Tên Ngô Tâm Uyên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?

--- Bài mới hơn ---

  • Đặt Tên Cho Con Nghĩa Tâm Uyên 50/100 Điểm Trung Bình
  • Đặt Tên Cho Con Nghĩa Chân Tâm 40/100 Điểm Trung Bình
  • Chân Tâm Là Phật, Phật Là Chân Tâm
  • Tên Nguyễn Ngọc Tâm Đan Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Ngọc Minh Tâm Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Gợi ý một số tên gần giống đẹp nhất:

    Luận giải tên Ngô Tâm Uyên tốt hay xấu ?

    Thiên Cách là đại diện cho cha mẹ, bề trên, sự nghiệp, danh dự. Nếu không tính sự phối hợp với các cách khác thì còn ám chỉ khí chất của người đó. Ngoài ra, Thiên cách còn đại diện cho vận thời niên thiếu.

    Thiên cách tên của bạn là Ngô có tổng số nét là 8 thuộc hành Âm Kim. Thiên cách tên bạn sẽ thuộc vào quẻ BÁN CÁT BÁN HUNG (Quẻ Kiên nghị khắc kỷ): Nhẫn nại khắc kỷ, tiến thủ tu thân thành đại nghiệp, ngoài cương trong cũng cương, sợ rằng đã thực hiện thì không thể dừng lại. Ý chí kiên cường, chỉ e sợ hiểm họa của trời

    Địa cách còn gọi là “Tiền Vận” (trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. Về mặt thời gian trong cuộc đời, Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.

    Địa cách tên bạn là Tâm Uyên có tổng số nét là 11 thuộc hành Dương Mộc. Địa cách theo tên sẽ thuộc quẻ ĐẠI CÁT (Quẻ Vạn tượng canh tân): Dị quân đột khởi, âm dương điều hòa, tái hưng gia tộc, phồn vinh phú quý, tử tôn đẹp đẽ. Là điềm tốt toàn lực tiến công, phát triển thành công.

    Nhân cách: Còn gọi là “Chủ Vận” là trung tâm của họ và tên, vận mệnh của cả đời người do Nhân Cách chi phối, đại diện cho nhận thức, quan niệm nhân sinh. Giống như mệnh chủ trong mệnh lý, Nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

    Nhân cách tên bạn là Ngô Tâm có số nét là 10 thuộc hành Âm Thủy. Nhân cách thuộc vào quẻ ĐẠI HUNG (Quẻ Tử diệt hung ác): Là quẻ hung nhất, đại diện cho linh giới (địa ngục). Nhà tan cửa nát, quý khóc thần gào. Số đoản mệnh, bệnh tật, mất máu, tuyệt đối không được dùng.

    Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

    Ngoại cách tên của bạn là họ Uyên có tổng số nét hán tự là 9 thuộc hành Dương Thủy. Ngoại cách theo tên bạn thuộc quẻ HUNG (Quẻ Bần khổ nghịch ác): Danh lợi đều không, cô độc khốn cùng, bất lợi cho gia vận, bất lợi cho quan hệ quyến thuộc, thậm chí bệnh nạn, kiện tụng, đoản mệnh. Nếu tam tài phối hợp tốt, có thể sinh ra cao tăng, triệu phú hoặc quái kiệt.

    Tổng cách (tên đầy đủ)

    Tổng cách thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa cách nên đại diện tổng hợp chung cả cuộc đời của người đó đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được hậu vận tốt xấu của bạn từ trung niên trở về sau.

    Tên đầy đủ (tổng cách) gia chủ là Ngô Tâm Uyên có tổng số nét là 18 thuộc hành Dương Hỏa. Tổng cách tên đầy đủ làquẻ CÁT (Quẻ Chưởng quyền lợi đạt): Có trí mưu và quyền uy, thành công danh đạt, cố chấp chỉ biết mình, tự cho mình là đúng, khuyết thiếu hàm dưỡng, thiếu lòng bao dung. Nữ giới dùng cần phải phối hợp với bát tự, ngũ hành.

    Mối quan hệ giữa các cách

    Số lý của nhân cách biểu thị tính cách phẩm chất con người thuộc “Âm Thủy” Quẻ này là quẻ Tính thụ động, ưa tĩnh lặng, đơn độc, nhạy cảm, dễ bị kích động. Người sống thiên về cảm tính, có tham vọng lớn về tiền bạc, công danh.

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số) Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tai “Âm KimÂm Thủy – Dương Mộc” Quẻ này là quẻ : Kim Thủy Mộc.

    Đánh giá tên Ngô Tâm Uyên bạn đặt

    Bạn vừa xem xong kết quả đánh giá tên Ngô Tâm Uyên. Từ đó bạn biết được tên này tốt hay xấu, có nên đặt hay không. Nếu tên không được đẹp, không mang lại may mắn cho con thì có thể đặt một cái tên khác. Để xem tên khác vui lòng nhập họ, tên ở phần đầu bài viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Nguyễn Tâm Phúc Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Chu Tâm Phúc Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lại Tâm Phúc Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Đinh Mạnh Đức Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lê Mạnh Đức Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Đặt Tên Cho Con Nghĩa Tâm Uyên 50/100 Điểm Trung Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặt Tên Cho Con Nghĩa Chân Tâm 40/100 Điểm Trung Bình
  • Chân Tâm Là Phật, Phật Là Chân Tâm
  • Tên Nguyễn Ngọc Tâm Đan Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Ngọc Minh Tâm Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Đặt Tên Cho Con Nghĩa Nhất Tâm 15/100 Cực Xấu
  • C. Mối quan hệ giữa các cách:

    Quan hệ giữa “Nhân cách – Thiên cách” sự bố trí giữa thiên cách và nhân cách gọi là vận thành công của bạn là: Thổ – Hoả Quẻ này là quẻ Kiết: Không được cấp trên thương mến, giúp đỡ hoặc phúc ấm ông bà bảo hộ bình an

    Quan hệ giữa “Nhân cách – Địa cách” sự bố trí giữa địa cách và nhân cách gọi là vận cơ sở Thổ – Mộc Quẻ này là quẻ Hung: Hoàn cảnh không yên, cuộc sống biến hoá dễ dời đổi, có nỗi lo về bệnh bao tử, đường ruột

    Quan hệ giữa “Nhân cách – Ngoại cách” gọi là vận xã giao: Thổ – Thuỷ Quẻ này là quẻ Kiết: Lo lắng chu đáo, giàu lý trí, siêng năng, có thể đạt đến thành công nhanh chóng

    Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số): Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tài: Hoả – Thổ – Mộc Quẻ này là quẻ Bình Thường: Hoà hợp, mọi người nhờ phúc ám tổ tiên mà được phát triển thành công nhưng vì cơ sở không yên, khó tránh biến động, dễ bị bệnh ruột, bao tử ( hung ).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Ngô Tâm Uyên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Tâm Phúc Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Chu Tâm Phúc Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Lại Tâm Phúc Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Đinh Mạnh Đức Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tâm Là Gì? Có Chân Tâm Và Vọng Tâm Không?,

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhược Hi – Càng Trách Lại Càng Thương
  • Ý Nghĩa Tên Nhân Vật
  • 450 Tên Nhân Vật Anime Có Ý Nghĩa
  • Bảng Ý Nghĩa Tên Nhân Vật
  • Nguồn Gốc Tên Gọi Của Một Số Tỉnh Thành Việt Nam
  • TÂM LÀ GÌ? CÓ CHÂN TÂM VÀ VỌNG TÂM KHÔNG?

    1/ Hỏi: Tâm là gì?

    Tâm là sự thấy biết cảnh. Những gì bị tâm thấy biết gọi là cảnh. Cảnh bị thấy biết qua ngũ căn (nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn) gọi là ngoại cảnh hay ngoại pháp. Cảnh bị thấy biết quá ý căn gọi là cảnh nội hay nội pháp.

    Có 2 nhóm tâm trong ngũ uẩn thuộc Danh pháp gồm nhóm tâm sở (thọ, tưởng, hành) và nhóm tâm vương (thức).

    A/ Tâm sở là nhóm tâm sinh lên để thực hiện chức năng riêng của chúng với cảnh được chia làm 3 nhóm chính trong ngũ uẩn:

    1-Nhóm cảm giác với cảnh (thọ uẩn): Sinh khởi những cảm giác qua sáu giác quan (nhãn thọ, nhĩ thọ, tỷ thọ, thiệt thọ, thân thọ và ý thọ). Nhóm này còn gọi là nhóm hưởng cảnh (quả) hiện tại do nhân nghiệp cũ đã tạo. Cảm thọ vui là do nghiệp cũ đã tạo nhân thiện. Cảm thọ khổ là do nghiệp cũ đã tạo nhân bất thiện.

    2-Nhóm kinh nghiệm ký ức (tưởng uẩn): Khi nhớ lại, nghĩ lại về cảnh trong quá khứ, hiện tại và tương lai…qua sáu giác quan (nhãn tưởng, nhĩ tưởng, tỷ tưởng, thiệt tưởng, thân tưởng, ý tưởng). Nhóm này còn gọi là nhóm chế định hay tục đế do tâm tạo hay kinh nghiệm.

    3-Nhóm phản ứng với cảnh (hành uẩn): Thân hành, khẩu hành, ý hành khởi lên qua sáu giác quan (nhãn tư, nhĩ tư, tỷ tư, thiệt tư, thân tư, ý tư). Nhóm này còn gọi là nhóm tạo nghiệp hiện tại cho quả vị lai là thiện, bất thiện hay vô ký.

