Quy Y Và Tên Pháp Danh

--- Bài mới hơn ---

  • Tên Đinh Công Danh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Công Danh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Công Danh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • 99+ Tên Biệt Danh Hay Nhất, Biệt Hiệu Hay, Độc Và Bá Nhất Mọi Thời Đại
  • Đặt Tên Cho Con Diệu Thúy 65/100 Điểm Tốt
  • Khai tâm chơn chánh xua màn tối Mở trí thông hành xóa mây mưa Y áo sửa sang lo trọn vẹn Mõ Chuông chỉnh đốn để xin thưa Mười phương phát nguyện cùng Tam Bảo

    Lạy Phật quy y cũng đã vừa!

    – ( Nguyễn Tâm)

    Theo đạo Phật tức là chúng ta hành theo những điều chỉ dạy của đức Phật về sự từ bi vô lượng, thương độ hữu chúng sinh. Những người hay đi chùa thì đều biết về Tam quy ngũ giới. Đó là nơi chúng ta có thể trở về tìm lại suối nguồn chân hạnh phúc mà ta đã vô tình đánh mất từ thửa nào, một nơi nương tựa tâm linh vững chắc, quay về nương tựa Tam Bảo đó cũng chính là lúc chúng ta có một cuộc sống có ý nghĩa và an lành hơn.

    Giáo lý nhà Phật, cũng như đức Phật có quy định là có bốn hàng đệ tử Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni là những người xuất gia, còn Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di là những cư sĩ tại gia là cận sự nam và cận sự nữ luôn phụng sự Tam bảo. Theo một lẽ thông thường thì để có pháp danh tức nói nôm na là tên ở chùa thì cần phải Quy y Tam Bảo. Cái tên đó do sư thầy bổn sư đặt và lúc đó chúng ta mới là một phật tử chân chính, đệ tử của đức Phật. Đệ tử tại gia thì sẽ làm lễ Quy y trở thành một đệ tử của đức Phật và thọ năm giới.

    Đối với một số chùa thì ngày Rằm, lễ lớn hay chùa đó tổ chức Quy y thì đệ tử sẽ phải có mặt. Trong lễ Quy y đối với một số nơi vùng sâu, xa xôi thì có thể tại tư gia của một gia đình phật tử, ở đó thiết lập một bàn thờ Phật và một bàn cho sư thầy bổn sư, sau đó thầy sẽ làm lễ Quy y, truyền năm giới cơ bản cho phật tử tại gia rồi thầy sẽ đặt tên (pháp danh). Tên pháp danh thì sẽ tùy theo thầy bổn sư đặt có thể là theo dòng kệ các phái, cũng có thể đặt theo tên chùa hoặc đặt nữ là Diệu nam là Tự hay Thiện… cái đó sẽ tùy mỗi cách đặt tên của thầy bổn sư.

    Chúng ta sống ở đời nhiều nên sẽ có những tập khí của cuộc sống ngoài đời, nên theo cá nhân con xin pháp danh qua mạng sẽ giống như chúng ta xin một món đồ, món ăn… Vậy tại sao ngay bây giờ mình không tách riêng biệt giữa đời và đạo, con nghĩ như vậy mình sẽ có cơ hội nhận diện bản thân mình rõ hơn.

    Có nhiều người xin các thầy đặt cho một pháp danh qua mạng thì con chỉ có vài điều chia sẻ rằng đó chỉ là tên gọi mà thôi và khi đã xin pháp danh tức là chúng ta đang hạnh theo lời đức Phật, thiên hướng một phần ý niệm về Phật giáo. Vậy tại sao chúng ta không thu xếp một ngày nào đó tới một ngôi chùa và bạch thầy trụ trì xin làm lễ Quy y Tam Bảo và trong lễ Quy y đó sẽ có tên pháp danh. Con thấy hành động đó rất dễ thương. Điều đó không mấy khó khăn mà còn rất ý nghĩa.

    Hãy xem trong một bát canh Oán sâu thành biển, hận thành non cao Muốn xem nguồn gốc binh đao Lắng nghe lò thịt tiếng gào đêm thâu

    Đường đời có muôn vạn nẻo, luôn bị đắm chìm trong biển khổ, chạy theo những lầm lũi vô minh, luôn sống trong nghiệp lực, vô định không biết đâu là bến bờ của hạnh phúc và sự giải thoát. Có bao giờ chúng ta tự hỏi mình “Mình đang tồn tại đó nhưng thật sự đã sống trọn vẹn trong từ sống đó chưa?” Quay về nương tựa hải đảo tự thân, chánh niệm là Phật soi sáng xa gần…Tam Bảo là thuyền từ cứu độ đưa người vượt qua sông mê, là ánh tuệ đăng soi sáng màn đêm u tối, đem đến an vui hạnh phúc cho tất cả mọi người.

    Diệu Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tphcm Có 40 Tên Đường Viết Sai Tên Danh Nhân Có Công Với Đất Nước
  • Đặt Tên Cho Con Nguyễn Đông Quân 80/100 Điểm Cực Tốt
  • Tên Con Nguyễn Đông Quân Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Đông Nghi Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Ngọc Diễm Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Pháp Danh Sau Khi Tự Quy Y

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 7 Pháp Sư Mạnh Nhất Trong Anime
  • Tên Tiếng Trung 2022 ❤️ Top 1001 Tên Trung Quốc Hay Nhất
  • Tên Quán Nhậu Độc Lạ
  • Tên Các Loại Rượu Mạnh Nổi Tiếng Trong Pha Chế Bar Nhà Hàng
  • 27 Loại Rượu Mùi Nổi Tiếng Thế Giới
  • Sau khi có Pháp danh từ đó phải luôn nhớ:

    PHÁP DANH?

    Soạn giả Pram Nguyen

    Ngày 26/3/2020

    — o0o —

    Chúng sanh trong tứ sanh lục đạo, sanh ra đều có hai vị Thần Hộ mạng là Đồng Sanh hay Câu Sanh Thần và Đồng Danh Thần.

    Khi chúng ta sanh ra, hoặc Cha hoặc Mẹ, hoặc cả Cha và Mẹ hay Ông Bà đặt tên, chớ bản thân mình không hề tự đặt cho mình cái tên!

    Lớn lên đi học, bạn bè lại đặt tên! Rồi đi làm bạn cùng sở đặt tên hay Chủ nhân đặt tên!

    Khi quy y Tam Bảo trong Chùa hay vào Nhà Thờ rửa tội cũng lại có tên!

    Ta hỏi các cháu (đêm qua inbox) hay như bạn Angel Nguyễn:

    “Chú ơi cho con hỏi, nếu mình tự qui y theo cách này thì Pháp Danh của mình sẽ lấy dựa theo gì ạ, và con nhỏ muốn qui y tại gia nhưng ý thức chưa có thì mẹ có thể làm thế nào để qui y cho con mình ạ? Con xin nhờ chú bày dạy ạ ”

    Pram Nguyen ta trả lời:

    – Angel Nguyễn “Pháp danh chỉ là cái giả sao phải bận lòng?”

    Có đứa nói mình quy y HT Thanh Từ, còn đứa khác nói HT Trí Tịnh, Trí Quảng, v.v… Sư Ông là Lão Pháp Sư Tịnh Không, lại có đứa nói Sư Ông là Thiền Sư Nhất hạnh, hay Thầy Chân Tính Chùa Hoằng Pháp, Thầy Giác Nhàn, …quả là những danh sư tiếng tăm đồn khắp, quả là những bậc Thầy thiên hạ; nhưng hình như chẳng vị nào “xuất cao đồ” cả!

    Nầy các bạn (lớn tuổi), nầy các cháu! Ta hỏi nhỏ, có khi nào quí bạn hay các cháu đến gặp HT Thanh Từ, hay Sư Ông Tịnh Không, Nhất Hạnh, v.v… và chư vị nhận ra, “thằng nầy/Con nhỏ nầy quy y ta lúc gặp tại … ta ban pháp danh là …” hay không?

    – Dĩ nhiên, chỉ có những người có máu mặt, giàu sang, quyền thế thì nhớ! Kỳ dư, “phải nhắc ta mới nhớ”. Vậy thì quy y làm gì?

    – Chư vị dạy các quí bạn và các cháu những gì?

    Nghe ta khuyên, sau khi Tự Quy Y, thấy hảo mộng, thì xem mình thích vị Phật hay Bồ Tát nào ghi Pháp danh như vầy.

    Thật ra, chúng ta đã có Bổn Sư là đức Thích Ca Mưu Ni Phật rồi, cần gì phải trông cậy vào người thế tục? Nói là như vậy, nhưng đó là Bồ-Tát, không phải mình, nên cần có vị Y-chỉ Sư, tức là vị Thầy mình có thể y theo Chánh-Pháp mà học (xem KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, Thích Trí Tịnh dịch, Phẩm Tứ Y và Phẩm Chánh Tà), vậy tìm đâu ra? Nếu chưa thì lấy chữ THÍCH làm gốc rồi lấy tên cúng cơm của mình làm ngọn; nhưng đó là đặt quyền của hàng xuất gia, nếu lấy THÍCH thì rất phiền toái!

    Vậy thì A-Di-Đà, hay Vô-Lượng Quang, hoặc Vô Lượng Thọ, v.v… A + tên mình, ví dụ người Hoa thường gọi là A-Phón, A chảy….hay chữ Vô + tên mình, v.v… Nếu lấy Bồ Tát Văn/Mạn Thù Sư Lợi chữ đầu thì Văn (họ nầy phổ thông ở miền Trung) + tên mình…

    Sau khi lựa ra 5-7 tên thì xếp lại để trên bàn thờ trong một cái chén, xào lên ba lần. Cúng Phật, tụng Kinh liên tiếp 7 ngày, rồi ân cần dâng chén lên trán, đưa tay vào bốc 1 tấm giấy. Mở ra tên nào là Pháp danh của mình. Pháp thức nầy dựa trong KINH VIÊN-GIÁC, không phải ta nói bừa.

    Sau khi có Pháp danh từ đó phải luôn nhớ:

    1) Phật Thích Ca Mưu Ni là đức Bổn Sư, hay tu theo Mật Tông Tây Tạng thì ngài là Đạo-Sư Gốc.

    2) Vị Phật hay Bồ-Tát mà mình bốc trúng là Y-Chỉ Sư.

    3) Từ Phụ là Phật Thích-Ca Mưu-Ni nếu phát thệ tái sanh Ta-Bà học Chánh-Pháp Kim Cang Thừa hay Câu Sanh Khởi Thừa.

    4) Nếu tu Thiền hay tu theo Mật Tông muốn có thắng duyên thì cầu sanh Diệu Hỷ thế giới, tôn Phật A-Súc-Bệ hay Bất Động Như-lai làm Từ Phụ (Xem KINH DUY-MA-CẬT SỞ-THUYẾT, KINH ĐẠI BẢO-TÍCH, Pháp Hội A-Súc Bệ Phật)

    5) Nếu trước giờ cầu sanh Cực-Lạc thì Từ Phụ là Phật A-Di-Đà.

    Từ đó về sau phải tìm Kinh-văn nói về vị Phật hay Bồ Tát nầy mà đọc, không đọc các Kinh văn khác, thì không mang tội trộm Pháp!

    Trước khi ngũ phải nhớ về Tứ Vô Lượng tâm (Từ-Bi-Hỷ-Xả), phát nguyện, rồi nhớ nghĩ đến vị Phật hay Bồ Tát nào mình nhận làm Thầy, tưởng ngài ngồi trên gối của mình nằm hằng đêm, đầu mình đặt trên bắp đùi của ngài mà quán niệm, đi vào giấc ngũ thì sẽ KHÔNG BAO GIỜ bị ác mộng, bóng đè, thỉnh thoảng lại được hảo mộng, thấy Phật, Bồ Tát, bông sen, thiên cung, v.v…

    Pháp nầy do ta chỉ, nếu hành đúng là phước cho Nhân Thiên hai cõi; nếu làm sai thì cũng chẳng tội vạ gì.

    • Nếu độc thân thì có thể lên ngũ dưới bàn thờ, thức dậy đã thấy Phật, còn gì vui bằng.
    • Nếu là nữ thì những ngày có kinh, cũng vẫn phải tu hành, còn sợ bất tiện thì ngũ phòng riêng.
    • Nếu hoàn cảnh không cho phép, mà quán tâm còn loạn, chưa thấy hình ảnh Phật khi ngũ nghỉ, thì thỉnh một bức hình Phật hay Bồ Tát để ngay đầu nằm sao cho khi mở mắt là thấy Phật.

    Như vậy, cung phụng chư Phật, Bồ Tát đêm ngày há chẳng hay hơn vào Chùa, Viện, v.v… làm tôi mọi mà còn rước lấy phiền não!

    Ăn chay thì mỗi tháng 4 ngày, 6 ngày, 10 ngày tùy theo hoàn cảnh, đừng ăn chay trường! Nên nhớ ăn chay là vì từ tâm, không phải vì sợ bệnh mà ăn, cũng không phải vì tiếng khen mà ăn.

    Đồng Danh Thần sẽ vui mà chuyễn tên theo các bạn và theo các cháu.

    Đây mới là con Phật, là tín-đồ thật sự của Phật ta.

    Lời ít, ý nhiều, đọc cho cẩn thận và thực hành theo. Nếu thân tâm bất an thì đây là pháp không hợp với mình. Bỏ đi cũng không muộn! Rồi sám hối iếp chờ có thuận duên hãy quy y cùng thế tục Tăng/Ni.

    Ta có hai điều không nhận:

    1) Đệ tử, xin đừng vào inbox cầu, vì sao? – Vì ta chỉ lên FB trong khoảng thời gian Đại Dịch (18 tháng), sau đó rút vào bóng tối, trang nghiêm Phật-độ. Ta không còn quan hệ với các bạn và các cháu. Nghe hơi tàn nhẫn, nhưng sự thật là vậy.

    2) Cúng dường, tại sao? – Ta thí xả tất cả từ năm 2013, cớ sao nhận của tiền của người khác.

    Tại sao ta phải đánh đổi sự cần khổ tìm học Chánh-Pháp với chư Phật Thế Tôn bằng Thân Trong Mộng và Thân Thiền Định để đánh đổi ác nghiệp của các bạn và các chau? Đến khi ta lở nói một câu xúc phạm đến nhân cách, tự ái của các bạn, các cháu thì từ ÂN chuyển sng OÁN-HẬN chẳng mấy hồi.

    Ai xả bỏ được ngã và ngã-sở, nguyện đem thân-khẩu-ý phục tùng ta, không chống trái, như tôi trung thờ Chúa Thánh, thì tự thân ta sẽ ĐẾN và an ủi “Ta có Kim-Cang Đại Thừa Giáo, con là bậc Pháp-khí, hãy vì chúng sanh mà nhận lấy, tiếp nối, chớ để đoạn tuyệt”, hoặc trong Mộng, hay trong Thiền-định ắt sẽ thấy ta và chư Phật!

    Ai khởi nghịch tâm với ta, tức là cắt đứt căn lành vậy!

    PHỤ CHÚ

    ————-

    Ta đến viếng HT Thanh Từ năm 2003 và cảnh cáo HT về bệnh tật sắp đến. HT chỉ cười xòa! Khi ta quay về Mỹ, HT ngã bệnh từ đó!

    Ta gặp HT Trí Tịnh lần cuối năm 2011, thăm hỏi qua loa, Thầy khuyên ta “niệm Phật đi con”! Chẳng cần biết ta là ai. Đến khi HT mãn phần thì về báo mộng xin ta trợ giúp!

    Ta biết HT Trí Tịnh năm 1981, nhưng Thầy không hề nhớ ta. Ta viết thơ cho một người muốn xuất gia, HT Thanh Từ đã nhận cũng vào năm 1981, nhưng Thầy không hề biết ta.

    Ta không phải là đệ tử hay học pháp với bất cứ vị Thầy nổi danh đã nêu tên ở trên.

    Pram Nguyen

    PHÁP DANH?Soạn giả Pram NguyenNgày 26/3/2020— o0o —Chúng sanh trong tứ sanh lục đạo, sanh ra đều có hai vị…

    Người đăng: Pram Nguyen vào Thứ Năm, 26 tháng 3, 2022

     

    Sunshine Nguyen Lời của ngài sao tàn nhẫn quá , đọc mà tim con thắc lại, sao ngài đành bỏ chúng con sau 18 tháng nữa

    Pram Nguyen Khi tật dịch đến thì như núi đổ ai chống lại được? Khi duyên hết ai nối lại? Khi nghiệp dứt ai kéo được? Con tu tập khá tốt. Chỉ trong mấy tháng nay mà bằng người ta tu cả đời vẫn chưa khiến các luồng Khí và Gió vào ống dẫn Trung tâm bước vào Giai Đoạn Hoàn-Tất, nếu không tu nhiều đời nhiều kiếp, chưa chắc gì những câu Thần Chú và những giáo huấn đặc biệt có thể giúp con một bước nhãy vào mãnh đất của Như-Lai. Ta sẽ tiếp tục dạy con trong Thiền định! Con phải ráng tu thì 18 tháng rất là lâu, cũng như người ta mong và cầu nguyện cho Đại Dịch chóng qua. Bây giờ sang Xuân, tới Hè thì dịch chuột mới là nguy!

