giáo và chính trị, thậm chí lên án và trừng phạt một số nhà khoa học tiếng tăm. Nicolaus Copernicus, Galilleo Galilei chỉ là vài thí dụ. Đấy là chưa kể, Dante Alighieri trước đó đã phải sống lưu vong hơn 20 năm, cũng do tác động ít nhiều của vị Giáo Hoàng đương thời.

    Sự giảm sút niềm tin của giới khoa học vào giáo hội có nguyên do rất sâu xa: Thánh Kinh và giáo lý Kitô đã đặt một ranh giới không thể vượt qua cho những người muốn tìm tòi nghiên cứu: Khoa học phải ưu tiên phục vụ cho niềm tin, còn chuyện đi tìm chân lý chỉ đóng vai trò thứ yếu. Giờ đây người thế tục tự giải phóng mình ra khỏi ràng buộc đó, và câu hỏi về tôn giáo bị đẩy lùi vào hậu trường. Họ đặt cho khoa học nhiệm vụ phải phá vỡ chiếc cầu nối đến niềm tin tôn giáo, chứ họ không thể thuần phục niềm tin và từ bỏ khát vọng tìm tòi khám phá tri thức mới. Lý tưởng của người sùng đạo nhiệt thành về cuộc đời khổ hạnh không còn là một giá trị cho con người có học thức trong thời đại phục hưng noi theo. Giáo hội đã sa đọa đến độ mà John Wiclif còn cho rằng thế giới Kitô sẽ thiêng liêng hơn, nếu không có Giáo Hoàng và các Đức Hồng Y.

    Điều đó cũng có thể cắt nghĩa được. Tôn giáo là một hệ thống mang tính chất văn hóa và ý thức hệ của xã hội. Một hệ thống như thế khó lòng chuyển hóa triệt để, nếu không có những biến cố chấn động từ bên trong và sự trợ lực từ bên ngoài của các lực lượng mới thành hình có đầy đủ sức mạnh và ý chí hành động. Châu Âu trong thế kỷ 14 và 15 vẫn còn trong quá trình củng cố và phải đối phó với nhiều vấn đề có thể đe dọa sự tồn tại của các quốc gia.

    Sức mạnh của giáo hội và uy tín của Giáo Hoàng bắt đầu lung lay sau khi giới học giả tiếp cận ngày càng nhiều triết học Hy Lạp cổ đại, vốn dĩ được phát triển trong xã hội đa thần và xem “con người là thước đo của vạn vật” (Protagoras), chứ không phải thần thánh hướng dẫn cuộc sống trên trần thế. Khi chủ nghĩa nhân bản trở thành một trào lưu văn hóa sống động kể từ đầu thế kỷ 15, con người suy nghĩ độc lập hơn, hành động theo lý tính chứ ít thiên về niềm tin. Bước sang thời đại phục hưng, hệ thống triết học phong phú hơn, tinh thần nghiên cứu khoa học phát triển mạnh hơn, ý thức phản kháng cao hơn, cho nên vai trò Giáo Hoàng ngày càng lu mờ và sức mạnh của giáo hội dường như bắt đầu sụp đổ. Phong trào phục hưng đã hoàn tất những bước chuẩn bị sau cùng. Cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther khởi động chắc hẳn không phát triển mạnh mẽ như chúng ta biết, nếu không có những thành quả của phong trào phục hưng đi trước lót đường.