    B/ Tâm hay tâm vương (tâm thức) là nhóm tâm nhận biết cảnh thuần túy qua sáu giác quan (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức). Còn thể hiện thiện hay bất thiện là do các sở hữu tâm (A) đồng sinh với tâm.

    1-Tâm thấy biết qua nhãn căn gọi là nhãn thức. Cảnh bị thấy biết bởi nhãn thức gọi là nhãn trần hay sắc trần.

    2-Tâm thấy biết qua nhĩ căn gọi là nhĩ thức. Cảnh bị thấy biết bởi nhĩ thức gọi là nhĩ trân hay thanh trần.

    3-Tâm thấy biết qua tỷ căn gọi là tỷ thức. Cảnh bị thấy biết bởi tỷ thức gọi là tỷ trần hay hương trần.

    4-Tâm thấy biết qua thiệt căn gọi là thiệt thức. Cảnh bị thấy biết bởi thiệt thức gọi là thiệt trần hay vị trần.

    5-Tâm thấy biết qua thân căn gọi là thân thức. Cảnh bị thấy biết bởi thân thức gọi là thân trần hay xúc trần.

    6-Tâm thấy biết qua ý căn gọi là ý thức. Cảnh bị thấy biết bởi ý thức gọi là pháp trần.

    Các tâm sở (A), tâm vương (B) đồng sinh, đồng diệt, đồng căn, đồng trú khi thấy biết cảnh, nghĩa là cùng duyên sinh, duyên diệt nhưng chức năng khác nhau mà thôi. Chỉ khi hành giả thực hành Tứ Niệm Xứ mới có thể thấy rõ ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) rõ rệt khi chúng sinh diệt như trong bài kinh Bàhiya, Đức Phật dạy ngài Bàhiya: “Như vậy, này Bàhiya, Ông cần phải học tập. Vì rằng, này Bàhiya, nếu với Ông, trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri. Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.” Trước khi ngài Bàhiya với năng lực chứng bát thiền thì nhầm tưởng mình là A La Hán. Với tâm chứng bát thiền (4 thiền sắc giới và 4 thiền vô sắc giới) thì hành giả vẫn nương tựa vào Thức tái sinh trong cảnh Sắc gới và Vô sắc giới. Thế giới của ngũ uẩn là thế giới sinh diệt, không có gì nương tựa cả. Nếu thấy rõ ngũ uẩn đang sinh diệt rõ ràng thì không có cái tôi nào được tồn tại cả nhờ đó vòng luân hồi theo tâm Thức tái sinh bị cắt đứt: ‘’ Do vậy, này Bàhiva, ông không là chỗ ấy. Vì rằng, này Bàhiya, Ông không là đời này, không là đời sau, không là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn tận khổ đau.”

    2/ Hỏi: Tâm thức có phải là tâm thấy biết thuần khiết và là chân tâm hay tâm nguyên sơ ban đầu không?

    Đáp: Tâm thức là tâm thấy biết thuần khiết nhưng luôn đồng sinh với tâm sở và bị tâm sở hoà vào như đường hoà vào nước tinh khiết nên khi uống nước đường không ai nhận ra nước tinh khiết trong nước đường được nữa. Khi có một cảnh hiện khởi qua nhãn căn thì nhãn thức thấy biết cảnh thuần khiết nhưng do các tâm sở như nhãn thọ, nhãn tưởng, nhãn hành (nhãn tư) đồng sinh với nhãn thức hoà vào tâm thấy biết thuần túy này. Hành giả Tứ Niệm Xứ khi quán ngũ uẩn sẽ rõ các nhóm tâm này sinh khởi và hoại diệt mà không có tâm nào là cốt lõi mà gọi là chân tâm cả.

    Tâm Thức cũng sinh khởi bởi nhân duyên, là pháp do duyên sinh duyên diệt (Hành duyên Thức) nên không thể coi là chân tâm. Tâm Thức cũng lại làm duyên cho Danh Sắc (Thức duyên Danh Sắc) sinh khởi trong 12 nhân duyên đi tạo nghiệp trong luân hồi. Nếu chân tâm mà làm nhân duyên tạo nghiệp thì không phải là chân tâm.

    Nếu chân tâm là tâm nguyên sơ chưa ô nhiễm ban đầu, do bị ô nhiễm mà đi luân hồi. Vậy khi được thanh lọc như tâm nguyên sơ thì khi nào nó lại bị ô nhiễm trở lại? Nghĩa là bản chất nó cũng bị ô nhiễm hay luân hồi thì không thể gọi là chân tâm được.

    Như vậy tâm không ngoài 4 nhóm thọ, tưởng, hành, thức đều do duyên sinh, duyên diệt nên không có loại tâm nào tồn tại dưới khái niệm “chân tâm” cả. Đây là một sản phẩm tiểu ngã gia nhập đại ngã của Ba La Môn pha trộn vào Phật Giáo Đại Thừa. Tà kiến này rất khỏ bỏ trừ khi hành giả hành thiền Tứ Niệm Xứ đúng. Một số vị từ Phật Giáo Đại Thừa chuyển qua Phật Giáo Nguyên Thuỷ vẫn mang theo tà kiến này làm sai lạc pháp hành. Thậm trí có vị cho rằng tâm sở trí Tuệ là chân tâm. Trong khi tâm sở trí Tuệ thuộc nhóm tâm sở Hành và chỉ sinh lên cùng các cảnh là đề mục Tứ Niệm Xứ..

    3/ Hỏi: Nếu không có chân tâm thì có vọng tâm không?

    Đáp: Vì không có chân tâm nên cũng không có vọng tâm.. Tức là các tâm thọ, tưởng, hành, thức không có cái nào chân tâm và cũng không có cái nào là vọng tâm. Chúng chỉ sinh lên và diệt đi theo chức năng thấy biết cảnh của chúng nên chúng được gọi là THỰC TẠI chân đế của pháp hữu vi. Do chúng sinh diệt liên tục nên khi hành giả thấy biết chúng là hành giả thấy được THỰC TẠI LIÊN TỤC hay HIỆN TẠI TRÔI CHẢY. Vì thấy biết thực tại trôi chảy như vậy nên hành giả THẤY BIẾT như chân như thật không có gì có thể nắm giữ được trong và ngoài thân tâm.. Nhờ đó hành giả sống không nương tựa không chấp trước vật gì ở đời. Điều này chỉ có thể thực chứng trong pháp hành Tứ Niệm Xứ.

    4/ Hỏi: Tà kiến về chân tâm khi nào sẽ bị diệt trừ?

    Đáp: Tà kiến về chân tâm sẽ bị diệt khi hành giả có chánh kiến về danh sắc, tức là có tuệ phân biệt danh sắc bao gồm phân biệt các đề mục nào là danh (thọ, tưởng, hành, thức) và đề mục nào là sắc (đất, nước, gió, lửa). Khi hành giả phân biệt rõ danh sắc thì hành giả cũng sẽ phân biệt nhân duyên sinh diệt (tuệ nhân duyên) các danh sắc và thấy rõ đặc tính chung của các danh sắc hay ngũ uẩn là vô thường, khổ, vô ngã (tuệ tam tướng).

    5/ Hỏi: Pháp Học về tâm có quan trọng cho pháp Hành thiền không?

    Đáp: Thiền giống như sự khảo sát, chứng nghiệm của hành giả về thân tâm. Nếu không có pháp Học đúng về tâm thì giống như người bước vào phòng thí nghiệm nhưng lại không biết gì về các dụng cụ thí nghiệm hay sản phẩm thí nghiệm nên sẽ không thể thực nghiệm đúng, thậm chí mang lại những điều tai hại vì bản chất của tâm là tạo nghiệp thiện ác. Người không hiểu về tâm khi làm bất thiện mà tưởng là thiện thì rất có hại.

    KINH TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ

    X. Cả Hai (S.iv,67)

    1) …

    2) — Do duyên cả hai, này các Tỷ-kheo, thức hiện hữu. Này các Tỷ-kheo, thế nào là do duyên cả hai, thức hiện hữu?

    3) Do duyên mắt và các sắc, khởi lên nhãn thức. Mắt là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các sắc là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Như vậy, cả hai này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Nhãn thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn thức này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ thành thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là nhãn xúc. Nhãn xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Do nhân nào, do duyên nào, nhãn xúc khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, nhãn xúc này khởi lên từ một duyên vô thường, từ đâu sẽ trở thành thường còn được? Do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác.

    4) Và do duyên tai và các tiếng khởi lên nhĩ thức…

    5) Và do duyên mũi và các hương khởi lên tỷ thức…

    6) Và do duyên lưỡi và các vị khởi lên thiệt thức…

    7) Và do duyên thân và các xúc khởi lên thân thức…

    8) Và do duyên ý và các pháp khởi lên ý thức. Ý là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Các pháp là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ở đây, cả hai cái này là biến động, tiêu tan, vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Ý thức là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Cái gì là nhân, cái gì là duyên cho ý thức khởi lên; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý thức khởi lên do duyên vô thường, thời từ đâu sẽ thường còn được? Này các Tỷ-kheo, sự hợp hội, tụ tập, hòa hợp của ba pháp này, này các Tỷ-kheo, đây gọi là ý xúc. Ý xúc cũng vô thường, biến hoại, tự tánh là đổi khác. Do nhân gì, duyên gì khiến ý xúc sanh khởi; nhân ấy, duyên ấy là vô thường, biến hoại, tự tánh đổi khác. Này các Tỷ-kheo, ý xúc khởi lên do duyên vô thường, từ đâu sẽ là thường còn được? Này các Tỷ-kheo, do xúc nên có cảm thọ, do xúc nên có tư lường, do xúc nên có hay biết. Ở đây, các pháp này là biến động, tiêu tan, vô thường biến hoại, tự tánh đổi khác.