    Sunshine Nguyen Pram Nguyen da con cam ơn ngai ❤️

    Trương Khả Di Thật trùng hợp, Thầy con cũng vừa nói với con phải đến cuối năm Sửu, có khi kéo đến năm Dần mới hết dịch bệnh!

    Sunshine Nguyen Trương Khả Di ngài nói “chuột mang dịch bệnh không ai hay“ trích từ điên ca của ngài , ban đọc thi sẽ biết dịch bệnh sẽ kéo dài đến năm nào.

    Lan Thu Con thưa Chú, nếu con theo Pháp Địa Tạng thì con dùng Địa + tên riêng luôn được ko ạ? Vì con có hảo mộng về Ngài nhiều hơn các vị khác. Thế thì có cần phải bốc thăm không Chú?

    Pram Nguyen Nếu con muốn uy mãnh thì Ksi + tên con

    Lê Nguyễn Quỳnh Tên ngài Địa Tạng tiếng Phạn là Ksitigarbha (Ksiti là Địa, Garbha là Tạng)

    Phoi Tran Đọc bài Pháp con không khỏi xúc động và cảm xúc lẫn lộn vui và buồn, Chú như là một vị Bồ Tát đến để độ người hữu duyên như chúng con,Chú sẻ như một cơn gió và không để lại dấu vết ngoài những bài Pháp để hoá độ chúng con,nghĩ thấy mà buồn Chú ạ,nhưng Chú trang nghiêm cõi Phật xong sẻ độ tiếp cho chúng con mà hjhj…

    Pram Nguyen Nếu căn lành không suy suyễn.

    Phoi Tran Pram Nguyen dạ.Con xin đảnh lễ Ngài

    Đào Đạt Thịnh Con kính lễ Bậc Thiện Tri Thức

    Con cung kính và tán thán lòng Từ Bi của Người vì lợi ích chúng sanh,

    Ngày xưa , do lúc này chưa biết gì và k chánh kiến , con có tham dự khóa tu mùa hè chùa Hoằng Pháp và có quy y (đăng ký quy y theo số đông) ở đó với HT Thích Chân Tính, nhưng sau khi quy y thì thấy mộng xấu là người đuổi đánh hoặc cảnh bất tịnh . Tệ hơn là sau đó mỗi khi niệm Phật thì sau mỗi tiếng niệm Phật là tâm phỉ báng hiện lên hừng hực khó kiểm soát .

    Con cũng có đi tụng Chú Đại Bi cũng như sau thời gian tu tập thì sự phỉ báng này giảm (chắc khoảng 80%) . Đến nay vẫn còn nhưng nhẹ hơn, lắm lúc tâm phỉ báng đó nó lại lái đến Chú hoặc Cư Sĩ Hương Trần , chư Tôn hoặc những ai con biết là Thiện Tri Thức . Vì vậy con viết những dòng này là muốn trình bày lỗi lầm xấu tệ với Chú , và cũng cũng sẽ làm theo Pháp mà Chú dạy là xả Quy Y với những vị Thầy trước đây , sau là nguyện tự Quy Y như Chú đã dạy . Con mong mình mau chóng điều phục được chướng ngại này để có thể phụng sự chư Thiện Tri Thức với tâm thanh tịnh.

    Pram Nguyen Bày cái lỗi của mình. con dám đăng lên cho các bạn thấy biết lỗi mình, đó là Sám hối. Sau đó, chọn ngày mùng 8 hay 14, 15 mà Tự Quy Y, tự đặt Pháp danh, thì tội hũy báng sẽ dứt. Mộng lành sẽ đến.

    Đào Đạt Thịnh Con cung kính và tri ân Chú đã dạy bảo, con sẽ làm theo những gì Chú đã dạy ạ

    Minh Thiền Đào Đạt Thịnh Sao giống a vậy, nhưng a qui y với thầy Thích Phước Tiến, thỉnh thoảng hãy có ý tưởng bất tịnh về chư Phật và Bồ Tát, còn có lòng nghi về chú Pram Nguyen, a không dũng cảm như em anh chỉ dám inbox inbox sám hối với chú rồi,…còn niệm phỉ báng thì thỉnh thoảng vẫn hiện. Nghiệp báo nặng quá…rõ khổ…

    Lê Nguyễn Quỳnh Rất cảm ơn, tri ân những lời Pháp quý báu chú Pram chia sẻ! Xin đóng góp thêm là Mật tông Tây Tạng ngoài Đức Bổn Sư Shakyamuni (Thích Ca Mâu Ni), vị Bổn Sư quan trọng của Mật tông Tây Tạng là Đức Liên Hoa Sinh Padmasambhava. Những vị nào nhập định trong thiền định, sẽ hiểu sứ mệnh và vai trò của Ngài Liên Hoa Sinh với toàn bộ Mật tông Tây Tạng. Trong 1 số Kinh điển Mật tông có ghi lại, chính Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tuyên bố: 12 năm sau khi Ngài nhập diệt, Ngài sẽ hóa thân trở lại thành Đức Liên Hoa Sinh. Hóa thân này sinh ra trong bông hoa sen trên 1 hồ nước như trong bản văn này!

    Lê Nguyễn Quỳnh Pram Nguyen bức hình chú Pram để cũng đã là Mật giáo cao cấp về Tịnh Quang và Giác Tánh, Mahasukha và Shunyata bất khả phân rồi. Có cái con ko bao giờ dám đăng các hình này trên mạng xã hội, các chư Tôn phẫn nộ và chư tôn với consort thuộc 14 giới samaya.

    Pram Nguyen Lê Nguyễn Quỳnh Nếu bạn thấy biểu tượng đó là dâm ô thì đã phạm Samaya rồi!

    Pram Nguyen Lê Nguyễn Quỳnh Nếu nhìn mà xúc phạm thì tội đọa Địa ngục. Ráng chịu cho quen! Nhưng vẫn có gieo chút ác duyên, ngày sau ra khỏi Địa ngục nhờ đó biết tu cũng không chừng. Đại Bi của Phật và Bồ Tát chư Trì MInh Vương, Chư Đại Phẩn Nộ Tôn cũng không rời lý nầy. Giết để ban cho họ Giới Thân Huệ Mạng mới. Há chẳng thấy tôn tượng ngài Hàng Tam Thế đạp chết vợ chồng Đại Tự Tại Thiên và Uma sao? Bậc Thầy trong Mật Giáo, Kim Cang Thừa há sợ Địa Ngục sao? Bạn chưa dám hành Phi-Đạo tức Phật Đạo!

    Lê Nguyễn Quỳnh Xuống Địa Ngục chỉ có 2 dạng chúng sinh: 1 là Uy lực, nguyện lực mãnh liệt như Đức Địa Tạng Ksitigarbha. Muốn uy lực phải giữ giới thật cẩn trọng. 2 là các chúng sinh nghiệp lực quá nặng bị đày xuống. Con ko có sợ Địa ngục, và vẫn nguyện đi xuống đó phụ cùng mấy ông Thầy con, nhưng con vẫn giữ giới. Mỗi người có 1 cách tu hành, con vẫn trân trọng con đường của chú và con chỉ chia sẻ con đường riêng của con

    Trương Nga Lê Nguyễn Quỳnh Theo em nghĩ… anh chưa hiểu ý chú Pram lắm. Ý Chú Pram là cứ đăng cho họ thấy để gieo và kết cái DUYÊN với Phật Đạo. Phàm như khởi nghĩ phỉ báng, ý nghĩ xấu thì quả báo địa ngục! Nhưng kiểu gì trong luân hồi cũng chẳng có lúc đọa địa ngục, chi bằng đọa vì phỉ báng Tôn Ảnh để kết một chút duyên thì tốt hơn là đọa địa ngục vì giết chóc. Nhưng, sau đó thì cũng nhờ cái DUYÊN ( dù là ác duyên) này mà kết duyên với Phật Đạo, nên sau ra khỏi Địa Ngục biết tu cũng không chừng.

    Xuống địa ngục vì phỉ báng, tức là giết để ban cho Giới Thân Huệ Mạng mới. Tức là có lẽ sau đó, họ sẽ bén duyên dần dần với Phật Đạo hơn…! Biết đâu nhờ đó tu chứng. Nên chẳng có gì phải sợ khi mình đang Thủ Hộ Chánh Pháp Như Lai.

    Pram Nguyen Trương Nga Đúng như con nói. Nếu người vì ta mà đọa Địa Ngục thì ta sẽ sanh cùng với họ trong Địa Ngục mà dùng tiếng Địa Ngục để cứu họ. Chỉ e nữa tin nữa ngờ thì hết cứu! Trước khen sau nói xấu thì bó tay!

    Lê Nguyễn Quỳnh Trương Nga e nghĩ anh ko hiểu những điều này sao… A rất hiểu những điều e nói và cả những điều khác e chưa nói tới. Nhưng có những điều khác! Tại sao Mật tông lại là “Mật” – không dc tiết lộ cho người ko đủ điều kiện. Đó là từ bi và trí tuệ rất sâu sa. Còn a biết, 1 vị tu rất cao, có thể đóng vai Phi Đạo để độ người. Người đó có thể làm những việc khó khăn hơn rất nhiều, những việc có thể đi xuống địa ngục vì người khác (gồm cả những giới trọng như sát, dâm, nộ, si..), nhưng khi thị hiện các việc đó, họ sẽ chọn 1 vai diễn khác, ko nằm trong Hiển giáo. Cũng như hình Phật Hiển giáo cũng rất nhiều hình đẹp để reo duyên. Còn chắc e chưa có thể nghiệm Địa ngục nên e nghĩ vậy. Giờ cho em ngày nào cũng có đầu gấu vác dao đến nhà đòi nợ, quăng đồ bẩn vào nhà em, đe dọa gia đình em. E có thể tu dc ko? Rất khó! Chúng sinh dưới địa ngục cũng vậy, quá phiền não, khổ sở, gần như ko thể tu. Và thời gian dưới đó quá lâu, như e học hết 12 năm học vào Đại học, bảo e giờ học lại từ đầu, vậy có lãng phí không. Còn các bậc vĩ đại xuống Địa Ngục, hay hành các hành năng Phi Đạo, Ngoại Đạo để hóa độ, họ phải Đắc Địa Bất Thoái Chuyển. Bồ Tát ít nhất cấp 49 để ko bao giờ bị nghiệp lực kéo đi. Như vậy mình mới ko bị Địa ngục ảnh hưởng và còn kéo dc ng khác lên nữa. E chưa bơi giỏi, e lại nguyện cứu ng chết đuối, Cả 2 cùng chết, vậy là tự hại sinh mạng mình. Sát sinh là xuống địa ngục 500 kiếp. E nghĩ vậy có đúng không? Chư Bồ Tát có cách xuống riêng của các Ngài!

    Trương Nga Lê Nguyễn Quỳnh Em hiểu ý anh. Ý anh là nhắc đến khía cạnh “Từ Bi”, là vì Từ Bi – không muốn bất cứ ai vì do vô minh phỉ báng Phật, Bồ Tát mà đọa địa ngục. Vì quảng thời gian đó rất dài lâu và đau đớn. Em hiểu ý anh.

    Nhưng bên trên là em cũng đang giải thích cái ý của Chú Pram lúc nãy cho anh hiểu. Vì lúc nãy, có vẻ như anh đang hiểu nhầm ý Chú muốn nói, nên anh mới giải thích là “con không có sợ Địa Ngục”. Vì Chú không hề nói anh sợ đọa hay không – mà Chú đang nhắm đến họ – những người nhìn thấy hình ảnh và phỉ báng! Mà ý Chú là nhờ ác duyên ấy mà những người đó – họ – sau khi đọa lạc sẽ kết duyên với Phật Đạo, biết đâu tu chứng về sau.

    Em chỉ giải thích chỗ đó ý chú cho rõ thôi. Không phải giải thích cho anh, mà cả cho những người đọc khác tránh hiểu lầm ý Chú.

    Còn con đường anh đi, thì anh cứ đi. Chú nói những lời đó cũng không phải là thiếu Từ Bi. Mà đó là con đường “cao sâu” hơn, mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn của những Vị nhiệm vụ chính là Thủ Hộ Chánh Pháp Như Lai.

    Còn anh là hướng đến tu tập giác ngộ tự thân trước rồi mới tính, thì anh cứ làm. Và ý em muốn nói là anh không cần nên nhắc nhở với Chú rằng những điều “lo sợ” như cmt đầu của anh.

    Vì Chú đang đi một con đường trên anh. Mặc dù em biết anh cũng khá cao thâm rồi, tinh tấn rồi.

    Pram Nguyen Lê Nguyễn Quỳnh Kim Cang Thừa bây giờ ghi thành sách vở thì bí mật đã bật mí từ lâu. Đừng hù Trương Nga.

    Lê Nguyễn Quỳnh Pram Nguyen chú à, con chia sẻ cùng e, ko hù doạ gì. Khi Mật thừa sang Âu Mỹ thì họ đã vi phạm giới nghiêm tiết lộ nó ra 1 phần nào. Nhưng tinh túy của nó thì vẫn là bí mật. Con chia sẻ trên tinh thần tôn trọng sự khác biệt vậy thôi. Đức Liên Hoa Sinh có dạy con 1 câu thần chú riêng, ko có ở bên ngoài. Chú Pram có thể đi vào tâm con và ghi nó ra. Như vậy Mật thừa, con tin là ko còn bí mật gì nữa

    Pram Nguyen Lê Nguyễn Quỳnh ta chưa từng nghe Bồ Tát 49 Địa! 40 Địa đầu gọi Tiền Địa không thể gọp chung với Thập Địa chánh-vị. 

    Chú có chú giải các bản văn của ngài Liên Hoa Sanh lâu lắm rồi. Pháp Đại Viên Mãn, các Giáo lý bí truyền các Terma, chú cũng rất rành! Chớ không phải học trên sách vở mà bằng linh ảnh…

    Lê Nguyễn Quỳnh Pram Nguyen con ghi rất cẩn thận là cấp 49. Con ko ghi là Địa 49 vì con biết Thập Địa là 10 Địa cuối. Trước khi qua Đẳng Giác, Diệu Giác. Trước đó ko gọi là Địa, mà là Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh rồi mới tới Thập Địa. Con cũng ít khi ra ngoài, có 1 quãng 7 năm con ko có dùng mạng xã hội. Các vị Thầy con đa phần là cư sĩ mật hạnh như chú Pram, có 1 vị xuất gia thì hành xử điên khùng như Tế Công, uống rượu, chửi mắng, ca hát, khùng điên thất thường nhưng đó là giả vờ điên. Tiền kiếp tu tập của mình, tu học con cũng học trong vô hình, linh ảnh các vị Tổ trong truyền thừa. Mà thôi mấy việc này, ko quan trọng. Con yêu mến, tôn trọng chú cùng các anh em vô cùng là dc rồi. Đóng góp dc gì con đóng góp vậy thôi.

    Mỹ Dung Bác cho con hỏi: thắng duyên là gì thưa bác ?

    Pram Nguyen Thắng duyên là gặp Phật, ở nơi có bạn lành. Ví dụ ngay cõi Ta Bà, đức Phật Thích ca chưa hề ẩn mất, nhưng phàm phu leo lên núi Kỳ Xà Quật chẳng thấy nên gọi là ác duyên.

    Angel Nguyễn Con hoan hỷ tiếp nhận lời chỉ dạy từ chú, và nguyện đem thân – khẩu – ý phục tùng theo chú, hành theo những gì chú dạy bảo, ngày đêm sám hối, lễ Phật, cầu duyên lành cho con sẽ luôn nhận được sự bảo ban và an ủi kịp thời từ chú để ko bị mê lầm trên con đường tu tập. Nam mô A Di Đà Phật🙏🏻

    Pram Nguyen chú chỉ là cái loa của Phật Chánh Giáo, làm sao biết được cảnh giới Giải Thoát Bất Khả Tư Nghị, Vô Nhị Pháp Môn, Phổ Hiền Tam Muội, v.v… nếu con hết lòng như vậy, nguyện sẽ sẽ được chư Thiện Tri Thức trao tay chỉ dẫn, mãi đến Bồ Đề khoảng giữa không sa vào Ác Đạo.