    Từ một giáo hội xa hoa, đầy quyền lực và sa đọa cho đến lúc phải cải cách, quá trình cũng kéo dài mất nhiều thế kỷ. Thực thể đó cho chúng ta một bài học muôn thuở rằng, không có một tổ chức thoái hóa nào có thể tự cải cách, xuất phát từ lòng tốt của những con người trong đó, mà áp lực từ bên dưới là yếu tố cần thiết để thúc đẩy quá trình chuyển hóa. Những con người phục hưng đã tạo được sức ép cần thiết để buộc giáo hội phải cải cách. Nhưng vì cuộc cải cách đến quá chậm, cho nên cuối cùng thế giới Kitô bị phân hóa làm nhiều tông phái khác nhau cùng thờ một Chúa. Đấy là chưa kể bao nhiêu cuộc chiến tranh đẫm máu sau đó vì hiềm khích tôn giáo, mà thảm khốc nhất là cuộc chiến tranh hủy diệt trên toàn châu Âu kéo dài 30 năm từ 1618 đến 1648. Nguồn gốc đưa đến hậu quả chia rẽ này và những thảm họa đi kèm không phải là ý muốn từ bỏ niềm tin Kitô, mà là sự phản kháng chống lại đời sống xa hoa sa đọa và sự lạm dụng quyền lực của giáo hội La Mã. Sau thời đại phục hưng, người ta chỉ gọi là giáo hội Thiên Chúa Giáo. Trong thực tế thì vẫn còn một thế giới Kitô với nhiều tông phái, nhưng nếu hiểu giáo hội là tổ chức có vai trò lãnh đạo tinh thần cho giáo dân, thì cụm từ giáo hội Kitô không còn ý nghĩa và trên thực tế nó cũng không còn tồn tại kể từ cuối thế kỷ 16.

    Phục hưng và ý thức quốc gia

    Khi thế kỷ 14 chấm dứt, châu Âu bắt đầu bước vào con đường dẫn đến chế độ tập trung. Thế kỷ 15 tiếp nối và hoàn thiện xu hướng đó, một xu hướng còn tiếp tục phát triển suốt vài thế kỷ tiếp theo. Thế kỷ 15 đã làm sống dậy những sáng kiến và quan tâm về các giá trị phổ quát, đồng thời các tính chất đặc thù địa phương dần dần biến mất, để nhường chỗ cho sự hợp nhất thành một tổng thể rộng lớn hơn chưa bao giờ có trước đó, ấy là ý thức về quốc gia và nhà nước. Quá trình này được hoàn tất trong thế kỷ 16 và 17, nhưng các bước chuẩn bị đã được bắt đầu từ thế kỷ 15. Medici của Ý hoặc Fugger của Đức là vài thí dụ.

    Chúng ta thử lướt qua vài đặc trưng trong quá trình phát triển ý thức quốc gia ở một vài nước lớn của châu Âu.

    Ở bán đảo Ý, tư tưởng quốc gia xuất phát từ sáng kiến xây dựng thế mạnh về thương mại đạt được từ các cộng hòa đang dẫn đầu châu Âu, đồng thời duy trì vị trí lãnh đạo của các trung tâm văn hóa nghệ thuật đang còn nằm rải rác ở nhiều cộng hòa khác nhau, mỗi nơi có một nhà nước thành phố khác nhau. Với dân số chưa tới một triệu người, các cộng hòa riêng lẻ đó không tạo được sức mạnh cần thiết, đủ để đối chọi với với các thế lực lớn đang bắt đầu ngoi lên trên lục địa. Thống nhất nước Ý là một xu hướng tất yếu, được bắt đầu khởi dậy từ cuối thế kỷ 15. Sáng kiến này trong các cộng hòa nhỏ ngày càng rõ nét, giúp cho các vùng khác của châu Âu tìm đường thoát khỏi gọng kìm của một bên là hệ thống phong kiến của nhà nước thế tục và bên kia là bóng mây của hệ thống quyền lực sa đọa trong nhà nước thần quyền. Riêng tại Ý, sự chuyển hóa đến quá chậm cho nên một vài vùng của Ý bị Pháp và Tây Ban Nha thôn tính cuối thế kỷ 15, và Ý phải đợi thêm vài thế kỷ nữa để giấc mơ thống nhất quốc gia mới trở thành hiện thực.