    9) Như vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên cả hai, thức hiện hữu.

    Kinh Tương Ưng Sáu Xứ (HT Thích Minh Châu dịch)

    Visits: 6606

    Share this:

    Like this:

    Like

    Loading…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhận Biết Chân Tâm =
  • : Chân Tâm Và Vọng Tâm
  • Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
  • Ý Nghĩa Của Tên Miền .com, .net, .org
  • What Does .net Mean? Get Facts About .net
  • Ý Nghĩa Của Tên Uyên Và Gợi Ý Tên Lót Với Uyên Hay Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Gợi Ý Đặt Tên Cho Công Ty Xây Dựng Nhà Đất Địa Ốc
  • Tổng Hợp Tất Cả Các Tên Công Ty Xây Dựng Hay Gần Đây
  • Tên Lê Ánh Dương Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Biệt Danh Hay Cho Bạn Trai
  • Tên Nick Zalo Hay, Cách Đặt Tên Nick Zalo
  • Ý nghĩa của tên Uyên là gì?

    Tên Uyên thường được sử dụng để đặt tên cho con gái. Nó thường chỉ những cô gái duyên dáng, có tố chất thanh cao, thông minh và không kém phần cao quý.

    Ngoài ra Uyên còn có ý nghĩa là phúc lộc, hưng gia, giàu ý chí và hưởng trọn phú quý. Khi cha mẹ đặt tên Uyên cho con cái nhằm hy vọng các con sẽ luôn xinh đẹp, đáng yêu và cao sang nhất.

    Ý nghĩa của tên Phương Uyên

    Phương thuộc bộ Thảo. Nó có ý nghĩa chỉ mùi thơm, xinh đẹp. Đồng thời cũng có nghĩa là phương hướng. Uyên là tên của một loài chim có tiếng hót rất hay.

    Những người tên Phương Uyên thường rất tế nhị trong giao tiếp và luôn biết xét đoán những người khác. Đồng thời họ có óc sáng kiến và trí tưởng tượng cao. Với ý nghĩa của tên Phương Uyên như vậy được rất nhiều người sử dụng để đặt tên cho bé yêu.

    Ý nghĩa của tên Cẩm Uyên

    Cẩm mang ý nghĩa là nhiều màu sắc. Khi bố mẹ đặt tên cho con là Cẩm Uyên với mong muốn hy vọng con sẽ mang một vẻ đẹp duyên dáng, đặc biệt và cũng vô cùng tinh tế.

    Ý nghĩa của tên Thảo Uyên

    Thảo mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Thảo có nghĩa là hoa cỏ, nhằm chỉ cô gái mềm mỏng, yếu đuối, mỏng manh tuy nhiên có sức sống dẻo dai. Nó biểu hiện cho vẻ đẹp và sự mạnh mẽ. Mặc dù cơ thể nhỏ bé nhưng vẫn luôn tươi tốt và chống chọi với mọi loại thời tiết. Từ Uyên chỉ những cô gái duyên dáng.

    Tên Thảo Uyên có ý nghĩa chỉ người con gái luôn dịu dàng, nết na. Tuy nhiên vẫn thể hiện được sự mạnh mẽ và cá tính.

    Ý nghĩa của tên Linh Uyên

    Ý nghĩa của tên Linh ý chỉ sự lanh lợi và nhanh nhẹn. Uyên chỉ một cô gái vô cùng duyên dáng, thông minh, xinh đẹp và rất quý phái.

    Khi chọn tên Linh Uyên để đặt cho con, cha mẹ mong muốn rằng con mình sau này sẽ trở nên xinh đẹp, có phẩm chất cao sang, lanh lợi và vô cùng đáng yêu.

    Ý nghĩa của tên Như Uyên

    Như và Uyên là hai từ thường được sử dụng để đặt tên cho con gái. Nó mang tới sự nhẹ nhàng.

    Ý nghĩa của tên Như có rất nhiều, trong đó thường gắn với chữ Như Ý. Uyên chỉ cô gái thông minh, xinh đẹp và vô cùng quý phái. Tên gọi Uyên Như là cái tên thường có hàm ý so sánh tốt đẹp. Nhằm chỉ người con gái thông minh, xinh đẹp và vô cùng nhanh trí.

    Ý nghĩa của tên Nhi Uyên

    Từ Nhi mang nhiều ý nghĩa. Nó chỉ sự nhỏ nhắn, đáng yêu. Đồng thời trong từ hán Việt, Nhi còn thể hiện là người con gái đẹp. Nhi cũng mang tới ý nghĩa con xinh xắn, đáng yêu và đầy nữ tính. Uyên mang ý nghĩa là người con gái.

    Nhi Uyên có nghĩa là người con gái xinh đẹp, uyên thâm giỏi giang. Có tính tình hiền hậu và có cư xử điềm đạm.

    Ý nghĩa của tên Bảo Uyên

    Ý nghĩa của tên Bảo là vật quý, giàu sang, quý giá. Uyên chỉ người con gái thông minh, quý phái.

    Cha mẹ khi lựa chọn tên Bảo Uyên để đặt cho con gái với hy vọng sau này lớn lên sẽ trở thành một cô gái xinh đẹp và vô cùng thông minh. Đồng thời mong muốn rằng con sẽ mãi là báu vật của bố mẹ.

    Ý nghĩa của tên Thư Uyên

    Từ Thư cũng có rất nhiều ý nghĩa khác nhau. Thư có nghĩa là sự ung dung. Ý chỉ những người sống thoải mái và luôn bình tĩnh trước mọi vấn đề. Họ không vội vã, không lo lắng. Đồng thời có thái độ thư thái, làm việc rõ ràng, luôn luôn vạch ra mục tiêu và từng bước đi cụ thể.

    Tên gọi Thư Quyên nhằm thể hiện ý nghĩa mong con sẽ trở thành một cô gái xinh đẹp, giỏi giang và có một cuộc sống sung túc, bình an.

    Ý nghĩa của tên Tuệ Uyên

    Tuệ Uyên chỉ một đứa trẻ có trí tuệ, giỏi giang. Nó mang ý nghĩa cha mẹ mong con luôn sống khôn ngoan và có trí tuệ hơn người.

    Ý nghĩa của tên Tuyết Uyên

    Từ Tuyết trong tiếng Hán Việt là tinh thể băng nhỏ và trắng. Nó kết tinh thành khối xốp, nhẹ và rơi ở vùng có khí hậu lạnh. Tên Tuyết gợi đến hình ảnh của người con gái trong trắng, xinh đẹp và tinh khôi.

    Tuyết Uyên là tên gọi hay dành cho bé gái. Nhằm chỉ những người con gái nhỏ nhắn, đáng yêu trong trắng, xinh xắn giống như bông tuyết trắng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Đặt Tên Cho Con Ở Nhà Hay Nhất
  • Đặt Tên Con Ở Nhà
  • Tư Vấn Đặt Tên Công Ty Theo Mệnh Thổ Phát Đạt, Làm Ăn Thuận Lợi
  • Cách Đặt Tên Công Ty Theo Phong Thủy, Tuổi Tác, Ngũ Hành
  • Đặt Tên Công Ty Theo Mệnh Hỏa
  • Ý Nghĩa Tên Uyên Và Bộ Tên Đệm Hay Cho Tên Uyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Nguyễn Đức Minh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Đức Nhân Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Lý Đức Nhân Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Phạm Đức Nhân Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Phạm Đức Tiến Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý nghĩa tên Uyên – Tên họ không chỉ là một danh xưng để phân biệt người này người kia, phân biệt họ hàng huyết thống để đặt tên cho con.

    Tên họ không chỉ là một danh xưng để phân biệt người này người kia, phân biệt họ hàng huyết thống. Vậy với tên Uyên thì có ý nghĩa như thế nào để bố mẹ đặt tên cho con.

    Phân tích ý nghĩa tên Uyên

    Uyên là CON GÁI ĐẸP : sự dịu dàng, nết na, đẹp vẻ bên ngoài lẫn vẻ đẹp tâm hồn. Biết cư xử đúng mực, sống đúng theo những quy chuẩn của xã hội.

    Uyên là SÂU RỘNG : ham học hỏi, kiến thức uyên sâu, hiểu biết nhiều lĩnh vực. Có ý chỉ sự học hành giỏi giang, làm việc gì cũng có kế hoạch cụ thể, rõ ràng, thường dễ đạt thành công.

    Uyên là PHẢNG PHẤT : thoáng nhẹ qua, lúc ẩn lúc hiện, tạo nên sự bí ẩn.

    Bộ tên đệm hay cho tên Uyên

    Anh Uyên: Chữ “Anh” theo nghĩa Hán Việt là “người tài giỏi” với ý nghĩa bao hàm sự nổi trội, thông minh, giỏi giang trên nhiều phương diện.”Uyên” ý chỉ một cô gái duyên dáng, thông minh và xinh đẹp, có tố chất cao sang, quý phái. Vì vậy tên “Anh Uyên” thể hiện mong muốn tốt đẹp của cha mẹ, mong con mình giỏi giang, xuất chúng.

    Cẩm Uyên: “Cẩm” nghĩa là nhiều màu sắc. Bố mẹ đặt tên “Cẩm Uyên” cho con cũng là nói lên mong muốn hy vọng con sẽ mang vẻ đẹp duyên dáng, đặc biệt và tinh tế.

    Bảo Uyên: Có nghĩa là con chim quý. Ngoài ra, uyên còn có thể hiểu là uyên thâm, uyên bác. Đặt tên này người ta mong muốn sau này sẽ trở thành người học cao hiểu rộng.