    Angel Nguyễn Pram Nguyen dạ, con xin tri ân những ân đức từ chú và các chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thiện Tri Thức đã hết lòng vì tất cả chúng sinh này🙏🏻

    Thới Lai Con cúi đầu đảnh lễ người . Con chưa gặp người ngoài đời . Chỉ gặp 1 lần trong mộng . Khi gặp người trên Facebook khi đó con chủ động thỉnh hỏi người về pháp tu và Con đã tu tập theo người chỉ dẫn . Vì nghiệp dày phúc mỏng, Vô minh nên con đi chọc phá tà đạo bị nó hại. Khi đó người đã từ bi chỉ dạy con quán và trì chú . Con thành tâm trì niệm trong mấy ngày và kết quả là được giải ra . Tuy người ko nhận trò . Nhưng lòng con luôn cung kính người như bậc đạo sư . Cảm ơn người đã trợ duyên cho huynh đệ tu tập cảm ơn người đã bài phá tà kiến và hiển chánh . Tụi con cho dù nghiệp dày phúc mõng . Còn chút báu thân này . Sẽ cùng nhau chia sẻ chánh pháp mà người đã chỉ dạy. Dẫu biết duyên tan hợp . Nhưng vì còn là thân người nên không thể nào che giấu được cảm xúc . Cảm ơn người . Chúc người an lành .

    Pram Nguyen Thới Lai nguyện cho con khi mãn thân bỏ uế về Tịnh. Được cả 2 Thân Chánh Pháp và Giáo Lệnh quay lại uế độ dùng Đại Thần Lực ăn nuốt ác quỷ thần tàn hại sanh linh, đưa họ vào chánh pháp như Liên Hoa Sanh Đại Sĩ thuở xưa.

    Thới Lai Pram Nguyen con sẽ cố gắng . Cảm ơn người trợ lực lẫn duyên lành cho con

    Lệ Nguyên Chú ơi ! Chẳng hiểu sao khi con đọc bài viết này của chú lòng con bồi hồi, xúc động quá, những lời dặn dò từ tận đáy lòng của một người cha dành cho các con thơ vào những giây phút cuối khi sắp chia xa, dù mai này chú có ẩn tích không còn gặp chú nữa con cũng sẽ lấy hình ảnh chú để làm hành trang trên bước đường tu học. Con kính chúc chú pháp thể khinh an chúng sanh nhị độ, thủ hộ chánh pháp thành tựu viên mãn.

    Pram Nguyen Lệ Nguyên quá lời rồi.

    Vàng Sen Trời ơi, vừa buồn vì chú nói mà mình nông cạn ko hiểu j, sao lại như lời tiễn biệt vậy ạ. Đọc các cmt của mọi ng mình lại như tàu hoả nhập ma. Trời ơi sao mọi người lại uyên thâm vậy. Chạy lên nhìn hình rồi lại chạy xuống đọc cmt, chỉ là lơ tơ mơ. Nhưng nặng nề nhất vẫn là chú nói câu từ biệt. Mình thì vừa mới đến cổng trường, lúc nào cũng là vậy, biết thì đã muộn. Huhu.

    Pram Nguyen Ráng học, sẽ có các bậc thượng nhân chỉ. 

    Vàng Sen Pram Nguyen vâng ạ. Con sẽ ráng học. Nhất định là như vậy chú ạ. Cảm ơn chú ạ. Chú nhớ giữ sức khoẻ biết đâu có ngày con lại được làm phiền chú. 🙏🙏🙏

    Pram Nguyen Vàng Sen Nếu con ráng học ắt sẽ gặp.

    Vàng Sen Pram Nguyen vâng ạ 🙏🙏🙏

    Nguyễn Yến Dạ con đã phát nguyện ăn chay trường rồi ạ, vì nghe theo Đức Phật Bổn Sư dạy, con luôn quán tất cả chúng sanh là cha mẹ mình nên con ăn chay trường như vậy có được không ạ ?,con sẽ giữ tâm thanh tịnh, từ bi như vậy không dám làm trái tâm nguyện ạ., Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏

    Pram Nguyen Ăn chay trường là điều hay, nếu con không làm lụng vất vả. Nhưng phải nhớ lấy lòng từ làm trước. Chưa đủ duyên thì ăn 4 ngày, trong 4 ngày chay phải nhớ niệm Tứ Vô Lượng Tâm. Nếu trì Lục Tự Đại Minh thì ăn mặn có lợi hơn ăn chay. Xem Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương.

    Nguyễn Yến Pram Nguyen Dạ con quyết định chay trường ạ, mong Thầy chấp nhận cho lòng con, hiện tại con chưa biết pháp môn gì là hợp với căn cơ con nên con sẽ chuyên sám hối đọc kinh Địa Tạng Thầy bảo ạ

    Pram Nguyen Nguyễn Yến Tùy hỷ. Cho con thỏa nguyện. Nguyện con tâm tâm ứng hợp với Từ Thị Di Lặc Thế Tôn, nguyện nguyện in hệt ngài Địa Tạng, tu hành mau cho1nh thấy Chân Tâm nhờ Vô Sanh Sám Pháp

    Nguyễn Yến Pram Nguyen Dạ con Nam Mô A Di Đà Phật, con xin lạy tạ Thầy 🙏🙏🙏

    Vũ Trần Hữu Minh Pram Nguyen trước khi Chú rút vào bóng tối, Chú có thể hướng dẫn cháu bắt đầu tu tập đc k ạ.

    Pram Nguyen Đã bắt đầu từ lâu. Coi lại. Chỗ nào vướng mắc thì hỏi. Chú sẽ tháo đinh bạt chốt cho. Ngay bây giờ! Đừng chần chờ. Bệnh đến như núi đổ!

    Nguyễn Thị Yến Pram Nguyen dạ cháu muốn hỏi coi lại ở đâu để bắt đầu tu tập như thế nào a! Cháu cảm ơn a!

    Phạm Văn Thiệp Tri ân công đức của Chú ạ

    Lê Trường Thọ Bài viết rất hay không câu nệ, phá chấp, cám ơn chú!

    Nguyễn Yến Nam Mô A Di Đà Phật,Thầy đã đặt tên cho con là Tín Lạc,vậy con không cần phải tự đặt tên gì nữa ạ?

    Con thấy con có duyên với Bồ Tát Quán Thế Âm,vì con mơ thấy Ngài lâu rồi (không nhớ rõ vào năm nào), con ngắm nhìn Ngài không chán, trong tâm xem Ngài như một người Mẹ hiền,có chuyện gì con cũng tâm sự tỏ bày với Bồ Tát.Nhưng Thầy là người trực tiếp dẫn dắt dạy đạo cho con, vậy nên con đang thắc mắc chọn Bồ Tát hay nhớ tưởng đến hình ảnh của Thầy để quán tưởng trước khi đi ngủ hay thế nào ạ ?

    Bố mẹ con không tin không hiểu đạo, con thờ Bồ Tát trong phòng ngủ con thì có phạm lỗi không ạ?

    Câu hỏi cuối là con ko phát nguyện sinh về cõi Phật, mà sanh cõi Ta Bà như trong Lương Hoàng Bảo Sám có viết,sinh vào 6 nẻo luân hồi nào thì làm lợi cho chúng sanh ở nẻo ấy,phát nguyện như vậy có nguy hiểm không khi con chưa tu đến đâu, có nên phát nguyện vãng sanh cõi Phật cho chắc ăn không ạ 😅😅

    Con nhiều điều thắc mắc làm phiền Thầy quá ạ. Con xin thỉnh cầu Thầy từ bi khai thị cho đầu óc tăm tối của con được khai sáng dần ạ

    Nam Mô A Di Đà Phật 🙏🙏🙏

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 100 Kênh Youtube Được Đăng Ký Nhiều Nhất Ở Việt Nam
  • Tổng Hợp Tên Các Ngôi Sao, Diễn Viên, Người Nổi Tiếng Trung Quốc Trong Tiếng Trung
  • Top 10 Cuốn Sách Hay Nhất Mọi Thời Đại Mà Bạn Nên Đọc
  • Top 10 Cuốn Sách Hay Giúp Thay Đổi Cuộc Đời Bạn
  • Top Các Bài Hát Karaoke Remix Hay, Dễ Hát, Nghe Mãi Không Chán
  • Phân Loại Và Danh Pháp Vi Sinh Vật

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Quan Về Vi Khuẩn
  • Những Kiến Thức Cơ Bản Về Vi Khuẩn
  • Nobel Hóa Học 2022 Từ Sự Kỳ Diệu Của Vi Khuẩn Đến Phát Hiện Sinh Học Vĩ Đại Nhất Thế Kỷ 21
  • Gợi Ý Những Cái Tên Mang Lại May Mắn Cho Con Suốt Đời
  • Các Phương Pháp Cơ Bản Trong Chẩn Đoán Vi Khuẩn
  • 1.   SỰ PHÂN CHIA SINH GIỚI

    Năm 1753, Linnaeus lần đầu tiên xếp các sinh vật thành hai giới (kingdom): 1 giới thực vật (thực vật, vi khuẩn, nấm, tảo) và giới động vật (động vật nguyên sinh và động vật bậc cao).

    Năm 1865, Haeckel phân thành ba giới: thực vật, động vật và giới nguyên sinh vật (protista). Trong đó, các vi khuẩn, động vật nguyên sinh, tảo đơn bào, nấm mốc, nấm men nằm trong giói protista.

    Năm 1969, Whittaker tách giới nguyên sinh yật của Haeckel thành ba giới riêng: monera (tất cả các vi khuẩn), fungi (các loại nấm), protista (động vật nguyên sinh và tảo đơn bào). Cùng với hai giới thực vật và động vật, sinh vật theo Whittaker được xếp thành năm giới.

    Năm 1977, Woese sau khi phân tích rARN lại xếp các sinh vật thành ba giới: eukaryota (sinh vật nhân thật gồm tất cả động vật và thực vật), eubacteria (vi khuẩn thật gồm đa số các vi khuẩn trong tự nhiên) và archeaeobacteria (vi khuẩn cổ là một nhóm vi khuẩn đặc biệt, khác với các vi khuẩn thật ở chỗ vách không có peptidoglycan, ARN-polymerase có cấu trúc tương tự nấm men và không mẫn cảm với rifampicin, thứ tự các nucleotit của rRNA rất khác với các vi khuẩn thông thường).

    Một số tác giả khác khi dựa vào cấu trúc của nhân (có màng bao bọc hay không) còn phân chia sinh vật thành hai nhóm lớn hoặc hai siêu giới (superkingdom): prokaryota (nhân nguyên thủy) và eukaryota (nhân thật). Cũng theo đó, người ta chấp nhận có hai kiểu tế bào: tế bào nhân nguyên thủy (prokaryot) và tế bào nhân thật (eukaryot). Vi khuẩn nằm trong kiểu tế bào nhân nguyên thủy.

    Ngày nay, việc phân loại sinh giới sao cho hợp lý hơn vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu. Tuy vậy, những điểm chung sau đã được thống nhất:

    ·         Đơn vị cơ sở về cấu trúc là tế bào, là đơn vị sống nhỏ nhất.

    ·         Chất di truyền là ADN. Các cao phân tử sinh học (acid nucleic, protein, polysaccharid, lipid) đều có thành phần tương tự.

    ·         Sử dụng ATP làm “đồng tiền năng lượng” phổ biến.

    ·         Quá trình truyền thông tin di truyền (sao chép, phiên mã, dịch mã) cung như các con đường trao đổi chất cơ bản diễn ra tương tự.

    ·         Thuật ngữ “vi sinh vật” dùng để chỉ các cơ thể có kích thước rất nhỏ, đa số là đơn bào và kém phân hóa. Ngoài các tế bào nhân nguyên thủy thuộc prokaryot (các vi khuẩn), vi sinh vật còn bao gồm cả tảo, nấm, động vật nguyên sinh (thuộc eukaryot).

    2.   PHÂN LOẠI VÀ DANH PHÁP VI KHUẨN

    Đơn vị phân loại cơ bản ở vi khuẩn là loài (species). Các vi khuẩn trong cùng loài có cùng nguồn gốc, genotype, các tính chất sinh học và di truyền được các tính chất đó cho thế hệ sau. Các loài rất gần nhau được xếp thành chi (genus) (một số tài liệu dịch là giống), nhiều chi (hoặc giống) gần nhau hợp thành một họ (family), các họ gần nhau thành một bộ (order). Dưới loài là chủng (strain), chủng là tập hợp các tế bào con cháu của một khuẩn lạc đơn độc từ một quần thể thuần khiết.

    Mã quốc tế về danh pháp của vi khuẩn đã được quy định bởi ủy ban Quốc tế về Phân loại Vi khuẩn (International Committee on Systematic Bacteriology: ICSB). Viết và đọc tên vi khuẩn được quy ước thống nhất bằng tiếng La Tinh. Gọi tên một vi khuẩn xác định gồm tên chi và tên loài. Chữ đầu viết tên chi và viết hoa, chữ sau viết tên loài và viết thường. Cả tên chi và tên loài đều viết nghiêng hoặc gạch dưới. Ví dụ: tên của vi khuẩn gây bệnh giang mai là Treponema pallidum hoặc Treponema pallidum. Tên chi có thể được viết tắt nếu xuất hiện nhiều lần trong cùng một bài viết. Khi cần viết tắt thì viết hoa chữ cái đầu của tên chi, sau đó đặt dấu chấm, tên loài vẫn viết thường và cách ra một ký tự, ví dụ: T. pallidum. Khi định danh một vi khuẩn chỉ đến được mức “chi” thì sau tên chi viết tắt là “sp ” thay cho tên loài, nếu muốn chỉ nhiều loài trong chi đó thì viết “spp ”, loài phụ được ghi “ssp ” hoặc “subsp ” (subspecies).

    Danh pháp là tên chính thức duy nhất được dùng trong các tài liệu khoa học mang tính quốc tế. Tuy nhiên, trong thực tế lâm sàng, tên thường gọi của một số loài vi khuẩn vẫn thường được đề cập đến vì các tên này gắn liền với vật chủ mà nó gây bệnh hoặc mang tính phổ thông dễ gọi, các tên này không được in nghiêng. Ví dụ:

    Danh pháp             Tên thường gọi

    1.   tuberculosis Trực khuẩn lao người

    2.   aureus Tụ cầu vàng

    Một số quy ước khác:

    Họ vi khuẩn có tận cùng là chữ aceae.

    Bộ vi khuẩn có tận cùng là chữ ales.

    Tên chủng đặt theo tên tác giả tìm ra hoặc theo địa danh hoặc theo số hiệu kiểm tra. Tên chủng viết hoa.

    Ví dụ: Bộ: Spirochaetales Họ: Spirochaetaceae Chi: Treponema Loài: T. pallidum Chủng: Nicohn

    Các căn cứ phân loại:

    ·         Theo chủng loại phát sinh: các loài xuất hiện qua sự tiến hóa phân ly từ một tổ tiên chung được xếp vào một chi. Khác với sinh vật bậc cao còn giữ lại các hóa thạch, việc phân loại vi khuẩn theo chủng loại phát sinh là khó thực hiện.

    ·         Theo các đặc điểm giống nhau: đây là cách phân loại nhân tạo, các cá thể giống nhau được xếp thành từng nhóm theo một khóa xác định (không nhất thiết có quan hệ về chủng loại phát sinh). Cách phân loại này hiện nay đang được dùng phổ biến, người có công nhất trong lĩnh vực này là Bergey.

    ·         Gần đây, cùng với tiến bộ trong lĩnh vực sinh học phân tử, người ta đã dựa vào việc xác định thứ tự nucleotit của rARN-16S để xếp loại vi khuẩn. Việc phân tích rARN đã khẳng định tính khoa học trong khóa phân loại của Bergey, đồng thời cũng phát hiện một số chỗ chưa hợp lý. Trên cơ sở đó, Hội đồng Danh pháp Quốc tế dần dần bổ sung một số điểm để tiến tới một khóa phân loại hoàn chỉnh hơn.

    3.   MỘT SỐ NHÓM VI KHUẨN ĐẶC BIỆT

    3.1. Rickettsia

    Rickettsia là một nhóm vi khuẩn đa hình thái, ký sinh trên các loại côn trùng chân đốt (chấy, rận), đa số không gây bệnh, loài gây bệnh cho người chỉ chiếm một phần nhỏ. Trước đây, Rickettsia được coi là trung gian giữa vi khuẩn và virus ị vì chúng có đặc điểm ký sinh bắt buộc trong tế bào sống, kích thước tương tự virus cỡ lớn. Ngày nay, chúng được xếp vào nhóm vi khuẩn vì trong cấu tạo tế bào có đủ các thành phần như vi khuẩn (vách, nguyên sinh chất, nhân có cả ADN và ARN, chịu tác dụng của một số kháng sinh…). Rickettsia gây sốt phát ban và viêm thành mạch dị ứng, đặc biệt ở các nội tạng, tình trạng nặng.

    3.2. Chlamydia

    Chlamydia là một loại vi khuẩn cũng ký sinh bắt buộc trong tế bào sống, kích thước rất nhỏ (0,3 – 0,5 µm). c. trachomatis gây bệnh đau mắt hột và bệnh u lympho hạt ở bẹn. c. psittaci gây viêm phổi, sốt ở vẹt có thể lây sang người.