    Ở Pháp và Anh, ý thức quốc gia đặc biệt phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn chiến tranh 100 năm độc lập nhau. Phải đợi đến 1492, khi hai vợ chồng Ferdinand II (Vua xứ Aragon) và Isabella I (Hoàng hậu xứ Castilla) đánh bạt đội quân Islam ra khỏi lãnh địa cuối cùng là Granada, chấm dứt gần 800 năm hiện diện của khối Islam trên bán đảo Iberia, Vương quốc Tây Ban Nha mới trở thành một nước thống nhất với tên gọi Kingdom of Spain cho tới hôm nay. Mặc dù các ngôn ngữ địa phương như Catalian, Galician, Basque vẫn còn tồn tại ở các địa phương đó cho đến bây giờ, ngôn ngữ Castillian mà chúng ta quen gọi là Spanish trở thành ngôn ngữ quốc gia thống nhất.

    Qua lịch sử của các nước kể trên trong thế kỷ 15, chúng ta có thể kết luận rằng, ý thức quốc gia và tinh thần yêu nước phát triển mạnh mẽ nhất khi họ phải tiến hành chiến tranh chống ngoại xâm. Đoàn kết là tính chất cần thiết để tạo nên sức mạnh đối kháng. Nhưng khi chiến tranh chống ngoại xâm chấm dứt thành công, không ai bảo đảm rằng ý thức quốc gia sẽ tiếp tục tồn tại và một quốc gia thống nhất sẽ thành hình. Giữa những vùng gần gũi nhau, cùng chung tiếng nói và phong tục tập quán giống nhau, họ cần một chất keo vững chắc hơn để nối kết các thành viên lại với nhau. Chất keo đó chính là kho tàng văn hóa tích lũy được từ nhiều thế hệ. Ngôn ngữ và phong tục tập quán phải được thể hiện thành những tác phẩm đọc được, thấy được, sờ mó được. Đó là kho tàng văn chương, thơ phú bằng tiếng mẹ đẻ, là hội họa, điêu khắc của người “đồng hương” sáng tác, là các công trình kiến trúc xuất hiện lồ lộ trong địa phương. Kho tàng văn hóa ấy là chiếc gương soi để người dân có thể nhìn thấy bóng mình phản chiếu trong các tác phẩm. Văn hóa nghệ thuật phục hưng đã đặt nền móng vững chắc ban đầu để làm tròn chức năng đó.

    Ý thức quốc gia được đánh thức lần đầu nhưng vô cùng mạnh mẽ từ những áng văn thơ sáng tác bằng tiếng Ý của Dante Alighieri và sau đó là Francisco Petrarca và Giovanni Boccaccio. Hai tập thơ bất tử của Dante – Cuộc đời mới (Vita Nova) và Hài kịch thần thánh (Divina Commodia) – và những tác phẩm nổi danh khác của Petrarca và Boccaccio là những biểu tượng cho trào lưu sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ không những trên nước Ý mà dần dần lan tỏa lên các nước khác trên lục địa châu Âu.

    Kể từ thế kỷ 15, la-tinh cổ điển trở thành ngôn ngữ ngoại giao thống nhất tại châu Âu, thậm chí có những tác giả thành danh – thí dụ như nhà thơ Anh John Milton.

    Tác giả: Tôn Thất Thông, CHLB Đức (Độc giả có quyền đăng lại hoặc trích dẫn không giới hạn, nhưng cần ghi rõ nguồn. Để theo dõi nội dung này một cách đầy đủ hơn, xin mời quí vị tham khảo các sách về “Văn minh châu Âu” của cùng tác giả)

    Kể từ đây, mỗi nước có một nền văn hóa độc đáo riêng để người dân hãnh diện, có tiếng nói riêng, chữ viết riêng. Ý thức quốc gia đã định hình rõ rệt trong thế kỷ 17, một xu hướng không thể nào đảo ngược trên mọi vùng châu Âu. Từ đó về sau, lịch sử cho chúng ta thấy rằng, nước nào mà ý thức quốc gia và tinh thần dân tộc không đủ mạnh, nước đó không trước thì sau cũng sẽ bị kẻ khác đến dòm ngó và thôn tính.