    Đan Uyên: “Đan” theo Hán – Việt có nghĩa là lẻ, chiếc ý chỉ sự đơn giản, không phức tạp cầu kỳ. “Uyên” ý chỉ một cô gái duyên dáng, thông minh và xinh đẹp, có tố chất cao sang, quý phái. Tên “Đan Uyên” thường mang ý nghĩa chỉ người giản dị, trong sáng, không cầu kỳ phức tạp hay ganh đua.

    Đăng Uyên: “Đăng” trong tiếng Hán – Việt có nghĩa là ngọn đèn. “Uyên” ý chỉ một cô gái duyên dáng, thông minh và xinh đẹp, có tố chất cao sang, quý phái. Tên “Đăng Uyên” dựa trên hình ảnh đó mang ý nghĩa là sự soi sáng và tinh anh.

    Duy Uyên: “Duy Uyên” có thể hiểu là “tư duy uyên bác” mang ý nghĩa mong con sẽ luôn có một tư duy sáng suốt, trí tuệ uyên thâm, học rộng hiểu sâu

    Diễm Uyên: ý chỉ vẻ đẹp kiều diễm của người con gái, ý mong con sẽ xinh đẹp, cao sang, quyền quý khiến ta nhìn vào phải trầm trồ, thán phục.

    Gia Uyên: “Gia Uyên” được hiểu con là cô gái quý phái, danh giá. Không chỉ có ngoại hình duyên dáng con còn sở hữu phẩm chất thanh cao, nhân ái do được đón nhận yêu thương đủ đầy từ bố mẹ.

    Hà Uyên: Theo tiếng Hán – Việt, “Hà” có nghĩa là sông, là nơi khơi nguồn cho một cuộc sống dạt dào, sinh động. “Uyên” ý chỉ một cô gái duyên dáng, thông minh và xinh đẹp, có tố chất cao sang, quý phái. Tên “Hà Uyên” thường để chỉ những người mềm mại hiền hòa như con sông mùa nước nổi mênh mang, bạt ngàn. “Hà Uyên” còn để chỉ người có dung mạo xinh đẹp, dịu dàng, tâm tính trong sáng

    Kim Uyên: Tên “Kim Uyên” vừa gợi lên vẻ đẹp quyền quý cao sang, vừa thể hiện mong muốn của cha mẹ đối với con cái :mong con luôn là người biết sống có tình có nghĩa.

    Lệ Uyên: Theo tiếng Hán – Việt, tên “Lệ” thường dùng để chỉ dung mạo xinh đẹp của người con gái. “Uyên” ý chỉ một cô gái duyên dáng, thông minh và xinh đẹp, có tố chất cao sang, quý phái. “Lệ Uyên” là sự kết hợp hay để đặt tên cho con gái.

    Hạnh Uyên: Theo Hán – Việt, tên “Hạnh” thứ nhất, có nghĩa là may mắn, là phúc lộc, là phước lành. Nghĩa thứ hai là nói về mặt đạo đức, tính nết của con người. “Uyên” ý chỉ một cô gái duyên dáng, thông minh và xinh đẹp, có tố chất cao sang, quý phái. Tên “Hạnh Uyên” thường dùng cho nữ, chỉ người nết na, tâm tính hiền hòa, đôn hậu, phẩm chất cao đẹp.

    Mai Uyên: Mượn tên một loài hoa để đặt tên cho con. Hoa mai là một loài hoa đẹp nở vào đầu mùa xuân – một mùa xuân tràn trề ước mơ và hy vọng. Bên cạnh đó, “Uyên” ý chỉ một cô gái duyên dáng, thông minh và xinh đẹp, có tố chất cao sang, quý phái. Tên “Mai Uyên” dùng để chỉ những người có vóc dáng thanh tú, luôn tràn đầy sức sống để bắt đầu mọi việc.

    Hồng Uyên: Theo nghĩa gốc Hán, “Hồng” là ý chỉ màu đỏ , mà màu đỏ vốn thể hiện cho niềm vui, sự may mắn, cát tường. “Uyên” ý chỉ một cô gái duyên dáng, thông minh và xinh đẹp, có tố chất cao sang, quý phái. Theo thói quen đặt tên của người Việt, tên ” Hồng Uyên” thường được đặt cho con gái vì đây là tên luôn gợi sự tươi vui, xinh đẹp, giàu sức sống.

    Minh Uyên: “Minh” mang ý thông minh, minh mẫn, sáng tỏ, sáng suốt và “Uyên” chỉ sự uyên bác, sự am hiểu sâu rộng về các sự vật , hiện tượng hay một vấn đề nào đó…Minh Uyên là một cái tên mang ý nghĩa “mong con luôn học hành thông minh và có trí tuệ uyên bác”

    Mỹ Uyên: Cái tên gợi nên một vẻ đẹp tuyệt vời, kiêu sa, đài các mà bố mẹ mong muốn ở con.

    Phương Uyên: cô gái xinh xắn và có cá tính, luôn trẻ trung và năng động

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Tên Cho Con Nghĩa Duy Uyên 37,5/100 Điểm Tạm Được
  • Tên Vũ Thái Duy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Duy Thái Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Nguyễn Thái Duy Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Võ Quốc Duy Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • : Chân Tâm Và Vọng Tâm

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhận Biết Chân Tâm =
  • Tâm Là Gì? Có Chân Tâm Và Vọng Tâm Không?,
  • Nhược Hi – Càng Trách Lại Càng Thương
  • Ý Nghĩa Tên Nhân Vật
  • 450 Tên Nhân Vật Anime Có Ý Nghĩa
  •  

    3.2. Biện Thể

     

              (Giải) Đệ nhị, biện Thể. Đại Thừa kinh giai dĩ Thật Tướng vi chánh thể. Ngô nhân hiện tiền nhất niệm tâm tánh, bất tại nội, bất tại ngoại, bất tại trung gian, phi quá khứ, phi hiện tại, phi vị lai, phi thanh, hoàng, xích, bạch, trường, đoản, phương, viên, phi hương, phi vị, phi xúc, phi pháp, mịch chi liễu bất khả đắc, nhi bất khả ngôn kỳ vô. Cụ tạo bách giới thiên như, nhi bất khả ngôn kỳ hữu. Ly nhất thiết duyên lự, phân biệt, ngữ ngôn văn tự tướng, nhi duyên lự, phân biệt, ngữ ngôn, văn tự, phi ly thử, biệt hữu tự tánh. Yếu chi, ly nhất thiết tướng, tức nhất thiết pháp. Ly cố, vô tướng. Tức cố, vô bất tướng. Bất đắc dĩ, cưỡng danh Thật Tướng. Thật Tướng chi Thể, phi tịch, phi chiếu, nhi phục tịch, nhi hằng chiếu, chiếu nhi hằng tịch. Chiếu nhi tịch, cưỡng danh Thường Tịch Quang độ. Tịch nhi chiếu, cưỡng danh Thanh Tịnh Pháp Thân. Hựu, chiếu tịch, cưỡng danh Pháp Thân. Tịch chiếu, cưỡng danh Báo Thân. Hựu, tánh đức tịch chiếu, danh Pháp Thân. Tu đức chiếu tịch, danh Báo Thân. Hựu tu đức chiếu tịch, danh Thụ Dụng Thân. Tu đức tịch chiếu, danh Ứng Hóa Thân. Tịch chiếu bất nhị, thân độ bất nhị. Tánh tu bất nhị, chân ứng bất nhị, vô phi Thật Tướng. Thật Tướng vô nhị, diệc vô bất nhị. Thị cố, cử Thể tác y, tác chánh, tác pháp, tác báo, tác tự, tác tha. Nãi chí năng thuyết, sở thuyết, năng độ, sở độ, năng tín, sở tín, năng nguyện, sở nguyện, năng trì, sở trì, năng sanh, sở sanh, năng tán, sở tán, vô phi Thật Tướng chánh ấn chi sở ấn dã.

     

         () 第二。辨體。大乘經皆以實相為正體。吾人現前一念心性。不在內。不在外。不在中間。非過去。非現在。非未來。非青黃赤白。長短方圓。非香。非味。非觸。非法。覓之了不可得。而不可言其無。具造百界千如。而不可言其有。離一切緣慮分別。語言文字相。而緣慮分別。語言文字。非離此別有自性。要之。離一切相。即一切法。離故無相。即故無不相。不得已強名實相。實相之體。非寂非照。而復寂而恆照。照而恆寂。照而寂。強名常寂光土。寂而照。強名清淨法身。又。照寂強名法身。寂照強名報身。又。性德寂照。名法身。修德照寂。名報身。又。修德照寂。名受用身。修德寂照。名應化身。寂照不二。身土不二。性修不二。真應不二。無非實相。實相無二。亦無不二。是故舉體作依作正。作法作報。作自作他。乃至能說所說。能度所度。能信所信。能願所願。能持所持。能生所生。能讚所讚。無非實相正印之所印也。

     

              (Giải: Thứ hai, biện định cái Thể. Các kinh Đại Thừa đều lấy Thật Tướng làm Chánh Thể. Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa, chẳng phải là quá khứ, chẳng phải là hiện tại, chẳng phải là tương lai, chẳng phải là xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, ngắn, vuông, tròn, chẳng phải Hương, chẳng phải Vị, chẳng phải Xúc, chẳng phải Pháp. Tìm thì trọn chẳng thể được, nhưng chẳng thể nói là Không. Tạo đầy đủ bách giới thiên như, nhưng chẳng thể nói là Có. Lìa hết thảy duyên lự. Thật Tướng là chân tướng của nhân sinh và vũ trụ. Nhân sinh là chính mình, vũ trụ là hoàn cảnh sống. Đối với chúng ta, kinh Đại Thừa trọng yếu như thế, chẳng thể không hiểu rõ hoàn cảnh sống của chính mình. Nếu không hiểu, sẽ mê hoặc. Hễ mê, ắt điên đảo, coi thật là giả, tưởng tà là chánh, xem ác là thiện; bởi đó, xử thế, đãi người, tiếp vật và tư tưởng, quan niệm đều nẩy sanh sai lầm. Kinh Đại Thừa chỉ dạy chúng ta một con đường tu hành chánh xác, đó là chỗ thù thắng của kinh điển Đại Thừa vậy.