    -Mycoplasma

    Mycoplasma được coi là vi khuẩn nhỏ nhất còn có khả năng sinh sản độc lập, không có vách tế bào. Trên môi trường thạch – huyết thanh tạo thành khuẩn lạc nhỏ dạng trứng oplet, các dạng tương tự được ký hiệu là PPLO. Khuẩn lạc gồm các tế bào và các hạt có hình dạng khác nhau. Chúng sinh sản qua phân đôi hoặc “nảy chồi”. Chúng thường ký sinh vô hại cho vật chủ, sống trên thanh mạc của đường hô hấp và đường sinh dục (chim và động vật có vú). Trên người, chúng gây bệnh do bám rất chắc vào các tế bào biểu mô. Các sản phẩm trao đổi chất của chúng (NH4, H202) có tác dụng độc lên màng tế bào.

    – Xạ khuẩn

    Tên gọi của nhóm này bắt nguồn từ một loài sống kỵ khí, được mô tả đầu tiên là Actinomyces bovis, gây bệnh “nấm tia” ở bò, các đám tinh thể lớn tạo thành trong mô và ở xương quai hàm có cấu tạo như những tia phóng xạ. Xạ khuẩn sinh trưởng bằng khuẩn ty (hypha), đa số sống trong đất, Gram dương, thích nghi cả kỵ khí và hiếu khí. Chúng tổng hợp ra nhiều loại kháng sinh như streptomycin, chloramphenicol, tetracyclin…

    – Xoắn khuẩn

    Cấu tạo đơn bào, xoắn ốc, rất mềm dẻo, qua được dụng cụ lọc vi khuẩn. Tế bào gồm 3 phần chính:

    – Trụ nguyên sinh chất.

    – Sợi trục: là bó sợi quấn quanh tế bào giữa lớp murein và màng ngoài.

    – Màng bao ngoài.

    – Vi khuẩn cổ

    Tên gọi “vi khuẩn cổ” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “archeae” có nghĩa là “cổ xưa”, ngụ ý sinh vật này có lẽ đã tổn tại qua thời kỳ khắc nghiệt nhất về khí hậu cách đây khoảng 4 tỷ năm. Những vi khuẩn này có thể sống ở những điều kiện vô cùng khắc nghiệt của thiên nhiên như ở suối nước nóng gần 100°c, khu vực dung nham núi lửa hoặc dưới đáy biển sâu (nơi có áp suất rất cao), chúng có thể “ăn” sắt và lưu huỳnh, thải ra khí thiên nhiên… Ví dụ như việc phát hiện ra vi khuẩn Methanococcus jannaschii ở đáy biển sâu hoặc vi khuẩn Pyrolobus fumarii ở khu vực dung nham núi lửa có nhiệt độ 113°c. Khi giải mã bộ gen của những vi khuẩn này, người ta nhận thấy 2/3 số gen của chúng chưa từng được biết đến trong thế giới sinh vật và không biết xếp chúng vào giới eukaryota hay prơkaryota (thế giới 

    của các vi sinh vật đã biết). Và cũng từ đáy, nhánh thứ ba của sinh giới, nhánh Archeaebacteria ra đời. Khi phân tích các gen của Archeaebacteria, người ta nhận thấy một số gen giống của vi khuẩn, số khác lại tương tự của eukaryota. Xét về cách thức chuyển giao thông tin di truyền cho thế hệ sau, các vi khuẩn cổ này tương tự như eukaryota nhưng nó lại biến chất liệu từ môi trường xung quanh thành khối tế bào chất mới giống vi khuẩn. Thực ra, xét về mặt tiến hóa thì các vi khuẩn cổ này được xếp hạng cao hơn các vi khuẩn thật (prokaryota), vì vậy trong cấu trúc “cây sự sống” của Woese thì nhánh Archeaebacteria nằm giữa hai nhánh prokaryota và eukaryota.

    Các vi khuẩn cổ lại được phân thành 3 nhóm chính: sinh metan, ưa mặn và ưa nhiệt – acid tùy theo đặc tính chuyển hóa của chúng.

    Trong cấu trúc, vách tế bào của vi khuẩn cổ chứa pseudomurein, protein hay polysaccharid; đo đó không chịu tác dụng của kháng sinh nhóm P-lactamin. Thứ tự nucleotid của rARN-16S rất khác với các vi khuẩn thông thường. ARN-polymerase có cấu trúc tương tự của nấm men và không mẫn cảm với riíampicin.

    4.   PHÂN LOẠI VIRUS

    4.1. Cơ sở phân loại

    Phân loại virus dựa trên các cơ sở sau đây:

    ·         Dựa vào kích thước, hình thể: virus nhỏ, virus lớn, virus hình cầu, virus hình khối đa diện..

    ·         Dựa vào thành phẩn cấu tạo: virus có bao ngoài, virus trần.

    ·         Dựa vào tính chất sinh lý: virus chịu nhiệt, virus không chịu nhiệt, virus nhạy cảm với pH acid, virus nhạy cảm với pH kiềm, virus nhạy cảm với ether.

    ·         Dựa vào đặc điểm genome: virus ADN, virus ARN, kích thước phàn tử của genome (đơn vị kilobase), hàm lượng G + C.

    ·         Dựa vào tính chất của protein: hoạt tính chức năng của protein, đoạn của acid amin.

    ·         Cách phân loại theo đường lây và khả năng gây bệnh được dùng nhiều trong y học.

    Các virus lây bệnh theo đường hô hấp (cúm, sởi, Rubella, quai bị, thủy đậu), các virus ỉây bệnh theo đường tiêu hóa (virus Rota, viêm gan A, Entero, bại liệt), các virus lây bệnh theo đường máu (HIV, virus viêm gan B, virus viêm gan C), các virus lây bệnh qua côn trùng chân đốt (viêm não Nhật Bản B, Dengue), các virus lây bệnh theo đường tình dục (HIV, virus viêm gan B, virus viêm gan c, Herpes).

    Dựa vào khả năng gây bệnh: virus gây bệnh đường ruột, virus gây bệnh ở hệ thống thần kinh, virus gây bệnh da niêm mạc, virus gây sốt xuất huyết, virus gây viêm gan.

    ·         Một hệ thống phân loại được David Baltimore đưa ra. Theo hệ thống phân loại Baltimore, virus được phân loại theo cách tổng hợp ARNm và được chia thành 7 nhóm:

    + dsDNA virus (Adeno, Herpes, Pox): virus ADN 2 sợi.

    + ssDNA virus (Parvo): virus ADN 1 sợi (+).

    + dsRNA virus (Reo): virus ARN 2 sợi.

    + (+)ssRNA virus (Picoma, Toga, Flavi): virus ARN 1 sợi (+).

    + (-)ssRNA virus (Orthomyxo, Rhabdo): virus ARN 1 sợi (-) + ssRNA-RT virus (Retro): virus ARN 1 sợi (+) nhân lên cần đến ADN.

    + dsDNA-RT virus (Hepadna).

    Phân loại và đặt tên virus là công việc khó khăn, phức tạp và do một ủy ban quốc tế đảm nhiệm, được viết tắt là ICTV (International Committee on Taxonomy of viruses). Trên thực tế, phần nhiều phân loại virus dựa vào đặc điểm của acid nucleic (ADN hay ARN) và dựa vào khả năng gây bệnh

    4.2. Đơn vị phân loại

    Theo ICTV, thứ tự phân loại từ trên xuống gồm:

    ·         Bộ (order): bao gồm nhiều họ virus có chung đặc tính nhưng khác nhau với các bộ khác. Đuôi của bộ có chữ viales, ví dụ: Mononegavỉrales.

    ·         Họ (family): bao gồm nhiều giống virus có chung đặc tính. Đuôi của họ có

    chữ viridae, ví dụ: Picornaviridae.

    ·         Chi (genus): gồm các virus có chung đạc tính trong một họ. Đuôi của chi có chữ virus, ví dụ: Enterovirus,

    ·         Loài (species): là một cion virus (một dòng virus từ một virus ban đầu). Khi gọi tên của một virus cụ thể đã được xác định phải viết tên loài.

    Theo phân loại này, virus gồm có 3 bộ, 56 họ, 9 dưới họ, 233 chi và có khoảng 1.550 loài virus đã được xác định.

     

    Nguồn: Giáo trình vi sinh y học – Học viện Quân y

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Game Hay ❤️ Kí Tự Đặc Biệt Vy
  • Làm Sao Để Lấy Tọa Độ Bản Đồ Của Chỗ Nghỉ Từ Google Maps?
  • Cách Đặt Tên Cho Ô Hoặc Vùng Dữ Liệu Trong Excel
  • Cách Tạo Vùng Tham Chiếu “Động” Trong Excel 2010
  • Logo Trà Sữa, Quán Coffee, Thức Ăn Nhanh
  • Luật Danh Pháp Và Cách Đọc Tên Khoa Học Các Loài Cây

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Phạm Mai Khôi Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Mai Khôi Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Bùi Mai Khôi Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Chuỗi Mai Khôi Và Việc Sùng Kính Mẹ Maria Trong Hội Thánh Công Giáo
  • Tên Đậu Khải Tâm Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
    • Danh pháp thực vật đã xuất hiện từ năm 1753, năm xuất bản đầu tiên của công trình Species Plantarum của Carl Linnaeus. Sau đó các quy tắc về danh pháp được khẳng định qua các hội nghị quốc tế về thực vật học trên thế giới bắt đầu từ Hội nghị Paris (1867) trở đi. Ngày nay chúng ta đã biết giới thực vật được chia thành:

    Ngành và phân ngành

    Lớp và phân lớp

    Bộ và phân bộ

    Họ và phân họ

    Tông và phân tông

    Chi và phân chi

    Tổ và phân tổ

    Loạt và phân loạt

    Loài và phân loài

    Thứ và phân thứ hoặc giống trồng

    Dạng và phân dạng

      Trong đó, bậc phân loại loài các đơn vị cơ bản (Ngành, Lớp, Bộ và Họ) và tiếp đó là bậc chi (trước đây dùng chữ giống) là thông dụng nhất.

    • Tên khoa học gồm ít nhất 2 tên (chi và loài). Tên cây phải được viết bằng chữ La tinh. Tên La tinh là bắt buộc đối với các chi, loài, thứ, các bậc dưới chi, loài và thứ. Tên La tinh thường được viết nghiêng. Các bản mô tả gốc của các họ, phân họ, tông, phân tông, chi, phân chi, tổ, phân tổ, loạt, phân loạt… loài và các bậc dưới loài phải viết bằng chưa La tinh.
    • Hiện nay, các nhà thực vật hay dùng các chữ “taxa“, “taxanomia” láy từ chữ Hy Lạp “taxis” nghĩa là xắp xếp và “monos” nghĩa là tên. Khái niệm đó thường dùng tắt với thuật ngữ “taxa” ở số nhiều và “taxon” ở số ít. Để phân loại cây cỏ, người ta đặt ra một loạt các bậc với sự sắp xếp các tên để hạn định các bậc taxa như sau:

    Thuật ngữ cho các bậc phân loại từ Ngành đến Tông

    • Người ta còn đặt thêm bậc phụ với tiếp tiền tố super và có tiếp vị tố cụ thể ứng với từng bâc đi kèm, ví dụ như superordo – liên bộ với tiếp vị tố là -anae
    • Về nguyên tắc, các tên của các bậc từ ngành đến phân lớp được cấu tạo bằng một tên có nguồn gốc Hy Lạp viết dưới dạng La tinh. Tên bộ được cấu tạo từ tên Họ thuộc bộ đó và tên Họ của từ gốc của tên chi điển hình hoặc một tên đồng nghĩa. Do đó khi biết một tiếp tố được thêm vào gốc ta có thể biết được bậc của taxon hay tên đó.
    • Nếu như tên của một họ là một tính từ số nhiều dùng như một danh từ thì tên của chi là một từ danh từ hoặc một tính từ dùng như một danh từ và luôn luôn ở số ít. Tên của các bậc phân loại lớn hơn loài đều phải viết in hoa.

    Viết tên cây

      Tên chi, phân chi và tổ đều viết nghiêng, chữ đầu viết hoa, phần còn lại viết thường. Khi cần mô tả nhiều loài cùng một chi, người ta viết tắt tên chi bằng chữ viết hoa kèm theo dấu chấm. Tên loài được xác định bởi tên của chi kèm theo một tính ngữ, tên loài có thể gồm một từ hay hai từ nối liền nhau.

    Ví dụ: Plantagor major, Alisma plantago-aquatica.

    • Tính ngữ chỉ tên loài đều viết thường, không bao giờ viết hoa ngay cả khi tên đó lấy từ tên người (đương đại hay trong thần thoại) hoặc tên địa phương.
    • Nếu gặp một loài chưa biết, người ta thường viết tắt tên loài bằng chữ viết tắt sp. (species), viết đứng. Nếu có nhiều loài thuộc về cùng một chi nhưng không chỉ rõ loài nào, người ta có thể viết tắt thành spp., có nghĩa species plurima (nhiều loài), hoặc sp. plur.
    • Đối với tên phân loài, thứ và dạng cũng được cấu tạo dạng subsp. hay ssp.; var. và form. kiểu chữ đứng. Tên kèm theo các chữ viết tắt này viết nghiêng.

    Ví dụ: Setaria palmifolia var. rubra; Agapanthus inapertus ssp. pendulus

      Một tên cây đầy đủ phải kèm theo tên của tác giả đã công bố nó. Tên tác giả viết theo hệ chữ cái La Mã (chữ đứng) và phải viết tắt trừ trường hợp tên rất ngắn. Tên viết tắt phải kèm theo dấu chấm, miến sao tránh được sự nhầm lẫn giữa người này và người khác.

    Ví dụ: L. (chỉ Carl Linnaeus); DC. (chỉ De Candolle); Guill. (chỉ Guillemin); Guillaum. (chỉ Guillaumin)

      Nếu một tên chưa từng được công bố đã được công bố hợp pháp gắn với tên tác giả của nó thì người ta phải ghi tên tác giả của nó. Đối với cây có nguồn gốc trồng trọt cũng vậy. Nếu là cây trồng nhưng không biết tên của người trồng tạo ra nó thì thay vào tên tác giả người ta viết chữ “Hort”.

    Ví dụ: Rauvolfia chaudocensis Pierre ex Pitard, loài này cùng được Pierre và Pitard cùng công bố (ex: cùng) hợp pháp độc lập.

    Calanthe argenteo-striata C. Z. Tang et S. J. Cheng, Loài này được C. Z. Tang và S. J. Cheng cùng công bố trong một bài báo (et: và) hợp pháp

      Nếu có một loài đã được mô tả và nêu tên, được chuyển sang một chi khác bởi một tác giả mới thì tác giả sau phải giữ tên loài gốc (trừ những điều trắc trở). Trong trường hợp này, danh pháp lưỡng nôm mới sẽ kèm theo tên của tác giả đã công bố nó trước đó được đặt trong ngoặc đơn và tên của tác giả công bố sau đặt sau cùng.

    Ví dụ: cây Nhọc trái khớp, trước đây Diels đặt tên là Polyalthia plagioneura Diels, sau này Nguyễn Tiến Bân chuyển sang chi Enicosanthellum nên tên loài hiện tại viết là Enicosanthellum plagioneura (Diels) Ban

    Tên đồng nghĩa và luật ưu tiên

      Tên đồng nghĩa (synonym) cũng là tên La tinh. Khi có trường hợp đồng nghĩa thì tên xưa nhất được giữ lại nếu nó đúng và có giá trị (đúng theo luật quốc tế về sự ưu tiên). Tên đồng nghĩa được đặt trong ngoặc đơn sau tên chính thức.

    Ví dụ: Neptunia oleracea Lour. do Lourerio đặt ra năm 1790, sau đó, Willdenow căn cứ vào một mẫu lộn xộn Mimosa natans L.f. để đặt tên loài này thành một loài khác là Desmanthus natans (L.f.) Willd. vào năm1825.

    Vậy ta phải viết Neptunia oleracea Lour. (Desmanthus natans (L.f.) Willd.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Y Tế Giải Thích Ý Nghĩa Tên Đh Khoa Học Sức Khoẻ
  • Tên Phạm Kim Dung Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Kim Dung Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Kim Dung Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Kim Dung Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Viết Chữ Thư Pháp Theo Tên

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Quà Tết Xuân Xanh
  • Ý Nghĩa Tên Tường Là Gì Và Những Tên Đệm Đặc Sắc Cho Tên Tường
  • Giải Mã Ý Nghĩa Tên Thiên An Có Gì Đặc Biệt?
  • Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Xã Cẩm Bình
  • Thành Công Từ Một Chữ Tâm
  • Lưu ý: Các giải nghĩa và thông tin mình đưa ra chỉ mang tính chất tham khảo.

    – Ý nghĩa tên vần khác: Hãy liên hệ trực tiếp để được tư vấn.

                                                        Mẫu thư pháp bạn tên Hoàng Phúc

    Vậy tại sao bạn nên lựa chọn tranh thư pháp để tặng 

    – Bạn muốn tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với những người sở hữu tên đã nêu trên, có được sự quan tâm, kết giao và làm tăng thêm tình cảm giữa hai người, hoặc dùng để cảm ơn, nhắn gửi những lời tri ân sâu sắc nhất.