    Nhưng dù ý thức quốc gia với biên giới rõ ràng của nó ngày càng cao, và cho dù tiếng nói cũng khác nhau, điều đó cũng không ngăn cản sự giao lưu văn hóa giữa các vùng xa xôi trên lục địa nhờ sự gắn kết từ lâu thông qua một ngôn ngữ học thuật giống nhau là tiếng la-tinh và một niềm tin Kitô giáo giống nhau. Chất keo gắn kết tạo được trong thế kỷ 15 và 16 rõ ràng được chắt lọc từ các thành quả của phong trào phục hưng.

    Tài liệu tham khảo

      Böckle, Franz & Franz-Xaver Kaufmann, Karl Rahner, Bernhard Welte chủ biên

    Niềm tin Kitô trong xã hội hiện đại, Tập 19 (Christlicher Glaube in moderner Gesellschaft, Teilband 19). ISBN 3-451-19219-5

    Florence trong thời kỳ phục hưng (Florenz in der Renaissance – Claudia Preuschoft dịch từ tiếng Anh: Renaissance Florence). ISBN 3-499-55480-1

    Trò chuyện triết học. Nhà xuất bản Tri Thức, 2012

    Văn hóa phục hưng ở Ý (Die Kultur der Renaissance in Italien). ISBN 3-933-20389-9

    Thời kỳ Phục hưng ở Ý. Lịch sử xã hội của nền văn hóa giữa truyền thống và phát minh (Die Renaissance in Italien. Sozialgeschichte einer Kultur zwischen Tradition und Erfindung – Reinhardt Kaiser dịch từ tiếng Anh: Culture and Society in Renaissance Italy). ISBN 3-8031-3521-4

    1001 phát minh thay đổi thế giới (1001 Inventions that changed the world). ISBN 978-1-84403-611-0

    Lịch sử văn minh 6: Thời đại cải cách (The story of civilization 6: The Reformation). ISBN 1-56731-017-6

    Huy hoàng và sụp đổ của phong trào phục hưng Ý (Glanz und Verfall der italienischen Renaissance – Margrit Lang dịch từ tiếng Anh). ISBN 3-548-36108-0

    Aristotle, Einstein và những người khác (Aristoteles, Einstein & Co.). ISBN 3-492-03778-X

    Đọc và hiểu Dante (Endlich, Dante lesen und verstehen. Marc Reichwein phỏng vấn GS Kurt Flasch). http://www.welt.de ngày 25.5.2015

    Lịch sử Văn minh châu Âu (The History of Civilization in Europe – William Hazlitt dịch từ tiếng Pháp: Histoire Générale de la Civilisation en Europe). Penguin Books 1997

    Phục hưng – Trở về thời cổ đại (Die Renaissance – Die Rückwende zur Antik – Siglinde Summerer dịch từ tiếng Anh). ISBN 3-426-03630-4

    Những nhà kinh điển của triết học, Tập I (Klassiker der Philosophie I). ISBN 3-406-08048-0

    Sự huy hoàng của Phục Hưng (Der Glanz der Renaissance. Anne Spielmann dịch từ tiếng Anh: Wordly Goods. A new history of the Renaissance). ISBN 3-471-79360-7

    Thời Phục Hưng – Một lịch sử tóm tắt (The Renaissance – A short history). ISBN 978-0-8129-6619-0

    1. Kuester, Hildegard chủ biên & nhiều tác giả

      Thế kỷ 16 – Thời phục hưng ở châu Âu (Das 16. Jahrhundert – Europäische Renaissance). ISBN 3-7917-1468-6

    2. Maddison, Angus

    Kinh tế thế giới – Tập I và II (The World Economy – Volume I & II). ISBN 92-64-02261-9

    Từ điển tường giải phong trào phục hưng (Enzyklopädie der Renaissance – Hermann Teifer dịch từ tiếng Anh: The Renaissance: An Illustrated Encyclopaedia. ISBN 3-7611-0725-0

    Thành tố cơ bản của thế giới hiện đại (Die Grundlegung der Modernen Welt – Helga Brissa, Heinz Wismann và Egbert Türk dịch từ tiếng Ý: Alle origini del mondo moderno). ISBN 3-828-90400-9

    Lịch sử châu Âu (Geschichte Europas). ISBN 3-771-30169-6

      Schmid, Marion chủ biên & nhiều tác giả

    Nhân bản, Phục hưng, Cải cách – các nhà nghiên cứu và triết gia (Humanismus, Renaissance und Reformation – Forscher und Philosophen). ISBN 3-596-17023-0

      Stevenson, Leslie; Haberman, David L. & Wright, Peter M.