              “Ngô nhân hiện tiền nhất niệm tâm tánh, bất tại nội, bất tại ngoại” (một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta chẳng ở trong, chẳng ở ngoài): Đoạn này rất khó hiểu, nhưng đúng là chân tướng sự thật được nói một cách đơn giản, ách yếu. Triết học gọi Thật Tướng là Bản Thể. Trong kinh Đại Thừa, đức Phật giải thích, nói theo mặt Thể thì Thật Tướng là “vô tướng”. Muôn pháp trong vũ trụ sanh ra như thế nào? Thế giới hình thành như thế nào? Động vật, thực vật tồn tại như thế nào? Đều là do một căn nguyên mà sanh ra. Căn nguyên ấy chính là Bản Thể. Những nhà triết học và tôn giáo trong ngoài nước xưa nay đều tìm tòi , Duy Tâm, Duy Thức. Từ ba ngàn năm trước, qua các kinh Đại Thừa  đức  Phật  đã  nói  rồi.  Đức  Phật  nói  bản  thể của vạn hữu là tâm.

    Muôn vật trong trời đất đều do tâm biến hiện ra. Chủ thể biến hiện là một, còn những cái được biến hiện thì vô lượng vô biên. Kinh Đại Thừa gọi nó là Chân Như Bổn Tánh. Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A Nan kiếm chân tâm ở bảy chỗ, Phật đều bảo chẳng đúng. Chân tâm ấy không có hình tượng, không có màu sắc, không phải là quá khứ, hiện tại, vị lai, không phải là Hương, Vị, Xúc, Pháp; nhưng nó là Có, chẳng phải là Không! Phật pháp thường dùng chữ Không để hình dung nó. “Không” chẳng phải là cái gì cũng chẳng có! Tâm Kinh dạy: “Sắc chính là Không, Không chính là Sắc. Sắc chẳng khác Không. Không chẳng khác Sắc”. Sắc là nói về hiện tượng, Không là nói về Bản Thể. Không là chủ thể biến hiện (Năng Biến), Sắc là cái được biến hiện (Sở Biến). Quý vị đều có kinh nghiệm nằm mộng, cảnh giới trong mộng nhất định phải có một thứ gì đó biến hiện cảnh mộng, đem so với tâm tánh thì cảnh giới hiện ra trong mộng là sắc tướng, là do cái Thể có khả năng biến hiện đã biến hiện ra chúng. Sắc tướng là giả, Năng Biến (cái có khả năng biến hiện) là chân. Do vậy, tâm gọi là Chân Tâm, tánh được gọi là Bổn Tánh. Tướng là giả, bị biến đổi, nhưng Thể của những tướng được biến hiện thì là chân. Sự trang nghiêm nơi y báo và chánh báo trong mười pháp giới đều do nó biến hiện ra. Do vậy, Thiền gia có một câu nói: “Nhược nhân thức đắc tâm, đại địa vô thốn thổ” (Nếu ai hiểu được tâm, đại địa không còn một tấc đất).

              Chúng  ta hiện  đang mê,  suốt ngày từ sáng đến tối suy nghĩ loạn xạ, tạo nghiệp, chịu báo, cảm nhận lục đạo luân hồi, hoàn toàn là do tự tâm biến hiện ra. Nếu rời khỏi tâm tánh thì chẳng có một pháp nào để có thể đạt được! Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta và một niệm tâm tánh chư Phật Như Lai chẳng hai, chẳng khác, nhưng có ý niệm thứ hai là sai rồi. Niệm thứ nhất là bổn tánh, niệm thứ hai là vọng tưởng, chấp trước. Nếu giữ được nhất niệm thì sẽ thành Phật. Niệm thứ nhất không có phân biệt, chấp trước, bình đẳng đối với muôn pháp bên ngoài, chẳng có thiện hay ác, đúng hay sai, tà hay chánh, chân hay vọng, lợi hay hại, đó gọi là Nhất Chân Pháp Giới. Cái niệm thứ hai là phân biệt, chấp trước đã dấy lên. Ví như tôi cầm một vật nào đó trong tay, quý vị vừa trông thấy thì rất rõ ràng, nhưng qua ý niệm thứ hai liền suy nghĩ vật này có tên là gì. Nó vốn không có tên gọi, tên gọi là do người ngoài đặt cho nó, là giả danh. Gọi nó là một trang giấy, màu trắng, tức là khởi lên phân biệt, chấp trước. Từ đấy, dẫn khởi tham, sân, si, mạn. Chúng ta chẳng thể giữ cho niệm thứ nhất không biến đổi, hễ gặp bất cứ cảnh giới nào liền lập tức mê. Đã mê lại càng thêm mê, luân chuyển trong sáu nẻo, chẳng có thuở thoát ra. Đấy chính là lý luận căn bản trong Phật pháp, chẳng thể không biết. Dùng vàng chế ra đồ vật, món nào cũng là vàng. Đồ vật có thể biến đổi, chứ vàng chẳng thay đổi. Tướng có thể biến đổi, chứ Thể chẳng biến đổi. Tâm tánh bất biến nhưng tùy duyên, tùy duyên nhưng bất biến. Đáng tiếc là chúng ta vọng niệm này tiếp nối vọng niệm khác, vĩnh viễn không ngưng nghỉ. Do đây, tướng mà mình thấy được là vọng tưởng. Nếu có một ngày nào đó, thật sự đạt được nhất tâm thì sẽ thật sự thấy được Thật Tướng. Thật Tướng là hết thảy pháp bất sanh bất diệt, trong kinh Phật gọi đó là Vô Sanh Pháp Nhẫn.

              Chúng ta sử dụng cái tâm sanh diệt, nên thấy hết thảy pháp đều có sanh, có diệt. Con người có sanh, lão, bệnh, tử, thế giới có thành, trụ, hoại, không. Chư Phật, Bồ Tát dùng tâm bất sanh bất diệt, thấy hết thảy pháp bất sanh bất diệt. Học Phật tức là muốn công phu đạt đến mức nhất tâm, sự tu học trong Đại Thừa Phật pháp xoay quanh điều này. Thiền Tông gọi nó là Thiền Định, còn pháp môn Niệm Phật gọi nó là Nhất Tâm. Nhất Tâm là Thiền Định, mà cũng là Thật Tướng, Chân Như, Bổn Tánh. Niệm Phật đến mức nhất tâm bất loạn thì sẽ có cùng một cảnh giới với minh tâm kiến tánh trong nhà Thiền. Trong phương diện Giáo Học, ắt cần phải lập ra thuật ngữ danh tướng để tiện cho con người thấu hiểu. Danh từ là giả lập, chớ nên chấp trước. Căn bệnh lớn nhất trong các pháp thế gian là chấp trước. Chúng ta nghiên cứu tâm tánh, nói đến các thứ danh tướng của Chân Như Bổn Tánh, tự mình đừng nên chấp trước, mà cũng đừng khiến cho người khác chấp trước. Tu học Phật pháp khó nhất là ở chỗ này. Đức Phật thuyết pháp suốt bốn mươi chín năm, nhưng kinh Kim Cang lại chép Ngài chẳng nói một pháp nào cả! Đức Phật nói: “Tu Bồ Đề! Nhữ vật vị Như Lai tác thị niệm, ngã đương hữu sở thuyết pháp, mạc tác thị niệm. Hà dĩ cố? Nhược nhân ngôn Như Lai hữu sở thuyết pháp, tức vi báng Phật, bất năng giải ngã sở thuyết cố” (Này Tu Bồ Đề! Ông đừng nói: Như Lai nghĩ như thế này, ta sẽ có pháp để nói, đừng nghĩ như vậy. Vì sao? Nếu có ai nói Như Lai có thuyết pháp thì chính là báng Phật vì chẳng thể hiểu lời ta nói). Chúng ta chớ nên chấp trước pháp do đức Phật đã nói, phải thấu hiểu sâu xa điều này. Hễ chấp sẽ mê!

    Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật nói: “Hết thảy chúng sanh đều có trí huệ, đức tướng của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng, chấp trước mà chẳng thể chứng đắc”. Chỉ một câu này đã nói toạc ra cái gốc bệnh của chúng ta chính là phân biệt, chấp trước. Không có phân biệt, chấp trước thì chính là Nhất Chân pháp giới. Nhất Chân pháp giới là cuộc sống ở ngay trước mắt chúng ta. Phật pháp không có gì khác, chỉ là phá chấp mà thôi. Phá trừ Ngã Chấp, chứng quả vị A La Hán trong Tiểu Thừa; Đại Thừa phá trừ Pháp Chấp, sẽ viên mãn thành Phật. Thành Phật chỉ là phá được cả hai chấp mà thôi! Ngã Chấp là cội nguồn của Phiền Não Chướng, phá được Ngã Chấp thì đoạn được Kiến Tư phiền não. Phá được Kiến Tư phiền não sẽ thoát khỏi lục đạo luân hồi. Pháp Chấp là cội nguồn của vô minh, phá được Pháp Chấp sẽ đoạn vô minh. Kinh điển dù Đại Thừa hay Tiểu Thừa đều giảng như vậy. Do đó, có rất nhiều tông phái, vô lượng pháp môn, nhưng phương pháp, lý luận đều nhằm giúp cho người học phá chấp và minh tâm kiến tánh. Nay chúng ta chọn lựa pháp môn Niệm Phật, niệm một câu A Di Đà Phật, dùng công phu chân thật của chính mình lại thêm bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia trì, người căn tánh lanh lợi chịu buông phân biệt, chấp trước xuống sẽ khai ngộ dễ dàng.