    – Đối với mỗi người, tên của họ luôn là thứ âm thanh đẹp nhất, tuyệt vời nhất trong cuộc sống, việc tặng họ tên của chính người ấy, sẽ là một điều vô cùng tuyệt vời, lưu giữ những giá trị tinh thần vượt xa những món quà vật chất khác.

    – Người được tặng sẽ nhớ đến bạn như là một trong những người hiểu họ nhất, sẽ nhớ mãi đến bạn vì món quà thể hiện sự quý mến và trân trọng.

    – Giáo dục con cái. Tại sao ư? Bạn sẽ thấy con mình vui mừng thế nào khi cầm trong tay chính bức thư pháp được viết theo tên của em trên đó.

    – Những cái tên luôn mang trên mình những ý nghĩa vô cùng tuyệt diệu, sẽ không thể nào nói hết thành lời nếu người nhận biết được rằng những cái tên của họ được viết lên tranh, được viết bên dưới những triết lý nhân văn hết sức tuyệt vời. Thư pháp Việt chính là một trong những sự lựa chọn tốt nhất giành cho bạn. 

    Tặng cho ai?

    – Tranh thư pháp theo tên được dùng để tặng cho những người sở hữu tên riêng, có thể hướng đến các đối tượng như ông bà, bố mẹ, anh chị em, con cái trong gia đình.

    – Tặng cho vợ, chồng, tặng sếp, đồng nghiệp, làm quà tặng sinh nhật, quà tặng tân gia, chúc mừng năm mới…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vẻ Đẹp Rực Rỡ Của Anh Sa
  • Ý Nghĩa Tên Tùng Là Gì Theo Phong Thủy & Gợi Ý Tên Lót Cho Tên Tùng
  • Tượng Trưng Cho Tình Yêu Thầm Lặng
  • Loài Hoa Đặc Biệt Chỉ Nở Vào Ban Đêm
  • Ý Nghĩa Tên Thùy Là Gì Và Tên Thùy Có Ý Nghĩa Gì Khi Kết Hợp Với Các Tên Lót
  • Chương I: Ý Nghĩa Đề Kinh Pháp Hoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoa Phong Lan: Truyền Thuyết Và Ý Nghĩa
  • Ý Nghĩa Của Hoa Phong Lan
  • Ý Nghĩa Của Hoa Thủy Tiên
  • Ý Nghĩa Hoa Thủy Tiên
  • Hồng Lâu Mộng Có Phải Chỉ Đơn Giản Là Tiểu Thuyết Ái Tình Kể Chuyện Tình Cảm Nam Nữ?
  • Đề kinh Pháp Hoa, tiếng Phạn là सद्धर्मपुण्डरीकसूत्रम् = Saddharmapuṇḍarīkasūtram. सद् = Sad, đi từ động từ सत् = Sat, có nghĩa là hiện thực, đích thực, thực tiễn, chân thực, vi diệu, điều không thể diễn tả được,… सद् = Sad, ngài Pháp Hộ, năm 286 TL, dịch là chánh

    धर्म = Dharma, đi từ động từ धृ = dhṛ, có nghĩa là bảo toàn, duy trì, làm cho hiện hữu, sắp xếp, làm cho có trật tự, duy trì để hiện hữu,… Do đi từ động gốc như vậy, nên Pháp hay dharma có nghĩa là nguyên tắc hay nguyên lý tồn tại,… Các Hán bản đều dịch là pháp.

    पुण्डरीक = Puṇḍarīka, có nghĩa là hoa sen trắng. Ngài Pháp Hộ, năm 265 TL, phiên âm là Phân-đà-lỵ và năm 286 TL, dịch là hoa. Ngài La Thập, năm 406 TL, Cấp Đa và Xà-na-khuất-đa, năm 601 TL, đều dịch là liên hoa. Ngài Tăng Duệ là một trong bốn vị đại đệ tử xuất chúng của ngài La Thập giải thích rằng, hoa sen là loài hoa đặc biệt hơn hết thảy các loài hoa. Và hoa đúng độ nở, gọi là Phân-đà-lợi. Hoa sen chưa nở là dụ cho nhị thừa đạo; nở ra mà đã rụng là dụ cho Niết bàn và hoa đang đúng độ nở là dụ cho kinh nầy.

    Vậy, सद्धर्मपुण्डरीक = Saddharmapuṇḍarīka, có nghĩa là Pháp đích thực, Pháp hiện thực, Pháp thuần khiết, Pháp nguyên vẹn, Pháp không thể diễn tả, Pháp vi diệu,… Pháp ấy ví như hoa sen trắng.

    Kinh Pháp Hoa là kinh nói về Pháp đích thực, Pháp hiện thực, Pháp chính xác của chƣ Phật, nên ngài Pháp Hộ dịch सद्धर्मपुण्डरीकसूत्रम् = Saddharmapuṇḍarīkasūtram là Chánh Pháp Hoa Kinh.

    Tại sao, ở kinh nầy, đức Phật dùng hoa sen để ví dụ cho Pháp? Vì đối tƣợng nghe kinh nầy là hàng Thanh văn, tức là những vị tu tập chƣa chứng nhập được Pháp Niết bàn tuyệt đối, nên đức Phật muốn dẫn dắt những vị nầy đi đến Niết bàn tuyệt đối ấy, vì vậy ở kinh nầy, đức Phật đã sử dụng nhiều ví dụ để dụ cho Pháp, khiến cho các đối tượng nghe Pháp nương vào các ví dụ mà thâm nhập và thể chứng được Pháp thân chân thực.

    Trong tất cả các ví dụ ấy, hoa sen trắng là ví dụ rốt ráo, xuyên suốt, nguyên vẹn và thuần khiết cho Pháp mà đức Phật hiển thị ở trong kinh nầy. Hoa sen trắng là dụ cho Nhất thừa, Pháp thân chân thực hay Phật tính nơi hết thảy chúng sanh vậy.

    Lại nữa, hoa sen được sử dụng để ẩn dụ cho kinh nầy, vì nó có những đặc điểm như sau:

    1. Có hoa là có gương: Hoa sen, hễ khi có hoa là liền có gương. Đây là dụ cho nhân quả đồng thời của kinh Pháp Hoa. Việc Long nữ hiến châu và liền thành Phật ở phẩm Đề-Bà-Đạt-Đa, vì tâm tham dục, vì tâm tà kiến, vì tâm bé nhỏ, nên không tiếp nhận được Diệu pháp. Những người đi nửa đường muốn trở quay về ở trong phẩm Hóa thành dụ là hiển thị cho đặc điểm nầy.

    5. Không bị sử dụng để trang điểm: Do hoa sen có đặc tính nầy, nên kinh Pháp Hoa đã dùng đặc tính ấy để ẩn dụ rằng, những kẻ tiểu tâm, tà trí, buông lung theo các dục thì không thể sử dụng đƣợc Diệu pháp để làm việc phi pháp, không thể lợi dụng Chánh pháp để hành hoạt tà pháp.

    Người say quên hạt minh châu trong chéo áo của phẩm Năm trăm đệ tử thọ ký là hiển thị cho đặc điểm nầy.

    6. Hoa nở sen hiện: Do hoa sen có đặc tính nầy, nên kinh Pháp Hoa đã sử dụng đặc tính nầy để ẩn dụ rằng, ở trong Diệu pháp có Thực pháp và Quyền pháp, ở trong đức Phật lịch sử có đức Phật siêu lịch sử, ở trong thiên bách ức Hóa thân của Phật Thích Ca đều có Pháp thân không sanh diệt cũng như Báo thân thanh tịnh và thường trú của Ngài.

    Quyền Pháp là pháp phương tiện. Đức Phật đã sử dụng Pháp nầy, tùy theo căn cơ, hoàn cảnh, trình độ của chúng sanh, mà Ngài vận dụng để thuyết Pháp thích ứng, nhằm khai, thị, ngộ, nhập Phật tri kiến cho chúng sanh, khiến cho hết thảy chúng sanh, dù đang ở vào vị trí nào, hoàn cảnh nào, trình độ nào cũng đều có thể ngộ, nhập được Phật tri kiến.

    Thực Pháp là Thực pháp của Pháp Hoa, là đệ nhất nghĩa chân thực. Pháp ấy là mục tiêu của Phật ra đời giáo hóa chúng sanh. Và là điểm đồng qui từ mọi phương tiện giáo hóa của Phật.

    Đức Phật lịch sử là đức Phật ra đời cách đây hơn hai mươi sáu thế kỷ ở Népal Ấn Độ giáo hóa chúng sanh và đã nói kinh Pháp Hoa trên đỉnh Linh Sơn như ở phẩm Phương tiện của kinh nầy đã trình bày. Đức Phật siêu lịch sử là đức Phật siêu việt thời gian như phẩm Hiện Bảo Tháp và phẩm Như Lai Thọ Lượng của kinh nầy đã mô tả.

    Do những đặc điểm thâm diệu của kinh như vậy, nên đặc điểm hoa nở sen hiện của hoa sen được sử dụng để nói lên những điểm thâm diệu mà thực tiễn của kinh nầy.

    7. Hoa rụng sen thành: Với đặc điểm nầy của hoa sen, được sử dụng để ví dụ cho thời kỳ giáo hóa hàng đệ tử Thanh văn của Phật đã đến chỗ thuần thục rồi, nên Ngài không giảng dạy cho họ những kinh điển dưới mức Pháp Hoa mà phải giảng dạy kinh Pháp Hoa và thọ ký cho họ thành Phật trong tương lai. Đây gọi là thời kỳ đức Phật thuyết Pháp có nội dung phế quyền hiển thực, nghĩa là phế bỏ pháp phương tiện mà chỉ thẳng pháp cứu cánh cho hàng thính chúng Thanh văn. Ví như hoa rụng thì sen thành.

    Việc các vị Bồ tát từ lòng đất vọt lên ở phẩm Tòng địa dõng xuất và việc Long nữ hiến châu ở phẩm Đề-Bà-Đạt-Đa là hiển thị cho đặc điểm nầy.

    Đề kinh Pháp Hoa bao gồm cả Pháp và dụ một cách thực tiễn và sâu xa như vậy, nên ngài Nhật Liên Đại Sư (1222 – 1282), Tổ sư của Pháp Hoa Tông Nhật Bản dạy rằng: “Chỉ cần thọ trì, đọc tụng đề kinh Pháp Hoa là có đủ nhân duyên để thành Phật”.

    Theo Hám Sơn – Đức Thanh Đại Sư (1546 – 1623), đời Minh, đề kinh Pháp Hoa là chỉ thẳng Nhất chơn pháp giới của kho tàng tâm Như Lai. Và dùng ý nghĩa ấy mà lập tên vậy. Đại Sư còn giải thích, tâm cảnh không hai, thuần là nhất chơn, nên gọi là Diệu pháp. Nhƣng, hết thảy chúng sanh ở trong Diệu pháp mà mê, nên gọi là “Tạng thức”. Ở nơi “Tạng thức” mà chư Phật giác ngộ, gọi là “Như Như Lai tạng”. Y vào nhất tâm mà kiến lập “Pháp giới liên hoa tạng”.

    Do đó, chơn vọng xuyên suốt, nhiễm tịnh dung thông, nhân quả đồng thời, thỉ chung đồng một ngằn mé.

    Vì vậy, nếu ước theo dụ, thì lấy hoa sen làm biểu tượng, nhưng nếu ước theo pháp, thì chỉ thẳng bản thể giác ngộ của tâm (Pháp Hoa Kinh Thông Nghĩa).

    Theo Thanh Đàm Đại Sư triều Gia Long, thì Diệu pháp là chỉ cho Thực pháp. Pháp là tâm xưa nay thanh tịnh. Tâm ấy xưa nay không sinh, không diệt, không nhớp, không sạch, không thêm, không bớt, tại phiền não không loạn động, tại trần lao không ô nhiễm, nên gọi là tâm xưa nay thanh tịnh vậy.

    Lại nữa, tâm ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của chúng sanh. Tròn đồng thái hư, rộng lớn không ngằn mé. Linh linh, lặng lặng, suốt xưa, suốt nay, yên yên, lắng lắng, chính là không, chính là sắc, không thể dùng tâm thức suy lường, phân biệt mà có thể biết được.

    Đức Thế Tôn, vì muốn đem một việc lớn là “Đại tâm” nầy, mà trao phó cho hàng Bồ tát, tạo thành nhân địa của tâm, làm gốc tu nhân, sau đó mới thành tựu quả địa tu chứng, nên gọi là Diệu pháp.

    Lại nữa, Diệu pháp là tùy theo tác dụng mà thiết lập vô lượng tên gọi khác nhau như: Đại sự nhân duyên; Phật tri kiến đạo; Cứu cánh Phật tuệ; Nhất thiết chủng trí.

    Liên hoa là thí dụ. Lấy trong sạch không ô nhiễm làm nghĩa. Tất cả thế gian không kham nhận tâm thanh tịnh ấy, nên kinh lấy hoa sen mà dụ cho tâm ấy. Hoa sen sinh ra ở trong bùn nước, nhưng không bị bùn nước làm cho ô nhiễm, cũng như tâm ở trong trần lao mà không bị trần lao làm mê hoặc.

    Tuy nhiên, tâm không có hình tướng, nhưng hoa lại có xanh vàng. Do nhân nơi hoa mà rõ được cái thấy. Nhân nơi cái thấy mà biết hoa. Sắc tướng của hoa là vô tình. Cái thấy, cái biết thuộc về tâm chân thực. Chỉ cần không vọng khởi phân biệt, thì vạn vật và ta vốn là như như.

    1. Chánh Pháp Hoa Kinh, Pháp Hộ, tr 63, Đại Chính 9

    2. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, La Thập, tr 01, Đại Chính 9

    3. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Hậu Tự, Tăng Duệ, tr 62a, Đại Chính 9

    4. Pháp Hoa Kinh Khai Đề, Nhật Bản, Không Hải soạn, tr 173ab, Đại Chính 56

    5. Chánh Pháp Hoa Kinh, Pháp Hộ, tr 63, Đại Chính 9

    6. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, La Thập, Đại Chính 9, 01

    7. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, tr 35c, Đại Chính 9

    8. Tăng thượng mạn: Phạn văn là adhimāna. Tâm kiêu mạn, chưa chứng đắc quả vị hoặc trí đức thực sự mà tự nhận rằng, mình đã kinh qua và chứng đắc(Phật Quang Đại Từ Điển 6, tr 5812b).

    9. Pháp Hoa Đề Cương, Thanh Đàm,Việt Nam Phật Điển Tòng San

    10. Pháp Hoa Kinh Khai Đề, Không Hải, Nhật Bản, tr173bc, Đại Chính 56.

    – Tỳ Lô Giá Na: Phạn là Vairocana. Phiên âm là Tỳ Lô Giá Na, Tỳ Lâu Giá Na, Tỳ Lô Chiết Na,… Dịch ý là Biến nhất thế xứ; nghĩa là có mặt khắp mọi nơi; hoặc dịch là Quang minh biến chiếu, nghĩa là ánh sáng soi chiếu cùng khắp; Đại nhật biến chiếu, nghĩa là mặt trời vĩ đại soi chiếu cùng khắp,… Như vậy, Tỳ Lô Giá Na, nghĩa là thân trí tuệ của Phật soi sáng cùng khắp, không có bất cứ sự chướng ngại nào, đối với sự và lý ở trong pháp giới (Phật Quang Đại Từ Điển 4, tr 3858, 3850).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ý Nghĩa Kinh Pháp Hoa Đối Với Người Tu Hành
  • Tìm Hiểu Một Vài Ý Nghĩa Về Kinh Pháp Hoa
  • Giải Mã Bí Ẩn Kinh Pháp Hoa
  • Hoa Hồng Xanh Cho Ngày Sinh Nhật Thêm Ý Nghĩa
  • Ý Nghĩa Của Những Bông Hoa Hồng Xanh
  • Giải Mã Bí Ẩn Kinh Pháp Hoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Một Vài Ý Nghĩa Về Kinh Pháp Hoa
  • Ý Nghĩa Kinh Pháp Hoa Đối Với Người Tu Hành
  • Chương I: Ý Nghĩa Đề Kinh Pháp Hoa
  • Hoa Phong Lan: Truyền Thuyết Và Ý Nghĩa
  • Ý Nghĩa Của Hoa Phong Lan
  • Lê Sỹ Minh Tùng

    Pháp Hoa là kinh tối thượng của Phật giáo Đại thừa bởi vì cấu trúc của kinh rất phức tạp, ý nghĩa sâu sắc có lẽ vượt ra ngoài tầm tư duy và suy luận của con người bình thường. Trong kho tàng kinh điển Đại thừa, kinh Pháp Hoa bắt đầu được phát triển, truyền bá rất sớm và rất rộng rãi vào khoảng 700 năm sau ngày Đức Phật nhập Niết bàn. Kinh giới thiệu rất nhiều pháp hội và rất nhiều các vị Bồ Tát cùng chư Phật trải suốt chiều dài của kinh. Biết bao cảnh giới bất tư nghì xuất hiện trong cả hai phần Tích môn và Bổn môn. Tuy kinh có dài, ý nghĩa sâu xa, nhưng vẫn không ra ngoài mục đích giúp chúng sinh “Khai, Thị, Ngộ, Nhập” Tri Kiến Phật. Nhưng quan trọng nhất vẫn nằm trong phần chót, phần Nhập Phật tri kiến, là phần thực hành để trở về sống với trí tuệ Phật của mình.

    http://thuvienhoasen.org/a9672/kinh-thu-lang-nghiem-giang-giai-suramgama-sutra-cuon-1

    Vậy làm thế nào để thâm nhập cái trí tuệ Phật này?