    Mười hai học thuyết về bản tính con người (Lưu Hồng Khanh dịch từ tiếng Anh: Twelve Theories of Human Nature). ISBN 978-604-956-006-4

    Phong trào phục hưng ở Ý (Die Italienische Renaissance). ISBN 3-7701-0990-2

    Lịch sử của tri thức (Geschichte des Wissens – Anita Ehler dịch từ tiếng Anh: A history of knowledge). ISBN 3-764-35324-4

    Triết học thời kỳ phục hưng (Philosophie der Renaissance). ISBN 3-499-55242-6

    Ghi chú

    , R. Romano và A. Tenenti, trang 144. “Xứ hoàng hôn (Abendland – Occident) là thuật ngữ quen thuộc để chỉ vùng văn hóa Tây Âu để phân biệt với Xứ rạng đông (Morgenland – Orient).

    Ferdinand Magellan dẫn đầu đoàn thuyền 5 chiếc với 237 người để thám hiểm vòng quanh quả đất. Cuối cùng, Magellan chết trong một cuộc xung đột với dân bản xứ ở Phi Luật Tân, nhưng phó đoàn Sebastian Del Cano đã đưa được chiếc tàu cuối cùng Victoria với 31 thủy thủ đi đúng một vòng quả đất trở về khởi điểm Sevilla, Tây Ban Nha.

    Thật ra, không có một thống kê nhất quán về số người chết. Người ta phỏng đoán bằng những số liệu tượng trưng đâu đó giữa 1/4 đến 1/2 dân số bị tử vong.

    Cuộc chiến tranh kéo dài từ 1337 đến 1453. Trong cuộc chiến đó, Jeanne d’Arc vươn lên như một thiên thần, góp phần xây dựng bản sắc dân tộc Pháp trong thế kỷ 15. Jeanne d’Arc sau này được phong Thánh và tôn vinh là “huyền thoại quốc gia” Pháp.

    [45] Sáu vương quốc là: Portugal, Léon, Navarra, Aragon, Castilla và Cordoba. Riêng Portugal đã trở thành Kingdom of Portugal độc lập từ năm 1139.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Trần Hoàng Gia Huy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Trần Tuấn Hưng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Trần Phúc Gia Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Tuấn Hưng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Phạm Nguyễn Gia An Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Ý Nghĩa Tên Hưng Và Những Tên Đệm Cho Bé Tên Hưng Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Tên Phương Và Cách Đặt Tên Đệm Cho Bé Tên Phương
  • Nguồn Gốc Địa Danh Củ Chi
  • Tên Nguyễn Hà Chi Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Hà Chi Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Đặt Tên Cho Con Bùi Lệ Chi 47,5/100 Điểm Trung Bình
  • Bạn muốn đặt tên cho con là Hưng nhưng bạn lại không biết ý nghĩa tên Hưng là gì? Bạn cũng biết nên đặt tên đệm cho con như thế nào cho ý nghĩa và thể hiện tình cảm tốt đẹp mà bạn muốn dành cho bé? Vậy thì mời bạn theo dõi bài chia sẻ sau đây của chúng tôi

    Đặt tên cho con là một trong những chuyện tốn nhiều thời gian của các bậc phụ huynh. Bởi vì cái tên không chỉ theo con đến suốt cuộc đời mà nó còn chứa đựng tình cảm và niềm hy vọng của ba mẹ vào tương lai của con. Do đó khi đặt tên cho con ba mẹ luôn chọn những cái tên hay và phù hợp với con nhất. Vậy ý nghĩa tên Hưng là gì?