              “Mịch chi liễu bất khả đắc” (tìm kiếm thì trọn chẳng thể được) là nói về tâm tánh. Đạt Ma Tổ Sư lúc diện bích (nhìn vào vách) chín năm tại chùa Thiếu Lâm, tìm chẳng được một ai để truyền pháp. Về sau, có Huệ Khả đến cầu pháp, chân thành, cung kính Tổ Đạt Ma. Tổ Đạt Ma ngồi yên, chẳng đếm xỉa gì tới. Nhằm biểu thị lòng thành, Huệ Khả dùng đao chặt tay trái, dâng lên cúng dường. Tổ Đạt Ma cảm động, chấp nhận. Huệ Khả liền hướng về Tổ Đạt Ma, thưa: “Tâm con chẳng an, cầu đại sư an cái tâm cho con”. Tổ Đạt Ma bảo: “Ông đem cái tâm lại đây, ta sẽ an nó cho ông”. Huệ Khả thưa: “Con tìm tâm trọn chẳng thể được!” Đạt Ma nói: “Ta đã an cái tâm cho ông rồi!” Huệ Khả vừa nghe liền đại ngộ. Trong cuộc đối thoại của hai vị, Tổ Đạt Ma nói mà chẳng nói, Huệ Khả nghe mà chẳng nghe.

              Tâm là có, chẳng thể bảo là không có, tận hư không, trọn pháp giới, muôn pháp, bách giới, thiên như trong vũ trụ đều do nó biến hiện, nhưng chẳng thể nói muôn pháp trong vũ trụ là thật sự có. Chúng ta thấy chúng thật sự có, vì dùng cái tâm phân biệt để nhìn. Chân tướng là “đương Thể tức Không” (ngay nơi bản thể của chúng là Không). Kinh Lăng Nghiêm khai huệ nói: “Đương xứ xuất sanh, tùy xứ diệt tận” đóng mở hai mươi bốn lần, kẻ tâm thô, thiếu công phu định lực sẽ chẳng thể nào phân biệt được! Đức Phật nói giả tướng của vạn hữu trong vũ trụ sanh diệt chỉ trong khoảng khảy ngón tay. Trong một giây có thể khảy ngón tay bốn lần. Trong một khảy ngón tay có sáu mươi sát-na, một sát-na có chín trăm lần sanh diệt. Do vậy, trong một giây vừa vặn có hai cái mười tám ngàn lần sanh diệt thành một trăm giới. “Thiên như”: Trong mỗi một giới đều có mười như thị, .

              Đại Thừa Bồ Tát chẳng chấp trước Có, mà cũng chẳng chấp trước Không. Thấp hơn Đại Thừa thì phàm phu chấp Có, Nhị Thừa chấp Không, chấp lệch vào một bên là sai. Chấp Có thì luân hồi trong lục đạo; chấp không sẽ chẳng thể thấy được tánh. Chỉ có Đại Thừa Bồ Tát biết chân tướng sự thật, chẳng chấp bên nào hết. Tâm tánh chẳng thể được, cảnh giới cũng chẳng thể được. “Chẳng thể được” là thật; nếu nghĩ là “có thể được” thì đã hiểu sai rồi! Thân thể của chúng ta và hết thảy muôn pháp đều biến hóa sanh diệt trong từng sát-na, không có một pháp nào có thể được. Nếu thật sự hiểu rõ sâu xa sự thật này thì ý niệm được – mất sẽ nhạt bớt, phiền não, ưu lự có thể giảm thiểu tới tám chín chục phần trăm! Đây là cảnh giới chẳng thể được, sự cũng chẳng thể được. Tâm kinh dạy: “Vô trí, diệc vô đắc”, không chỉ Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập Bát Giới chẳng thể được, ngay trí Năng Chứng và pháp được chứng là Bồ Đề Niết Bàn cũng chẳng thể được. Do tâm tánh là Không, Năng Biến (chủ thể biến đổi, tức tâm) đã chẳng thể được, thì Sở Biến (đối tượng bị biến hóa, tức hết thảy vạn pháp trong vũ trụ) làm sao có thể được? Nhập cảnh giới này thì chân tướng sẽ thấu hiểu rành rành, ngộ nhập Thật Tướng thì sẽ tận tình hưởng thụ hết thảy sự vật. Đừng nghĩ chúng là thật sự có, rồi mong chiếm hữu thì cuộc sống trên thế gian sẽ là du hý thần thông.

              Bổn tánh tuyệt đối chẳng có tướng hư vọng, “duyên lự” là tư tưởng, “phân biệt” là kiến giải. Trong tâm tánh không có duyên lự, phân biệt. Cổ đức dạy kẻ sơ học phải khởi sự từ Căn Bản Trí. Căn Bản Trí là vô tri, cầu đạt tâm thanh tịnh, chứ không chấp thuận quý vị có kiến giải, có tư tưởng. Lìa hết thảy ngôn ngữ, văn tự, ở mãi trong cảnh giới Định. Người học Phật hiện thời dồn công sức vào nơi “có hiểu biết, có tư tưởng, có kiến giải”, sai lầm quá đỗi! Dẫu học Phật giỏi đến mấy, cũng chỉ có thể gọi là nhà nghiên cứu Phật học lớn, chứ chẳng thể đoạn phiền não, đắc thanh tịnh tâm, liễu sanh tử, thoát tam giới, siêu phàm nhập thánh. Tu học Tịnh Tông khá đặc biệt, ai nấy đều có thể học, môn này không dạy người học trụ tâm nơi Định mà trụ nơi danh hiệu A Di Đà Phật. Trong tâm, trừ A Di Đà Phật ra, chẳng có một chút gì khác. Đấy gọi là “có Tịnh Độ”, hễ có Tịnh Độ, ắt sẽ sanh về Tịnh Độ.

              Trong lúc học Phật thì vẫn có những chuyện thế gian cần phải làm, mà lại càng phải sốt sắng làm. Phật pháp nằm trong thế gian, chẳng hoại tướng thế gian. Kinh Hoa Nghiêm nói “sự lý vô ngại, sự sự vô ngại”. Lý là tâm tánh, vĩnh viễn thanh tịnh. Sự là muôn hình tượng, làm chuyện thế gian đến mức viên mãn. Hoằng pháp trong hiện thời ắt phải dùng phương pháp cởi mở. Trước mắt, bất luận nam, nữ, già, trẻ, ai nấy đều cầu danh vọng, lợi dưỡng. Nếu quý vị nói học Phật phải buông bỏ tiếng tăm, lợi dưỡng, sẽ chẳng có ai học. Phải kềm cặp chúng sanh, dùng phương pháp chánh xác để cầu tiếng tăm, lợi dưỡng vừa lòng thỏa ý họ. Điều này hoàn toàn chẳng trái nghịch Phật pháp. Phật pháp vốn dạy con người lìa khổ được vui mà! Hiểu rõ rệt đạo lý sau đây: “Trong cửa Phật, có cầu ắt ứng. Cầu phú quý, đắc phú quý. Cầu công danh, đắc công danh”. Gia đình mỹ mãn, xã hội an định, thiên hạ thái bình, điều gì cũng cầu được. Đọc kỹ và làm theo những chỉ dạy trong ba kinh Tịnh Độ thì sẽ đạt được những mục đích ấy.

              “Ly nhất thiết tướng, tức nhất thiết pháp. Ly cố, vô tướng. Tức cố, vô bất tướng. Bất đắc dĩ, cưỡng danh Thật Tướng” (Lìa hết thảy tướng chính là hết thảy pháp. Do “lìa”, nên vô tướng. Do “chính là”, nên chẳng phải không có tướng. Bất đắc dĩ, cưỡng gọi là Thật Tướng). Thật Tướng cũng là một danh từ giả danh. Tách lìa tướng danh tự liền thấy được chân tướng của nhân sinh và vũ trụ. Khi chẳng khởi một niệm sẽ thấy được chân tướng, phải dùng nhất tâm thì mới được. Còn dùng ý niệm sẽ là nhị tâm, rồi lại có phân biệt, liền trở thành tam tâm! “Vô tướng” là không có phân biệt, vọng tưởng, chấp trước, chẳng có tướng hư vọng, chẳng có ý niệm. Chữ “tức” ý nói sống ngay trong thế gian này, chẳng tách rời thế gian, chẳng tách lìa, chỉ có thể thụ dụng nó. Hết thảy muôn sự muôn pháp đều tồn tại, là có tướng, nhưng chẳng chấp trước vào những tướng ấy, chúng sẽ chẳng khởi tác dụng phụ, nhưng cũng chẳng thể buông bỏ nó. Hễ buông bỏ thì lại là chấp vào Không.