    Nhưng thực sự có cái Ta như thế không?

    Thế nào là xả niệm thanh tịnh trong cuộc sống?

    Thật ra tư tưởng này cũng chẳng có chi là xa lạ vì trong Kinh Pháp Cú, Đức Phật đã nói rất đơn giản, ngắn gọn là:” Tâm dẫn đầu các Pháp, Tâm làm chủ tạo tác… ” rồi.

    Trong Kinh Chuyển Pháp Luân ( Dhammacakkappavattana Suttam), Đức Phật giải thích Tam khổ : khổ khổ (cái khổ này chồng lên cái khổ kia), hoại khổ (hữu sinh, hữu diệt, có kết tụ tất có phân ly), hạnh khổ (sáu căn tiếp xúc sáu trần vọng tưởng phát sinh) và Bát khổ như sau: “Này các Tỳ khưu, đây là Thánh Đế về Khổ: Sanh là khổ; Già là khổ; Bệnh là khổ; Chết là khổ; gần người, vật không ưa là khổ; xa người, vật đáng mến là khổ; không được điều mình muốn là khổ; tóm lại ngũ uẩn (pañcupādānakkhandhā) là khổ”.

    Ở đây, Đức Phật muốn chúng sinh thấy biết (Tri Kiến) Danh – Sắc tức là Thân – Tâm như chúng thực sự là và sự quan hệ với nhau như thế nào nghĩa là trong thế giới của ngũ uẩn, Danh dựa vào Sắc như thế nào?

    Trong Kinh Thế Gian ” Loka sutta” Đức Phật đã giải thích Danh – Sắc (Thân- Tâm) (ngũ uẩn) dưới dạng thập bát giới nghĩa là sáu căn tiếp xúc với sáu trần sinh ra sáu thức. Đức Phật dạy rằng:

    Với sự tụ họp của ba: mắt, sắc, nhãn thức có xúc (phasso).

    Do duyên xúc, có thọ (vedanā);

    Do duyên thọ, có ái (taṇhā);

    Do duyên ái, có thủ (upaadāna);

    Do duyên thủ, có hữu (bhava);

    Do duyên hữu, có sanh (jāti);

    Do duyên sanh, có già chết (jarā, marana);

    Sầu, bi (soke, parideva);

    Khổ, ưu, não (dukkha, domanassa, upāyāsa) có mặt.

    Các căn còn lại cũng thế:

    Vì tâm của con người thay đổi từng sát na tùy theo ngoại cảnh cho nên trong phần Diệt Đế, Đức Phật giải thích sự chấm dứt khổ đau như sau:

    – Do vô minh diệt, (avijjāya tveva asesavirāga nirodhā), các hành diệt (sankhāra nirodho);

    – Do hành diệt, thức diệt;

    – Do thức diệt, danh-sắc diệt;

    – Do danh-sắc diệt, lục nhập diệt;

    – Do lục nhập diệt, xúc diệt;

    – Do xúc diệt, thọ diệt;

    – Do thọ diệt, ái diệt;

    – Do ái diệt, thủ diệt;

    – Do thủ diệt, hữu diệt;

    – Do hữu diệt, sanh diệt;

    – Do sanh diệt, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt.

    Như vậy là sự diệt của toàn bộ khổ uẩn.

    1)Trước hết, trong phẩm Dược Vương Bồ Tát ( Phẩm thứ 23), Bồ Tát Dược Vương đốt thân và hai tay để cúng dường Phật Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức thì đây là phá sắc uẩn.

    Chánh kinh:

    Chánh kinh:

    “Bồ-tát Hỉ Kiến đã dùng gỗ chiên-đàn làm giàn hoả thiêu, thâu xá lợi đựng vào 84,000 bình báu, xây 84,000 ngọn tháp cao ba thế giới”.

    Chánh kinh:

    “Bây giờ, Bồ-tát lại tự nghĩ: Cúng dường xá lợi như thế chưa đủ. Bèn ở trước 84,000 ngọn tháp, đốt 2 cánh tay được trang nghiêm bằng trăm phước, suốt 72,000 năm, khiến vô số hạng cầu quả Thanh Văn và vô lượng người phát tâm cầu Vô thượng giác đều đứng vững trong chánh định ” Hiện nhất thiết sắc thân”.

    Bồ Tát Hỷ Kiến sau khi đốt thân để cúng dường Phật nghĩa là ngài đã xả kiến chấp về chấp ngã nơi thân. Bây giờ ngài nguyện đốt luôn hai cánh tay để cúng dường tháp Phật. Đốt thân là để phá kiến chấp ngã nơi thân và đốt hai cánh tay là để phá nốt mọi kiến chấp nơi tâm.

    Nhưng tại sao lại đốt hai cánh tay?

    Phật giáo Đại thừa vì chịu ảnh hưởng rất lớn của kinh Pháp Hoa cho nên trong các giới đàn thường thấy các giới tử sau khi quỳ xuống và đốt 9 huyệt ở trên đỉnh đầu để cúng dường chư Phật và biểu lộ chí nguyện của mình. Như vậy sự đốt hương trên đỉnh đầu để cúng dường chư Phật bắt nguồn từ kinh Pháp Hoa vậy.

    4)Lửa (heat) là thân nhiệt tức là năng lượng để nuôi thân và nguồn năng lượng này lấy từ thức ăn, thức uống hằng ngày.

    Vì vậy bất cứ sự chấp thủ, tham ái cho thân thể (sắc uẩn), hoặc bất cứ một đối tượng vật lý, sinh lý nào cũng đều tiềm ẩn nguy cơ đau khổ cho nên Đức Phật dạy rằng ” Ai cho rằng sắc uẩn là Ta, là Của Ta, là tự ngã Của Ta thì chắc chắn gặt hái đau khổ, thất vọng, sầu muộn, vấp ngã và tai nạn “.

    2)Kế đến phẩm Diệu Âm Bồ Tát Vãng Lai ( Phẩm thứ 24) thì Bồ Tát Diệu Âm đã sử dụng 10,000 thứ kỹ nhạc để cúng dường cho Phật Vân Lôi Âm Vương thì đây là phá thọ uẩn.

    Chánh kinh:

    Phần này kinh nói về sắc tướng và âm thanh bởi vì hằng ngày hai yếu tố làm cho con người đau khổ nhiều nhất là sắc và thanh tức là thấy và nghe. Tuy hương, vị, xúc, pháp cũng tác hại, nhưng tầm quan trọng của nó không bằng sắc và thanh.

    Xả thọ (adukkhama-sukhāvedanā)(neutral) hay vô ký thọ là không vui cũng chẳng buồn. Lúc nào cũng vậy thôi, trước sau như một. Thí dụ hằng ngay ra đường mắt thấy biết bao chiếc xe, nhà cửa…tuy thấy tất cả mà chẳng quan tâm để ý thì tâm dững dưng không vui mà cũng chẳng buồn.

    3)ĐếnPhẩm thứ 25: Phổ Môn , Bồ Tát Quán Thế Âm phá tưởng uẩn để giúp chúng sinh hết sợ.

    Chánh kinh:

    Thế nào là thế giới Ta Bà?

    Hiện nay có trên sáu tỷ người trên thế giới trải khắp năm châu bốn bể nên không có chuyện Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân bằng hình tướng này hay hình tướng nọ để an ủi, cứu giúp họ. Mà huyền nghĩa của kinh là Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân chính ở ngay trong tất cả mọi người. Tâm tưởng con người biến đổi từng giây, từng phút. Thí dụ có những lúc chúng ta giận dữ, cố đấu tranh hơn thua nghĩa là trong giây phút đó chúng ta đang sống trong cảnh giới của A tu la. Nếu bấy giờ chúng ta niệm Bồ Tát Quán Thế Âm thì ngài hiện đến thế giới A tu la đó nghĩa là từ trong lòng ta phát ra những Diệu Âm để hóa giải hết giận hờn, tranh chấp tức là đưa chúng ta thoát ra khỏi cõi A tu la. Ngược lại, nếu tâm ta đang phát khởi những niệm lành và muốn phát triển thêm hạnh lành nên niệm Bồ Tát Quán Thế Âm thì Bồ Tát liền hiện trong cái tâm lành của ta bằng với thập thiện nghiệp đó tương ứng với các chư Thiên để khuyến khích, giúp đở ta thành tựu ý chí thiện đó. Vì thế bất cứ tâm niệm nào cũng có thể tưởng niệm, tư duy quán chiếu tiếng Diệu Âm mầu nhiệm trong lòng mình để nhắc nhở trên con đường hoàn thiện của mình. Đó chính là khả năng du hành tự tại của Bồ Tát ở cõi Ta Bà vậy.

    Như vậy phương pháp tốt nhất có thể tạo ra một môi trường hạnh phúc và an bình chân thật là pháp thí vô úy tức là làm cho người khác không còn sợ hãi vì trong ý nghĩa sâu thẳm nhất của vô úy thí đồng nghĩa với giải thoát và hạnh phúc.

    Mời xem Youtube của TT Thích Nhật Từ: https://www.youtube.com/watch?v=Aja2BkWrj40

    Một ngày nọ có một vị tu hành lên đò để sang sông. Ngặc nổi cô lái đò lại rất trẻ đẹp nên vị sư nầy cứ lấm liếc nhìn cô ta. Khi sang bến, thay vì phải trả tiền đò như những người khác, cô lái đò đòi tiền vị tu sĩ gấp đôi. Ngạc nhiên, vị tu sĩ hỏi :

    – Tại sao cô lại tính tiền tôi nhiều gấp đôi vậy?

    Cô lái đò đáp :

    – Khách đi đò thì họ chỉ đi đò nên tôi tính tiền có một, còn Ngài thì vừa đi đò vừa ngắm nghía tôi nên tôi phải tình tiền gấp đôi.

    Sau khi hoàn thành Phật sự vị tu sĩ phải trở lại bến đò để về chùa, nhưng lần nầy vị tu sĩ lấy nón che mặt lại khi sang sông. Khi đến bến thay vì chỉ trả một đồng tiền đò thì cô lái đò lại đòi đến bốn đồng. Quá đỗi ngạc nhiên, vị tu hành hỏi:

    – Tại sao lần này cô lại đòi tiền tôi quá nhiều thế?

    Cô lái đò đáp :

    – Khi qua sông thì Ngài chỉ lấy mắt nhìn tôi nên tôi đòi tiền gấp đôi, bây giờ trở về Ngài không nhìn tôi bằng mắt mà Ngài nhìn tôi bằng tâm tưởng. Cái nhìn của mắt có giới hạn nên tôi chỉ đòi hai đồng còn tâm tưởng thì vô biên vô lượng, ai biết Ngài đang nghĩ gì hay muốn làm gì nên tôi phải đòi tiền gấp bốn lần là như vậy.

    4)Bây giờ đến phẩm Đà-la-ni (Phẩm thứ 26): Phá Hành uẩn.

    5)Và sau cùng phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự ( Phẩm thứ 27) là phá luôn thức uẩn.

    Chánh kinh:

    Thuở xưa, cách đây vô lượng vô biên kiếp, có đức Đhật hiệu Vân Lôi Âm Tú Vương Hoa Trí, tại nước Quang Minh Trang Nghiêm, kiếp tên là Hỉ Kiến.

    Tại Pháp hội của đức Phật đó, có một nhà vua tên là Diệu Trang Nghiêm, phu nhân tên là Tịnh Đức và hai con tên là Tịnh Tạng và Tịnh Nhãn.

    Hai người con có sức thần thông lớn, có phước đức và trí tuệ, từ lâu tu tập 10 pháp ba-la-mật, rành cả 37 phẩm trợ đạo, lại các môn tam muội của Bồ-tát như: Nhật-tinh-tú, Tịnh-quang, Tịnh-sắc, Tịnh-chiếu, Trường-trang-ngiêm, Đại-oai-đức.

    Lúc đó, vì muốn dẫn đường cho vua Diệu Trang Nghiêm và cũng vì lòng thương chúng sanh, Phật Vân Lôi Âm nói kinh Pháp Hoa này”.

    A) Đối với Phật giáo Nguyên thủy , thức được hiểu như là dòng chảy liên tục của các ý niệm. Các ý niệm này tùy thuộc nhiều yếu tố khác mà phát sinh, Đức Phật gọi quá trình tuỳ thuộc phát sinh nầy là “duyên khởi” (paticasamupàda). “Thức” chỉ là một mắc xích trong 12 mắc xích duyên khởi mà thôi. Đối với Phật giáo Nguyên thủy, phần tâm linh chỉ có hai cái tâm:

    Vì tầm quan trọng của ý thức, Đức Phật dạy trong Kinh Pháp Cú rằng:

    Tâm làm chủ tạo tác

    Nói năng hay hành động

    Như bánh xe lăn theo

    Dấu chân con vật kéo (Pháp Cú 1)

    Ngược lại:

    Tâm làm chủ tạo tác

    4)Tâm sau cùng là thức thứ tám tức là A lại da thức, là kho chứa tất cả kinh nghiệm, kiến thức, ký ức, kỷ niệm và tất cả những chủng tử thiện, ác, tốt, xấu và vô ký.

    Vì thế muốn chuyển tâm, chuyển nghiệp thì trước hết phải làm chủ thân, tâm, kiểm soát sáu thức. Nếu con người luôn sống trong tỉnh thức chánh niệm thì ý thức không tác tạo hoành hành được.

    Tóm lại, tuy cấu trúc của kinh Pháp Hoa rất phức tạp, nhưng nội dung cũng không ngoài mục đích giúp chúng sinh phá chấp Ngã (phá ngũ uẩn) để không còn chấp thân, tâm này là Ta hay là Của Ta.

    Con Đường Tám Chánh là thù thắng nhất

    Đây là con đường duy nhất

    Tóm lại con đường đưa đến giải thoát là không còn tham, không còn sân và không còn si.

    Lê Sỹ Minh Tùng

    Muốn tham khảo toàn bộ Kinh Pháp Hoa Giảng Giải của soạn giả Lê Sỹ Minh Tùng xin bấm vào:

    http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-73_4-16394_5-50_6-4_17-239_14-1_15-1/kinh-phap-hoa-giang-giai.html

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Hồng Xanh Cho Ngày Sinh Nhật Thêm Ý Nghĩa
  • Ý Nghĩa Của Những Bông Hoa Hồng Xanh
  • Truyền Thuyết Hoa Hồng Xanh Là “nữ Hoàng” Của Các Loài Hoa Tượng Trưng Cho Tình Yêu
  • Ý Nghĩa Của Hoa Hồng Xanh
  • Ý Nghĩa Của Hoa Hồng Màu Xanh
  • Ý Nghĩa Mẫu Danh Maria

    --- Bài mới hơn ---

  • Maria Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Bắt Nguyên Giám Đốc Bệnh Viện Bạch Mai Nguyễn Quốc Anh
  • Giới Thiệu Về Bình Dương
  • Đồng Chí Nguyễn Duy Trinh – Một Nhà Ngoại Giao Xuất Sắc, Người Con Ưu Tú Của Quê Hương Nghệ An
  • Nguồn Gốc Tên Của Hồ Chí Minh, Tâm Việt
  • Sau khi hạ sinh Ái Nữ (lễ Sinh Nhật Đức Mẹ ngày 8 tháng Chín), Ông Bà Gioakim và Anna đặt tên cho Ái Nữ là Maria (lễ Thánh Danh Đức Mẹ ngày 12 tháng Chín). Hai Ông Bà hợp tác với kế hoạch của Thiên Chúa, đặt cho Đức Mẹ một cái tên được khẩn cầu mãi mãi.

    Tương tự các tên khác trong Kinh Thánh, tên Maria cũng mang ý nghĩa đặc biệt về sự liên kết tâm linh.

    Một cách hiểu khác về từ Mar diễn tả Mẫu Danh Maria là “giọt nước biển”. Thánh Giêrônimô diễn tả bằng La ngữ là Stilla Maris, về sau được đổi thành Stella Maris. Điều này giải thích về danh xưng phổ biến dành cho Đức Mẹ “Sao Biển”. Thời đó các thủy thủ thường nhìn sao trời để định hướng để đi, việc gọi Đức Mẹ là Stella Maris đề cập sự hướng dẫn của Đức Mẹ dành cho tội nhân trên đường đến Bến Bờ Vĩnh Hằng.