    • Hưng trong ý nghĩa là Hưng Thịnh. Ở đây từ Hưng được hiểu là sự phát triển một cách thịnh vượng và vượt bậc. Sự phát triển này mang lại nhiều may mắn và tài lộc. Đồng thời nó cũng là một ý chỉ sự đi lên với tốc độ nhanh chóng theo hướng tốt đẹp.
    • Hưng trong nghĩa phát triển ở đây có nghĩa là hướng đi lên của sự vật và hiện tượng tạo điều kiện cho sự phát triển và tăng trưởng mới với tốc độ và quy mô lớn hơn.
    • Hưng trong ý nghĩa là Khởi sự tức là những điều đầu tiên, mới bắt đầu và hành động để thực hiện những kế hoạch đã đặt ra. Nếu như khởi sự tốt thì thành công sẽ gõ cửa và đem lại nhiều may mắn hơn.

    Qua những tìm hiểu ở trên chúng ta có thể thấy được tên Hưng là một cái tên hay mang nhiều ý nghĩa sâu xa về tương lai. Do đó việc đặt tên Hưng cho con luôn nằm trong top những cái tên hay nhất.

    Bí quyết chọn tên đệm cho Baby tên Hưng thật ý nghĩa

    Để tên con được hay và ý nghĩa thì phần chọn tên đệm cũng rất quan trọng. Cụ thể sau đây là một số tên đệm hay bạn có thể tham khảo như sau:

    Theo chuyên gia phong thủy Bảo ở đây được hiểu là bảo vật, những vật trân quý nhất thường được bảo vệ và tôn sùng. Còn từ Hưng được hiểu theo nghĩa là trỗi dậy phát triển theo chiều hướng tích cực và thịnh vượng. Nếu ghép hai từ lại với nhau chúng ta được từ Bảo Hưng bao hàm ý nghĩa mong muốn con sau này có được một cuộc sống sung túc, hưng thịnh và phát triển tương lai một cách mạnh mẽ nhất.

    Gia trong đây được hiểu theo nghĩa là gia đạo, gia đình. Còn từ Hưng theo nghĩa Hán Việt được hiểu là hưng thịnh và phát triển một cách phồn thịnh. Đặt tên con là Gia Hưng tức là ba mẹ mong muốn con sẽ làm gia đình thịnh vượng và phát triển mạnh mẽ.

    Khánh ở đây được hiểu là vui tươi và hạnh phúc. Còn từ Hưng ở đây được hiểu là hưng thịnh và phát triển một cách mạnh mẽ. Đặt tên con là Khánh Hưng tức là ba mẹ mong muốn con luôn gặp nhiều hạnh phúc và vui vẻ trong suốt cuộc đời

    Theo nghĩa Hán – Việt thì Phúc Hưng ở đây được hiểu với lớp nghĩa như sau. Phúc trong phúc đức, may mắn và hạnh phúc đong đầy. Còn từ Hưng được hiểu trong sự phát triển đi lên vượt bậc hơn người. Việc đặt tên con là Phúc Hưng thể hiện niềm mong muốn của ba mẹ, mong con có thể hạnh phúc cả đời và có tương lai sáng lạng. Sống với những gì con mong muốn là niềm mong mỏi của ba mẹ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Tên Cho Con Ngô Bảo Ly 47,5/100 Điểm Trung Bình
  • Ý Nghĩa Tên Bảo Ngọc, Ý Nghĩa Của Tên Bảo Ngọc Là Gì?
  • Tên Hồ Bảo Hy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Đinh Bảo Hà Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Giới Thiệu Chung Về Khu Di Tích Lịch Sử Và Danh Thắng Yên Tử
  • Ý Nghĩa Tên Hưng Là Gì? Đặt Tên Đệm Hay Cho Tên Hưng

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Tên Hiền Là Gì Và Top #4 Tên Đệm Hay Nhất Dành Cho Hiền
  • Ý Nghĩa Tên Tiếng Anh Của Các Cô Gái
  • Sự Thật Nghệ Danh Chi Pu, Sơn Tùng, Jack, Erik: Đặt Theo Thần Tượng, Kỉ Niệm
  • Giải Đáp Ý Nghĩa Tên Khoa Theo Phong Thủy
  • Ý Nghĩa Tên Liên Là Gì Và Gợi Ý Tên Đẹp Có Chữ Liên Cho Con
  • 1.Ý nghĩa tên Hưng là gì?