              “Thật Tướng chi Thể, phi tịch, phi chiếu, nhi phục tịch, nhi hằng chiếu, chiếu nhi hằng tịch” (Thể của Thật Tướng chẳng tịch, chẳng chiếu, nhưng lại vừa tịch vừa luôn chiếu, tuy chiếu nhưng luôn tịch): Câu này giảng rõ “không rớt vào hai bên”. Tịch và Chiếu có thể lần lượt làm Thể và Dụng cho nhau. Thật Tướng tức là tâm tánh, bản thể của tâm tánh là Tịch, khởi tác dụng là Chiếu. Cũng có thể nói: Thể của tâm tánh là Chiếu, khởi tác dụng là Tịch. Tịch là vắng lặng. “Như như bất động” là Tịch, “rõ rệt rành rành” là Chiếu. Lý luận này hết sức trọng yếu. Khó thể hình dung Thật Tướng, lìa ngôn thuyết, lìa văn tự, lìa tâm duyên, có thể soi bóng những thứ bên ngoài rõ ràng, rành rẽ. Tâm địa thanh tịnh, thông suốt khắp mười phương tam thế, được gọi là Chiếu, còn gọi là “thần thông”, phàm phu chẳng thể thấu hiểu được. Loại năng lực này chẳng phải riêng chư Phật mới có, mà hết thảy chúng sanh đều có, đáng tiếc là đã chôn vùi phần lớn. Hiện thời, mắt có thể thấy, tai có thể nghe, mũi có thể ngửi, đều thuộc về “thần thông”, nhưng năng lực nhỏ nhoi đến mức mắt bị ngăn cách bởi một tờ giấy sẽ không thể thấy được, khả năng nghe của tai cũng giống như vậy. Năng lực ấy vì sao bị chôn vùi? Chính là do một niệm bất giác mà có vô minh. Vô minh vừa khởi lên, năng lực của Chiếu bị mất đi. Có một niệm khởi, liền bị chướng ngại thành mê, càng mê, càng sâu. Những đạo lý “mê như thế nào, phương cách đả phá sự mê hoặc ấy hòng khôi phục cái tâm thanh tịnh” được sáu kinh, mười một luận sẽ biến đổi. Chiếu là Lý Trí, do Lý Trí sanh ra, vĩnh viễn chẳng biến đổi, Chiếu là chân tình. Phật pháp chẳng dùng chữ Tình, mà dùng một danh từ khác là Từ Bi. Từ Bi sanh từ Tịch và Chiếu, chẳng bị biến đổi.

              Trong tựa đề kinh Vô Lượng Thọ có năm chữ “thanh tịnh bình đẳng giác”, “thanh tịnh bình đẳng” là Tịch, “giác” là Chiếu, từ đây, sanh ra đại từ, đại bi. Phải như thế nào thì mới có thể khế nhập cảnh giới ấy? Thực hiện từ “thấy thấu suốt, buông xuống”. “Thấy thấu suốt” là trí huệ, “buông xuống” là công phu. Phân biệt, chấp trước, ưu lự, vướng mắc thảy đều buông xuống. Trong cuộc sống thường nhật, sống tùy duyên, được đại tự tại. Đấy chính là hạnh phúc chân chánh.

              “Chiếu nhi tịch, cưỡng danh Thường Tịch Quang độ. Tịch nhi Chiếu, cưỡng danh Thanh Tịnh Pháp Thân” (Tuy tịch mà chiếu nên cưỡng gọi là cõi Thường Tịch Quang. Tuy Chiếu mà Tịch, cưỡng gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân). Hai câu này ý nói: Một niệm tâm tánh nơi bổn tánh của chúng ta cũng chính là thân và cõi nước của chư Phật Như Lai. Thân và cõi nước chẳng hai, do Tịch và Chiếu chẳng hai, Tịch và Chiếu có thể dùng làm Thể và Dụng lẫn cho nhau, đấy là chỗ dựa nguyên thủy để lập luận. Cõi Thường Tịch Quang và Thanh Tịnh Pháp Thân đều thuộc vào bản thể của tâm tánh. Ba thân của Phật, tức Pháp Thân, Báo Thân và Ứng Thân là từ Thể mà khởi Dụng, ”, toàn thể mộng chính là tâm, đây là điều có thể khẳng định được. Hiện tại, chúng ta đang nằm mộng, y báo, chánh báo trang nghiêm, núi, sông, đại địa trong mười pháp giới đều do tự tâm biến hiện. Trừ chân tâm bổn tánh ra, không có một pháp nào để có thể được. Phật và các đại Bồ Tát hiểu biết rõ ràng sự thật này, chứng đắc Pháp Thân, nên các Ngài nhất loạt đối đãi bình đẳng với chúng sanh. Bởi lẽ, hư không pháp giới và chính mình có cùng một Thể, há còn nói tới điều kiện nào nữa ư? Phật, Bồ Tát đối xử chúng sanh là chính mình đối xử chính mình, vì thế mới “vô duyên đại từ, đồng thể đại bi”. Người đời không biết, La Hán, Bích Chi Phật và Quyền Giáo Bồ Tát đều chẳng hiểu rõ. Sơ Trụ Bồ Tát trong Viên Giáo phá một phẩm vô minh, chứng một phần Pháp Thân, đích thân chứng được chân tướng sự thật mới hiểu rõ. Tư tưởng, kiến giải, cách nghĩ, cách nhìn của họ chẳng khác chư Phật Như Lai. Đấy gọi là “nhập Phật tri kiến”.

              “Tịch chiếu cưỡng danh Báo Thân” (Tuy tịch mà chiếu nên cưỡng gọi là Báo Thân). Tịch mà chiếu, đấy là công phu, tức tâm thanh tịnh khởi tác dụng, tràn đầy trí huệ, trở thành Báo Thân trí huệ, thấy tột cùng trọn khắp hư không pháp giới đều là hiện tượng tịch diệt.

              “Tánh Đức tịch chiếu, danh Pháp Thân. Tu Đức chiếu tịch, danh Báo Thân” (Tánh Đức tịch mà chiếu, gọi là Pháp Thân. Tu Đức chiếu mà tịch, gọi là Báo Thân). Đây là dựa theo Tánh và Tu để nói. Tánh là bổn tánh, Chân Như bổn tánh tịch chiếu ai nấy đều có, phàm và thánh giống nhau, nơi Phật chẳng tăng, tại phàm chẳng giảm. Nhưng Tu Đức thì khác nhau, Phật, Bồ Tát có tu hành, hiểu rõ chân tướng của sự thật.  Phật, Bồ Tát dạy chúng ta thì chúng ta nửa tin, nửa ngờ, thậm chí chẳng thể tiếp nhận. “Chiếu” là hiểu rành rẽ, rõ ràng, mắt thấy sắc, tai nghe tiếng. “Tịch” là như như bất động, đối với cảnh giới chẳng khởi tâm động niệm. Đấy gọi là Tự Thụ Dụng Thân. Như như bất động, trọn chẳng có phiền não, thứ gì cũng rõ ràng, đầy ắp trí huệ, đấy là tự thụ dụng, mà cũng chính là sự hưởng thụ chân chánh của chính mình.

              Chúng ta sống rất khổ, phiền não nhiều như vậy, chẳng có Tịch. Trong tâm suy nghĩ lung tung, thứ gì ở bên ngoài cũng chẳng hiểu biết, nên không có Chiếu. Để giúp đỡ người khác thì chính mình phải Tịch Chiếu, chính mình phải như bất động. Hiểu rõ ràng, rành rẽ cảnh giới bên ngoài thì mới có thể chỉ dạy người khác. Chính mình như như bất động thì mới chẳng bị người khác lôi kéo, cho nên được đại tự tại. Chỉ có Chiếu không có Tịch mà độ chúng sanh và tiếp xúc chúng sanh, hễ tiếng tăm, lợi dưỡng đưa tới thì tham, sân, si, mạn nẩy sanh, sẽ bị chúng sanh lôi kéo. Ứng Hóa Thân là Tha Thụ Dụng Thân nhằm giúp đỡ người khác.

    “Thật Tướng vô nhị, diệc vô bất nhị” (Thật Tướng không hai, mà cũng chẳng không hai). Vũ trụ vạn hữu, vốn là bình đẳng nhất tướng, trong ấy không có sai biệt. Kinh Kim Cang nói đại thiên thế giới là “nhất hiệp tướng”.

     

    Phụ Chú:

     

     

    – Tịch: Vắng lặng, bất biến, diễn tả đặc tánh không bị biến đổi bởi trần cảnh hay bất cứ nguyên nhân nào của bản thể (tạm gọi là Thật Tướng).

    – Chiếu: Khả năng nhận biết muôn pháp và hết thảy sự vật rõ ràng.

    – Chân tâm (Thật Tướng, Chân Như, bổn tánh v.v…) bất biến nhưng luôn nhận biết sự vật không sai lầm, không mê hoặc, tuy nhận biết sự vật rõ ràng nhưng không vướng mắc, không bị sự vật ô nhiễm. Do chân tâm vượt ngoài đối đãi, thấy nó có Chiếu hay có Tịch đều chỉ là nhìn từ một khía cạnh, không thể nói chân tâm là Tịch hay Chiếu được. Tuy vậy, chân tâm luôn trọn đủ ý nghĩa Tịch và Chiếu, nên chân tâm cũng chẳng thể tách rời Tịch và Chiếu được. Điều này diễn tả bằng câu “bất biến nhưng tùy duyên, tùy duyên nhưng bất biến” hoặc nói như Yếu Giải “phi tịch, phi chiếu, nhi phục tịch, nhi hằng chiếu, chiếu nhi hằng tịch” (chẳng phải tịch, chẳng phải chiếu, nhưng lại vừa tịch vừa luôn chiếu, tuy chiếu nhưng luôn tịch).