    Cách diễn tả khác của từ Miryam tập trung vào tiếng Do Thái là Mari, người ta thấy trong đó có từ “bà” (mistress hoặc lady), làm cho tên Maria thành “Đức Bà Sao Biển” (Lady of the Sea).

    Thánh Bonaventura dùng các ý nghĩa này và kết hợp biểu tượng của chúng, đặt vào đó ý nghĩa tâm linh.

    Tên gọi xứng đáng, ngọt ngào và thánh đức này rất phù hợp với Đức Mẹ. Vì Maria nghĩa là “Biển Đắng Cay”, là “Sao Biển”, là “Ánh Sáng Ngời”, và là “Đức Bà”. Đức Maria là “Biển Đắng Cay” đối với ma quỷ; là “Sao Biển” đối với nhân loại; là “Ánh Sáng Ngời” đối với các thiên thần, còn đối với mọi thụ tạo thì Đức Maria là “Đức Bà”.

    Thánh Thomas Aquino cũng đề cập biểu tượng tương tự: “Maria nghĩa là Sao Biển, bởi vì các thủy thủ được hướng dẫn tới bến bờ nhờ ánh sao khi vượt biển, thế nên các Kitô hữu cũng đạt tới vinh quang nhờ lời cầu bầu của Đức Mẹ”.

    Trong khi từ nguyên vẫn được các học giả tranh luận, Giáo Hội vẫn chấp nhận cách hiểu tốt lành này và coi Đức Mẹ là “Sao Biển” mà chúng ta ngước nhìn và cố gắng đi theo trong những cơn dông tố cuộc đời này.

    Philip Kosloski

    Trâm Thiên Thu chuyển ngữ từ 

    https://aleteia.org/2017/09/12/the-spiritual-meaning-of-the-virgin-marys-name/

    ✝ Thưởng thức AVE MARIS STELLA – KÍNH CHÀO MẸ SAO BIỂN

    LÀM NGƯỜI

    Khi mừng sinh nhật một con người, chúng ta thường tặng thiệp hoặc quà, và nói lời “Chúc Mừng Sinh Nhật – Happy Birthday”. Mừng kính sinh nhật Đức Mẹ, chúng ta biết làm gì? Kính mừng Sinh Nhật Đức Mẹ, có lẽ không lời chúc nào đẹp bằng lời Sứ thần Gabriel đã nói ngày xưa: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc…”. Và chắc hẳn không gì làm Đức Mẹ vui bằng cách nói lời “xin vâng” như Đức Mẹ, nghĩa là chúng ta phải làm theo lời dạy của Chúa Giêsu. Thật vậy, tại tiệc cưới Ca-na, Đức Mẹ đã dặn các gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2:5). Chắc hẳn Đức Mẹ cũng đang bảo mỗi chúng ta như vậy. Thực hành theo lời Đức Kitô là món quà sinh nhật quý giá và thánh đức để chúng ta kính tặng Người Mẹ Hiền của mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm 16 Loại Quân Trong Đế Chế Aoe 1 – Tips Age Of Empires
  • Tìm Hiểu Các Quân Trong Đế Chế Và Đặc Điểm Của Từng Loại Quân
  • Cách Đặt Tên Con Cháu Dòng Họ Nguyễn Phúc
  • 7 Tổng Lãnh Thiên Thần
  • 20 Tên Của Thiên Thần Và Ý Nghĩa Của Chúng / Văn Hóa Chung
  • Ý Nghĩa Của Chữ Thảo Trong Thư Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Bùi Khánh Linh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Bùi Khánh Linh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Bùi Lê Khánh Linh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Hoàng Linh Chi Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Hoàng Linh Chi Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Viết chữ thư pháp nghệ thuật từ lâu đã trở thành quen thuộc đối với nhiều người. Không chỉ riêng thế hệ trẻ mà nhiều đối tượng khác cũng có nhu cầu ấy. Tuy nhiên, không phải ai trong quá trình luyện chữ cũng thành công. Bởi lẽ, viết chữ không chỉ đơn thuần đẹp ở hình thức bên ngoài mà còn đặc biệt ở ý nghĩa của nó. Vì thế, việc tìm hiểu nghĩa của chữ là vô cùng cần thiết. Ở bài viết này, bút máy thanh đậm Ánh dương sẽ giải thích rõ cho các bạn về ý nghĩa của chữ thảo trong thư pháp.

    Ý nghĩa của chữ thảo trong nghệ thuật thư pháp

    Chữ thảo trong thư pháp là gì? Được viết như thế nào? Nó có điểm gì khác so với các chữ khác? Đó là băn khoăn của những người luyện viết chữ thảo. Bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu đến bạn đặc điểm, cách viết và ý nghĩa của chữ thảo trong thư pháp.

    Lịch sử ra đời của chữ thảo trong thư pháp

    Theo sử sách, chữ Thảo được hình thành vào khoảng đời Hán cho tới trước đời Tần. Chữ Thảo ra đời khi người ta viết chữ Lệ theo kiểu tốc ký, nhanh hơn, tiện hơn. Nhờ vậy mà truyền tải thông tin kịp thời, nhất quán, đúng thời điểm.

    Thời Hán, chữ Thảo còn mang nhiều dấu tích của lệ thư và được gọi là chương thảo. Chương thảo nghĩa là mạch lạc, trật tự và rõ ràng. Đến thời Tần, chữ thảo hòa lẫn nhiều nét và trở thành kim thảo. Và thời Đường, chữ thảo lại được biến điệu trở thành cuồng thảo. Khi các nét viết ngày càng phóng khoảng và mãnh liệt hơn.

    Sự khác nhau giữa chữ thảo thư pháp với các chữ khác

    So với chữ lệ, khải, hành và triện thư, thì chữ thảo thư pháp có nhiều điểm riêng biệt. Đó là mức độ đơn giản hóa của chữ thảo lớn nhất trong các kiểu chữ. Bởi chữ thảo chỉ cần một nét để diễn tả ý nghĩa. Chính vì thế, chữ thảo được dùng trong các trường hợp tốc ký. Hoặc viết thư, viết một bản thảo, viết báo tường hoặc ứng dụng trong nghệ thuật thư pháp.

    Đặc điểm của chữ thảo thư pháp

    Chữ thảo thư pháp được viết mềm mại, tao nhã và mang tính trìu tượng cao. Chữ thảo thường có hình dạng tròn, mềm, ít góc cạnh, ít uốn lượn. Chữ được viết bằng một nét liền, bút không rời khỏi mặt giấy. Nếu viết nhiều chữ liên tiếp nhau thì các nét nối liền và hòa vào nhau, đầy tính nghệ thuật. Nên tự học viết chữ thư pháp chữ Thảo sẽ phải dành nhiều thời gian luyện tập.

    Ý nghĩa của chữ thảo trong thư pháp

    Chữ thảo thư pháp nhiều nét bị lược bỏ, trộn lẫn, giữ lại dáng vẻ thô sơ của chữ gốc. Chính vì điều này nên rất ít người đọc và hiểu được ý tứ của chữ thảo. Do vậy, chữ thảo không được ứng dụng vào sinh hoạt và chữ viết hành chính. Nhưng, chữ thảo lại tìm được vị trí quan trọng nghệ thuật thư pháp. Chữ thảo phóng khoáng bay bổng, uyển chuyển và ý vị. Phép tắc chữ nghiêm ngặt, chữ không tách rời nhau, uyển chuyển và đầy ý vị. Rất thích hợp khi viết chữ nghệ thuật thư pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Thư Pháp Của Bạn Là Gì? Ý Nghĩa Của Cái Tên
  • Tên Nguyễn Ngọc Thảo My Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Lê Thảo My Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Vân Anh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Vân Anh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Ý Nghĩa Phẩm Tựa Thứ Nhất Kinh Pháp Hoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoa Phong Lan Tím Ở Nước Nào Và Ý Nghĩa Hoa Lan Hồ Điệp Tím
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Của Loài Hoa Phong Lan
  • Loài Hoa Của Vẻ Đẹp Quý Tộc
  • Sứ Giả Của Sự May Mắn Và Hạnh Phúc
  • Ý Nghĩa Của Huyền Thoại “Mộc Thạch Tiền Minh” Trong Tác Phẩm Hồng Lâu Mộng
  • Ý NGHĨA PHẨM TỰA THỨ NHẤT KINH PHÁP HOA

    HT. THÍCH TRÍ QUẢNG

     

    Bài giảng tại trường hạ Việt Nam Quốc Tự

    Trước khi nói kinh Pháp hoa, Phật nói kinh Vô lượng nghĩa là nói đủ cách, nên gọi

    là tùy bệnh mà cho thuốc để giúp mọi người sống đạo đức và có trí tuệ, tức Phật

    chữa lành bệnh cho thế gian và từ vị trí phàm phu, Phật chuyển hóa họ trở thành

    Hiền thánh.

    Khi vô kinh Pháp

    hoa, các thầy thấy không giống như trước nữa. Lúc mới học kinh Pháp hoa,

    tôi nghĩ Phật nói kinh này ở núi Linh Thứu mà đi hành hương đến đây, chúng ta

    thấy khuôn viên của đạo tràng phải nói rất nhỏ hẹp. Nhưng trong kinh nói có

    12.000 Tỳ-kheo, 80.000 Bồ-tát, hơn 70.000 chư Thiên, cũng có Long vương,

    Càn-thát-bà, A-tu-la, Khẩn-na-la, Ca-lầu-la cùng nhiều quyến thuộc, vua A Xà Thế

    cùng với quần thần và những người hộ đạo tham dự pháp hội. Chúng hội đông như

    thế làm thế nào có đủ chỗ ngồi.

    Và điều thứ hai mà tôi suy nghĩ là Phật nói kinh Pháp

    hoa trong 8 năm cuối cùng của cuộc đời Ngài. Trong lúc đó, Xá Lợi Phất, Mục

    Kiền Liên, ba anh em Ca Diếp chết rồi thì Phật nói gì. Hòa thượng Trí Tịnh dạy

    tôi rằng thầy muốn học kinh Pháp hoa phải có niềm tin và căn lành thì thấy

    Phật bằng niềm tin và căn lành. Thấy Phật bằng mắt sẽ không thấy được, không hiểu

    được.

    Mở đầu kinh Pháp hoa, Phật nói kinh Vô lượng

    nghĩa; như vậy kinh Vô lượng nghĩa là cánh cửa mở ra cho chúng ta đi

    vào kinh Pháp hoa. Pháp hoa là tâm chúng ta như viên ngọc sáng,

    thân như hoa sen. Kinh Pháp hoa là Phật thừa. Phật thừa là thế giới chư

    Phật có từ Bồ Đề Đạo Tràng, tức Phật tu chứng được thì bấy giờ Phật Thích Ca

    thông được với tất cả Phật trong ba đời mười phương.

    Ngày nay, tôi ví sự tương thông của Phật Thích Ca với chư

    Phật mười phương giống như chúng ta nối mạng, nó là dòng điện, dòng tư tưởng

    siêu tần không thấy bằng mắt, nhưng chúng ta có thể quan hệ khắp nơi trên địa cầu,

    xa là các hành tinh. Phật giáo gọi đó là Pháp giới.

    Thành Phật, vô thế giới đó là thế giới mầu nhiệm của Phật,

    không cắt nghĩa được, nó lìa ngôn ngữ, lìa tư duy, lìa sự hiểu biết của chúng

    ta. Vì vậy, dùng ngôn ngữ, tư duy và hiểu biết đi vào thế giới Phật không được,

    điều này quan trọng nhất mà chúng ta phải nhận biết. Vào cánh cửa đó, chúng ta

    phải tắm rửa sạch sẽ, tức không còn phiền não, nghiệp chướng, trần lao mới vào

    thế giới Pháp hoa được. Và vô số phương tiện Phật mở ra cho chúng ta được sáng

    suốt.

    Muốn vào cửa đạo thực sự dù xuất gia hay tại gia phải cắt

    đứt phiền não. Người còn kẹt thập triền thập sử không vào Pháp hoa được. Vì vậy,

    tôi thường nhắc các thầy gặp việc đáng buồn, đáng giận, đáng sợ, chúng ta không

    buồn, không giận, không sợ, vì buồn giận sợ là phiền não. Người tu tập cắt những

    tình cảm tiêu cực này.

    Tụng kinh Pháp hoa, chỉ một câu là trước khi Phật

    nói kinh Pháp hoa, Ngài nói kinh Vô lượng nghĩa. Chúng ta phải hiểu

    kinh Vô lượng nghĩa là các pháp phương tiện, là thuốc chữa tất cả bệnh của

    chúng sanh. Nhận thức lý này, tôi tập thói quen trong lòng muốn ăn thì tôi

    không ăn, vì quan trọng đối với tôi là tâm.

    Người tu không xả được tâm tham ăn, tham ngủ, nói chung

    tham ngũ dục giữ đủ nguyên thì chỉ có chiếc áo tu, không phải là người tu thực

    sự. Trong năm cái tham này, cái nào cắt được thì cắt bỏ lần, không còn chi phối

    ta để chuẩn bị con đường tiến lên Hiền thánh.

    Thể hiện sự quan trọng của học kinh Vô lượng nghĩavà thực tập kinh này, Phật nói kinh Vô lượng nghĩa rồi Ngài nhập Vô lượng

    nghĩa xứ tam muội để cho chúng ta thấy vô định này được an lạc, mát mẻ khác với

    người không biết tu được ví như người khát uống nước muối thì càng uống càng

    khát, tức tham dục càng tăng.

    Pháp của Phật chỉ dạy, mình thực tập phải thành công thì

    cuộc sống được an lạc vô cùng. Nghe tiếng bảng xuống trai đường, có gì ăn nấy.

    Tôi đã trải nghiệm pháp này. Trong khi huynh đệ không bằng lòng đời sống tri

    túc của người tu, họ cố làm kiếm tiền, nhưng kiếm bao nhiêu cũng không đủ để

    cung cấp cho cái miệng. Càng tham càng không có. Nhưng nếu các thầy cắt lòng

    tham liền nhận được quả đầu tiên là giải thoát vì không bận tâm với năm món dục,

    nên chữa được tâm bệnh thì thân theo đó được khỏe mạnh.

    Được giải thoát trước tiên là tôi không quan tâm đến ăn;

    có thì ăn, không thì thôi. Tập được như vậy, cuộc sống rất thoải mái; nếu

    không, phải khổ vì suốt ngày bị cái ăn hành hạ, mà thực tế ăn được bao nhiêu,

    nghĩ đến nó làm chi cho khổ.

    Phật nói kinh Vô lượng nghĩa và nhập định Vô lượng

    nghĩa chính là Phật thể hiện cho chúng ta thấy được ý nghĩa thực sự của câu mà

    Ngài đã nói: “Những gì Ta nói, Ta đã làm. Và Ta làm những gì Ta nói”. Còn chúng

    ta nói kinh, nhưng nhìn kỹ không có gì dính vô tâm chúng ta, dính vô việc làm của

    chúng ta.

    Tôi đọc cuộc đời của Xá Lợi Phất ghi rằng Ngài muốn viên

    tịch trước khi Phật vào Niết-bàn. Ngài về vấn an mẹ và thuyết pháp cho mọi người

    nghe, rồi Ngài ngồi kiết-già nhập định. Tôi nghĩ Xá Lợi Phất làm như vậy, mình

    học Xá Lợi Phất để làm sao mình muốn chết thì chết.

    Các thiền sư Nhật thường thực tập cái chết, vì tất cả mọi

    người đều phải chết. Và khi người tu chuẩn

    bị chết, chúng ta không tham lam gì, dễ được giải thoát. Một vị thiền sư bảo

    tôi rằng thầy hãy cố gắng thực tập ba cái chết.

    Cái chết thứ nhất là tập nhịn ăn. Ba vị thầy mà tôi kính

    trọng đều bị bệnh ung thư gan là Hòa thượng Trí Hữu, Hòa thượng Thiện Hoa và

    Hòa thượng Thiện Siêu. Tôi thấy ba vị này thường ăn chao.

    Bác sĩ Dậu nhắc tôi đừng ăn chao, ăn mắm, ăn các thứ lên

    men, vì khi ủ có các loại meo là mốc xanh, mốc đỏ… và có một loại mốc gây ung

    thư.

    Bác sĩ nói với Hòa thượng Trí Hữu nếu khối u không phát

    triển, Ngài sống thêm 3 năm, nếu nó phát triển thì sống thêm 3 tháng, nên phải

    chuẩn bị cái chết. Hòa thượng bắt đầu nhịn ăn, lúc mới Hòa thượng chỉ ăn cháo

    trắng. Một khoảng thời gian, Hòa thượng không ăn, chỉ uống nước.

    Thiền sư Nhật dạy tôi tập nhịn ăn, tập nhịn lần lần,

    không phải nhịn liền, tập ăn ít, ăn nhẹ. Tôi tập ăn ít, chỉ ăn nửa chén cơm mỗi

    bữa trải qua mấy chục năm. Tập ăn ít như vậy quen rồi thì đến lúc nào cần là cắt

    luôn việc ăn uống sẽ không thấy khổ. Còn đang ăn ba bát cơm và ăn ba bữa một

    ngày, mà bảo các thầy tuyệt thực rất khó.