    • Hưng trong ý 

      nghĩa là sự

       

      phồn thịnh

      . Ở đây 

      từ

       Hưng được hiểu là sự 

      tăng trưởng

       

      1

       

      phương pháp

       

      hưng thịnh

       vượng và 

      vượt bậc

      . Sự 

      vững mạnh

       này 

      đem đến

       

      phổ biến

       may mắn và tài lộc. 

      song song

       nó cũng là 

      1

       ý chỉ sự đi lên 

      sở hữu

       tốc độ 

      mau chóng

       theo hướng 

      tốt

       đẹp.

    • Hưng trong nghĩa 

      phát triển

       ở đây 

       

      tức là

       hướng đi lên của sự vật và hiện tượng 

      giúp cho

       sự 

      lớn mạnh

       và 

      lớn mạnh

       mới 

      với

       tốc độ và quy mô 

      lớn

       hơn.

    • Hưng trong ý 

      nghĩa là

       

      cử sự

       

      tức là

       

      những

       điều 

      đầu tiên

      , mới 

      bắt đầu

       và hành động để 

      thực hành

       

      các

       kế hoạch đã đặt ra. 

      ví như

       

      khởi sự

       

      phải chăng

       thì thành công sẽ gõ cửa và 

      đem lại

       

      phổ biến

       may mắn hơn

    2.Đặt tên đệm cho tên Hưng hay

    • Gia Hưng: mang ý nghĩa là người làm hưng thịnh gia đình, dòng tộc

    •  Khánh Hưng: mang ý nghĩa  Con sẽ có cuộc sống vui tươi, hưng thịnh

    • Long Hưng (Hưng Long): Hưng Long” mang ý nghĩa con sẽ như loài rồng mạnh mẽ, trí tuệ tinh anh, mang đến hưng thịnh, sung túc cho cả gia đình

    • Phúc Hưng: mang ý nghĩa  Phúc đức của gia đình và dòng họ sẽ luôn được con gìn giữ, phát triển hưng thịnh

    • thế Hưng: mang ý nghĩa Mong muốn cuộc sống của con luôn hưng thịnh và gìn giữ được cuộc sống sung túc bền vững.

    • Chấn Hưng: Theo phong thủy cho biết, Chấn Hưng mang nghĩa Con ở đâu nơi đó sẽ thịnh vượng

    • Kim Hưng:Mong muốn tương lai con có cuộc sống giàu sang phú quý sung túc đầy đủ hưng thịnh

    • Nhật Hưng: Mong muốn con có cuộc sống sung túc, tương lai tươi sáng.

    • Quốc Hưng:Con sẽ có cuộc sống sung túc, hưng thịnh

    • Thiên Hưng:Con có cuộc sống sung túc hưng thịnh của trời ban

    • Vĩnh Hưng:Mong muốn con có cuộc sống sung túc hưng thịnh và bền vững lâu dài

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Tên Châu Là Gì & Top #2 Tên Đệm Hay Nhất Dành Cho Tên Châu
  • Lý Thuyết Phản Ứng Oxi Hóa Khử Lớp 10 Và Giải Bài Tập Sgk Trang 83
  • Ý Nghĩa Của Bảng Tuần Hoàn Nguyên Tố Hóa Học Đầy Đủ Nhất
  • Ý Nghĩa Một Số Tên Hay Cho Bé Trai
  • Sky Là Gì? Tại Sao Trên Facebook Fan Sơn Tùng Mtp Lại Gọi Là Sky?