    Tập chết, đầu tiên tập nhịn ăn, nhưng muốn nhịn ăn được

    phải có cái khác thay thế, là nhịn thực phẩm, thay bằng ăn cơm thiền, uống nước

    pháp. Vì vậy, siêng năng tụng kinh, lạy Phật, ham tu thì quên ăn, quên đói. Vào

    thiền thấy yên ổn, quên ăn, trong đạo gọi là thiền thực và pháp thực, đó là hai

    thức ăn của người tu. Có thức ăn này mới đắc đạo được. Còn thực phẩm khác ăn

    nhiều thì nợ nhiều. Hạn chế ăn để đỡ mắc nợ. Người đời ăn nhiều phải làm nhiều.

    Người tu không ăn nhiều, thay bằng thiền, say mê nghiên cứu

    kinh điển, say mê thiền quán cho niềm vui kỳ diệu là có tự thọ dụng thân, không

    lệ thuộc vật chất, không lệ thuộc người khác.

    Người đời cần thức ăn, cần bạn bè, cần tán gẫu, cần đi

    chơi để vui; nhưng sau những cái vui như vậy luôn là cái buồn tự đến.

    Nhưng thực tập thiền, tu được, có niềm vui lâu dài và trọn

    vẹn, không bị mất. Vì ta nghĩ ra điều gì thì cái đó của ta. Vì vậy, người tu phải

    có thế giới quan riêng là thế giới thiền, thấy họ ngồi yên, không làm, nhưng có

    sinh hoạt nội tâm tốt đẹp. Không thực tu sẽ không gặt hái được kết quả.

    Đức Phật nói khi Ngài nhập định Vô lượng nghĩa có hoa Mạn

    đà la, hoa Mạn thù sa rơi xuống. Nói cách nào đó, trong thực tế nếu có người

    nào tu, thực hành giáo pháp có kết quả tốt đẹp thì người xung quanh cũng tiếp

    nhận được niềm an lạc. Ý này được người xưa diễn tả là một cây nở hoa, cả rừng

    thơm hương.

    Và trong hội Pháp hoa, đạo hạnh vô biên cùng tâm

    từ bi vô cùng của Đức Phật đã tác động mãnh liệt khiến đại chúng hoàn toàn an lạc

    một cách tự nhiên, thể hiện qua hai loại hoa Mạn đà la và Mạn thù sa. Hoa Mạn

    đà la làm cho người vui trong giải thoát, không phải vui nghe ca nhạc là cái

    vui chóng tàn phai để cái khổ tiếp nối theo. Cái vui của thiền định tác động

    thì dù cảnh bên ngoài mất, nhưng tâm không thay đổi, nên tâm đại chúng vẫn an

    vui. Hoa Mạn thù sa là thanh tịnh hoa, tức an vui mà thanh tịnh, không phải

    thanh tịnh là cảnh vắng vẻ, buồn bã.

     

    Các thầy nên suy nghĩ kinh

    Vô lượng

    nghĩa

    và định Vô lượng nghĩa đi đôi với nhau, tức giáo lý và thực tập giáo

    lý để chứng ngộ. Và nhập định Vô lượng nghĩa mới có nội quán nghĩa là tu rồi,

    mình nhìn thẳng tâm mình, quan sát tâm mình diễn biến thế nào, thấy được trong

    tâm mình là con người thực của mình, tức thấy rõ cái nghiệp của mình.

    Các thầy nên suy nghĩ kinhvà định Vô lượng nghĩa đi đôi với nhau, tức giáo lý và thực tập giáo lý để chứng ngộ. Và nhập định Vô lượng nghĩa mới có nội quán nghĩa là tu rồi, mình nhìn thẳng tâm mình, quan sát tâm mình diễn biến thế nào, thấy được trong tâm mình là con người thực của mình, tức thấy rõ cái nghiệp của mình.

    Vì vậy, kinh Pháp hoa mới thấy sinh tử luân hồi khổ

    não vô lượng. Trong sáu đường sinh tử, khi ở trên trời, khi ở địa ngục, hay ở

    thế giới loài người, chúng ta đều thấy đủ. Và từ quan sát này cũng thấy có

    khác, là ta thấy Phật ra đời và nhìn kỹ thấy Phật Thích Ca là Phật ứng hiện

    trên cuộc đời, tức Ngài đã thành Vô thượng đẳng giác vì thương nhân gian mà

    sanh lại thế gian này. Tôi suy nghĩ ý này rất nhiều. Vì Phật dạy rằng tất cả mọi

    người đều thành Phật, nhưng tại sao sau Phật Thích Ca, không có người thứ hai

    thành Phật.

    Từ đó, các vị

    Thánh Tăng mới đưa thí dụ ông trưởng giả cởi chuỗi anh lạc, mặc áo thô rách,

    tay cầm đồ hốt phân… Trong phẩm Tín giải thứ 4 nói rằng ông trưởng giả muốn gần

    người con phải giả dạng giống nó. Cũng vậy, Phật muốn cứu độ chúng sanh, Ngài

    mang thân người ngũ uẩn là Thái tử Sĩ Đạt Ta để giống con người mới nói chuyện

    với người được.

    Và kế tiếp, chúng ta thấy kinh nói có các Bồ-tát tùy thuận

    chúng sanh, hiện các loại hình cứu khổ ban vui, thành tựu Lục độ vạn hạnh, trụ

    bậc bất thoái. Thật vậy, trước khi Phật vào Niết-bàn, Ngài đã nói rằng Xá Lợi

    Phất là Bồ-tát hiện lại. Vua Ba Tư Nặc, vua Tần Bà Sa La, Cấp Cô Độc cũng là Bồ-tát

    hiện lại để trợ hóa Phật. Và thể hiện sự trợ hóa Phật, kinh thường nói “Nhứt Phật

    xuất thế, thiên Phật hộ” là một vị Phật ra đời thì có cả ngàn vị Phật hỗ trợ.

    Người học kinh, thực tập kinh và chứng ngộ kinh, mới theo

    Phật tu, là mở đầu phẩm Tựa kinh Pháp hoa là cánh cửa phương tiện quan

    trọng mở ra cho chúng ta đi sâu hơn. Thật vậy, Tích môn là đi theo con đường lịch

    sử, từ Phật giáo Nguyên thủy tu tập, thể nghiệm giáo pháp giúp người ta có cái

    thấy đúng đắn mới phát huy lên. Sự kiện là một, nhưng vị trí đứng khác nên có

    cái thấy khác. Chính sự thấy biết thăng tiến mới kiết tập thành kinh Nguyên thủy

    và kinh Đại thừa.

    Kinh Nguyên thủy ghi rằng khi Phật xuất gia chưa đắc đạo,

    Ngài chỉ mới chứng được pháp Tứ thiền và Bát định. Nhưng thời gian Ngài học và

    tu để đắc những pháp này rất ngắn, Ngài học với Kamala chỉ 6 tháng, trong khi đồng

    thời có rất nhiều người cũng học với Kamala nhưng không chứng đắc được pháp

    nào.

    Từ thực tế đó, nhìn bằng mắt Đại thừa thấy khác, nghĩa là

    ai cũng mang thân người; nhưng nhìn theo Đại thừa, tức nhìn bằng mắt trí tuệ thấy

    có người từ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh sanh lại, có người từ cõi trời sanh xuống,

    có người từ A-tu-la tái sanh và có người từ quả vị Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát,

    thậm chí là Phật hiện thân lại cuộc đời này.

    Ở vị trí Hiền thánh, hay Bồ tát, hoặc Tổ sư sanh lại loài

    người và từ đó khởi tu lên thì các ngài đắc quả rất nhanh, vì đã đắc đạo rồi.

    Có thể khẳng định Bồ-tát, A-la-hán thấy khác người thường.

    Người thường thấy bằng vô minh, nên việc làm thường sai lầm dẫn đến cái chết dễ

    dàng. Vì vậy, phải chuyển hóa ngũ uẩn theo Phật để minh sanh sẽ thấy khác, thấy

    đúng đắn. Khi tu phải thấy khác lúc chưa tu. Còn tu rồi mà không thấy khác người

    thường là mặc áo tu, nhưng tâm chưa vào đạo, còn vướng thế tục là còn tham lam,

    bực tức, si mê, nên thấy lệch lạc mới bực bội, buồn phiền.

    Trên bước đường tu, phải thực tập lời Phật dạy, dù tu

    theo Nguyên thủy hay Đại thừa, phải thấy đúng sự thật của sự vật. Nhưng qua

    kinh Pháp hoa, Phật dạy cao hơn, chúng ta không phải thấy đúng theo bình

    thường, nhưng thấy đúng theo người trí.

    Thấy theo trí của Phật khác với thấy theo trí thế gian.

    Thấy theo trí của Phật là thấy thật tướng các pháp thì chỉ Phật thấy đúng sự thật

    qua 10 khía cạnh gọi là thập như thị: như thị tướng, như thị tánh, như thị thể,

    như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị

    báo, như thị bản mạt cứu cánh.

    Chúng ta thấy sai lầm vì chỉ thấy tướng bên ngoài, chưa

    thấy bên trong. Tôi quan sát người, cố tìm hiểu tánh bên trong. Bên ngoài tướng

    hiền lành, dễ thương, nhưng quan sát kỹ thấy tánh bên trong đáng sợ, vì họ dễ

    tham, dễ nổi nóng. Ta tu, đừng đụng vô tánh nóng của người, chọc trúng cái nghiệp

    nóng là họ khác liền, mặc dù bình thường thấy họ hiền.

    Tướng bên ngoài của con người sẽ thay đổi tùy theo tánh

    bên trong, hay chính xác hơn, tùy theo sự tác động của thập như thị. Quán tưởng

    như vậy, Trí Giả đại sư chứng được pháp Nhứt niệm tam thiên. Sở đắc này của Trí

    Giả phát xuất từ Trung quán của Bồ tát Long Thọ, nhưng từ đây, Ngài Huệ Tư là

    thầy của Trí Giả đã chứng được Tam trí tam quán. nghĩa là cái thấy của Thanh

    văn được nâng lên cái thấy của Duyên giác thì sẽ thấy khác và tiến lên hàng Bồ

    tát càng khác nữa. Vì vậy, tuy cùng một vật, nhưng ba trình độ khác nhau sẽ có

    ba cái thấy khác nhau.

    Thanh văn thấy tất cả muôn sự muôn vật đều không thì được

    giải thoát, còn quán hữu là bị kẹt cứng, không có lối thoát. Thật vậy, người tu

    rồi, bỏ sự cố chấp sẽ thấy nhẹ.

    Ngài Huệ Tư nói Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát trải qua

    từng chặng đường phát huy tuệ giác, có cái thấy khác.

    Ngay như người thế gian có trình độ hiểu biết một chút, họ

    rất kỹ trong việc ăn uống. Người không biết thì ăn tạp khiến bệnh phải khổ. Người

    hiểu biết không ăn những thực phẩm độc hại.

    Tôi có bạn là bác sĩ Dậu nhắc tôi hạn chế ăn chất bột là

    đừng ăn cơm nhiều. Ông cũng nói cần hạn chế những chất lên men. Ông nói thầy ăn

    tương chao chưa chắc là ăn chay. Vì dùng kính hiển vi soi thấy chao có vô số vi

    sinh. Ăn thịt bò nợ một sinh vật, nhưng ăn chao nợ nhiều vi sinh. Từ đó tôi

    không ăn chất lên men. Sức khỏe tôi đến nay 81 tuổi còn đi lại, thuyết pháp được.

    Theo hình thức bên ngoài thấy bác sĩ này là người đời,

    nhưng Phật nói các Bồ-tát tùy chúng sanh mà hiện các loại hình cứu khổ ban vui.

    Ông bác sĩ này giúp tôi hiểu được những điều mà bình thường tôi không hiểu. Vì

    vậy, nhìn với mắt Đại thừa thấy khác, còn nhìn bằng mắt Tiểu thừa thấy các Phật

    tử thấp hơn mình. Nhưng quan sát kỹ coi chừng các đạo hữu đó là Bồ-tát hiện các

    loại hình đóng vai hộ đạo rất quan trọng.

    Cái thấy của người tu thay đổi tương ưng với quả vị tu chứng.

    Vì vậy, dưới đôi mắt Đại thừa thấy khác và cái thấy của Phật càng khác hơn nữa,

    vì Phật thấy đúng hoàn toàn cả ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai.

    Phật nói trong thân tứ đại của mình là Pháp giới rồi. Vì

    vậy, Phật đã thấy trong thân này có ba đời mười phương Phật, ba đời mười phương

    Phật đều nằm trong thân này. Vì vậy, kinh Hoa nghiêm nói trong các cực

    vi đầu sợi lông chứa được ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Và trong đầu sợi

    lông chứa vô số Phật, vô số Duyên giác, vô số Bồ-tát.

    Chính vì vậy, trên bước đường tu, chúng ta có tu thiệt sẽ

    bắt đầu thấy khác. Phật nói người đời nhìn thấy hoa đẹp, nhưng Phật thấy trong

    hoa này có đủ tất cả là Ngài thấy nhân duyên. Thấy nhân duyên là thấy tại sao

    có hoa, thấy gần là thấy từ hạt hoa chuyển biến thành cây hoa, cành hoa, nụ

    hoa…, thấy không sót quá trình sanh trưởng hoại diệt của các pháp gọi là bản mạt

    cứu cánh.

    Phật dạy rằng những gì Ngài thấy không nói được. Ngài chỉ

    cách mình tu, giảm bớt cho đến hết sạch phiền não, nghiệp chướng, trần lao thì

    lần lần từng bước mình sẽ thấy đúng. Thâm nhập lý này, Trí Giả bảo nhứt niệm

    tâm khởi đã chứa đầy đủ 3.000 thế giới. Tại sao chỉ một niệm tâm khởi lên mà lại

    có đến 3.000 thế giới.

    Ngài nói thập giới hỗ cụ, nghĩa là từ thế giới địa ngục đến

    thế giới Phật có 10 loại hình thế giới và 10 cảnh giới này tương quan tác động

    lẫn nhau. Vì vậy, trong tất cả mọi người đều có Phật tánh, có trí tuệ là Duyên

    giác và có đạo đức là Thanh văn. Trong thân Phật có Phật tánh, có trí tuệ và có

    đạo đức viên mãn.

    Còn Thánh đức chúng ta cũng có, nhưng vì nghiệp trần quá

    nặng che mất Phật tánh. Thật vậy, có lúc chúng ta thật tốt, nhưng khi bị trần

    duyên tác động khiến tánh tốt biến mất.

    Như vậy, trong một người đã có 10 cảnh giới và 10 cảnh giới

    này tác động lẫn nhau, nên 10 nhân cho 10 thành 100 và 100 kết hợp với 10 như

    thị thành 1.000. 1.000 kết hợp với ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai thành

    3.000 cảnh giới trùng trùng duyên khởi trong một niệm tâm. Nói cách khác, trong

    một pháp, người tu chứng thấy tất cả các pháp.

    Trí Giả quán một niệm tâm biết hết ba đời các Đức Phật là

    biết tất cả Pháp giới. Còn chúng ta chưa chứng được pháp này mà làm thì luôn

    luôn bị chướng ngại, khổ đau.

    Chúng ta tu phải nhận ra rằng đắc định thì tâm trí sáng

    suốt, nhưng để vướng mắc với thế tục khiến tâm trí trở thành mờ tối.

    Cái nhìn của Bồ-tát khác với cái nhìn của Thanh văn.

    Thanh văn buông bỏ hết để giữ tâm trống không là chánh niệm. Có chánh niệm sẽ

    an trụ chánh định và có huệ. Vì vậy, Thanh văn vô thiền, biết đúng nhiều việc,

    nhưng xả thiền thì không biết.

    Chỉ có Vô lượng nghĩa xứ tam muội của Phật, lúc

    nào cũng ở trong định. Còn định của A-la-hán thì xả định không biết. Riêng

    chúng ta, nếu tâm anh em lắng yên sẽ thấy đúng. Tâm không yên là thấy sai liền.

     

    Chỉ có Vô lượng nghĩa xứ tam muội của Phật, lúc nào cũng ở trong định. Còn định của A-la-hán thì xả định không biết. Riêng chúng ta, nếu tâm anh em lắng yên sẽ thấy đúng. Tâm không yên là thấy sai liền.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Quan Kinh Pháp Hoa – Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thành Phố Hà Nội
  • Ý Nghĩa Hoa Hồng Xanh Lá (Lục)
  • Màu Hoa Đặc Biệt Từ Biến Đổi Gen!!
  • Hoa Hồng Xanh – Loài Hoa Đặc Biệt Với Những Ý Nghĩa Đặc Biệt
  • Nguồn Gốc Đặc Biệt Và Ý Nghĩa
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100