    – Những danh từ như Thường  Tịch  Quang,  Pháp  Thân,  Báo  Thân,

    Ứng Thân, Thụ Dụng Thân, Ứng Hóa Thân là những danh từ được đặt ra nhằm diễn tả một khía cạnh nào đó của Thật Tướng, vì tất cả đều do Thật Tướng biến hiện.

    – Nhấn mạnh đến khía cạnh “tùy duyên nhưng bất biến” của Thật Tướng, ta có Thường Tịch Quang Độ. Tuy gọi là cõi, nhưng đây chỉ là cảnh giới chứng đắc của bậc Pháp Thân đại sĩ và chư Phật, chứ không phải là một cõi về mặt sự tướng. Tâm các vị ấy thấu hiểu vạn pháp, nhận biết vạn pháp, nhưng không ô nhiễm bởi phân biệt, chấp trước, suy lường, thành kiến, có thể sự sự vô ngại, nên gọi cảnh giới ấy là Thường Tịch Quang. Do vậy, Yếu Giải ghi “Chiếu nhi Tịch, cưỡng danh Thường Tịch Quang độ” (Tùy duyên nhưng vẫn bất biến thì cưỡng gọi là cõi Thường Tịch Quang).

    – Nhấn mạnh đến khía cạnh “bất biến nhưng tùy duyên” của Thật Tướng, thì gọi là Pháp Thân. Pháp Thân không có hình tướng, nó là Lý Thể. Lý ấy bất biến, thường hằng, dung thông muôn pháp, tồn tại trong vạn pháp. Chúng sanh đang mê thì Pháp Thân vẫn không mất, chư Phật chứng quả viên mãn, Pháp Thân vẫn không tăng thêm. Pháp Thân có thể lưu lộ vô lượng tánh đức (nên gọi là tùy duyên). Do vậy Yếu Giải ghi: “Chiếu nhi Tịch, cưỡng danh Thanh Tịnh Pháp Thân”.

    – Nếu từ Dụng nhìn ngược lại Thể, thì Thật Tướng có tác dụng vô biên không chướng ngại, nhưng không vì thế mà nó biến đổi nên gọi là Pháp Thân, nhấn mạnh đến ý nghĩa “vô tướng” của Thật Tướng. Do vậy, sách Yếu Giải ghi “Chiếu tịch, cưỡng danh Pháp Thân” nhấn mạnh ý nghĩa Tịch.

    – Lại từ Thể nhìn ra Dụng, chú trọng nơi Dụng. Thật Tướng tuy bất biến, nhưng có vô biên tác dụng, tác dụng ấy là trí huệ tràn đầy, không gì chẳng biết, giống như gương tuy rỗng rang mà vẫn có thể chiếu soi vô ngại tất cả sự vật. Thật Tướng vô tướng (rỗng rang, không lệ thuộc hình tướng), nhưng không trở ngại tướng nào, tràn đầy trí huệ, nhấn mạnh ý nghĩa Thật Tướng tuy vô tướng nhưng chẳng phải là chẳng có tướng gì (có tướng, nhưng không vướng mắc, trệ ngại nơi hình tướng) nên sách Yếu Giải bảo “Tịch chiếu cưỡng danh Báo Thân”,  tức nhấn mạnh vào ý

    nghĩa Chiếu.

    – Tiếp đó, nhìn vào phương diện đức năng, tức vô biên phẩm đức (công dụng, đặc tánh) của Thật Tướng để luận định. Xét theo Lý thì những đức năng ấy gọi là Tánh Đức. Do Thật Tướng bất biến, nhưng có vô lượng vô biên đức năng, ai cũng sẵn đủ vô lượng vô biên các đức năng ấy. Nhấn mạnh đến khía cạnh “xét theo Lý (tức theo chân lý tuyệt đối), ai cũng có sẵn vô lượng đức năng trong tự tánh”, sự thật ấy tạm gọi là Pháp Thân, nên sách Yếu Giải ghi “Tánh đức tịch chiếu, danh Pháp Thân”.

    – Tuy sẵn đủ đức năng nơi tự tánh, nhưng do đang mê hoặc, chấp trước, chúng sanh không thể thụ dụng được, phải tu tập để trừ khử vọng tưởng, chấp trước, phân biệt (kinh diễn tả điều này là phiền não, hoặc Tam Hoặc v.v..), hòng khôi phục đức năng. Đức năng do tu tập mà đạt được từng phần gọi là Tu Đức. Do tu tập, sẽ dần dần khôi phục trọn vẹn đức năng, các đức năng ấy chính là Dụng của Thật Tướng, vô biên lực dụng, không gì chẳng hiểu thấu nhưng chân tâm bất biến, bất biến nhưng vẫn tùy duyên. Nhấn mạnh đến sự khôi phục đặc tánh “tùy duyên nhưng bất biến” sau khi tu tập viên mãn, chứng đắc Phật Quả nên gọi là Báo Thân. Do vậy, sách Yếu Giải ghi là “Tu Đức chiếu tịch, danh Báo Thân”.

    – Xét riêng phương diện Chiếu, vận dụng lực dụng của Chiếu để độ sanh, nhấn mạnh đến khía cạnh Giác Tha hay Giác Hạnh Viên Mãn nơi quả vị Phật mà có giả danh là Thụ Dụng Thân và Ứng Hóa Thân.

    – Thụ Dụng Thân chính là tên gọi khác của Báo Thân, chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh lực dụng vô ngại, được khôi phục trọn vẹn sau khi tu tập viên mãn, chứng nhập bản tánh chân thường bất biến (Tịch) của Thật Tướng, do vậy độ sanh không điều kiện, không gì chẳng thể làm, không gì chẳng thể biết, không chúng sanh nào chẳng độ. Do vậy, sách Yếu Giải ghi là “Tu Đức tịch chiếu, danh Thụ Dụng Thân”.

    – Tuy độ sanh vô tận, nhưng không thấy có chúng sanh để độ, chúng sanh và mình cùng một thể, thuyết pháp không gián đoạn nhưng không thấy có người nói pháp, không có người nghe pháp, không có pháp để nói v.v… Nói cách khác, đấy là “tùy duyên nhưng bất biến”, dẫu độ sanh nhưng chẳng rời tự tánh, là cảm ứng đạo giao, giống như gõ vào chuông thì chuông bèn ngân. Do vậy, sách Yếu Giải ghi là “Tu Đức chiếu tịch, danh Ứng Hóa thân”.

     

    Thể ở đây có thể tạm hiểu như khái niệm bản thể trong triết học, tức thực chất của một sự vật, bản tánh chân thật của một sự vật. Có thể dùng một tỷ dụ để tạm hiểu như thế này. Các món như xuyến, vòng, bông tai, nhẫn, lắc, dây chuyền v.v… đều chế bằng vàng, thì vàng là Thể của những vật đó. Những vật đó là Tướng của vàng. Tuy tướng khác nhau (ta có các món trang sức khác nhau), nhưng Thể chỉ một (tức là chúng đều là vàng). Các pháp, ngay cả các kinh Đại Thừa thiên sai vạn biệt nhưng Thể của chúng chỉ là một, cái Thể ấy tạm gọi bằng Thật Tướng. Ngay cả chữ Thật Tướng cũng chỉ là giả danh, tạm đặt ra để nhằm diễn tả Thể mà thôi.

    Hai cái mười vạn tám ngàn (2×10.800 = 21.600). Vì một giây có bốn lần khảy ngón tay, mỗi khảy ngón tay là 60 sát-na, mỗi sát-na có 900 lần sanh diệt, vì thế: 4x60x900=21.600 lần. 

    Theo Viên Anh pháp sư, chữ “vắng lặng” (tịch tĩnh) ở đây hàm nghĩa bất biến. Chiếu hàm nghĩa tùy duyên. Tịch là nói tánh của Thật Tướng, bất biến hàm nghĩa nơi thánh chẳng tăng, nơi phàm chẳng giảm. Nói Tịch hay nói Chiếu đều là phân biệt, còn thuộc trong vòng đối đãi, nên mới nói “Thể chẳng phải là Tịch, chẳng phải là Chiếu”.

    Chữ “tâm duyên” ở đây hàm nghĩa dùng tâm ý thức phân biệt để suy lường.

    : Pháp Môn Tịnh Độ Là Pháp Đốn Vượt Tam Giới

  • – : Giới – Định – Huệ Và Văn – Tư – Tu
  • – : Bố Thí – Lục Độ
  • – : Tín – Giải – Hành
  • – : Phương Pháp Tu Hành Các Tôn Giáo Cao Nhất Lên Cõi Trời, Không Vượt Thoát Khỏi Tam Giới
  • – : Vãng Sanh Bất Thoái
  • – : Pháp Môn Bất Tử
  • – : Lời Tựa và Nội Dung
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Hàn Lâm Khoa Học Xã Hội Việt Nam
  • Ý Nghĩa Của Tên Miền .com, .net, .org
  • What Does .net Mean? Get Facts About .net
  • Tổng Quan Về Tên Miền Edu Và Gov Bạn Cần Biết Khi Tạo Website
  • Tên Đẹp, Ý Nghĩa Mang Lại May Mắn Cho Bé
  • Ý Nghĩa Tên Tú Uyên, Luận Ngũ Cách Tên Gọi Tú Uyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Chu Tú Uyên Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Con Nguyễn Tú Ngọc Linh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Ngọc Tú Uyên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • 28 Vì Tinh Tú Và 12 Chòm Sao
  • Tên Châu Thảo An Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý nghĩa tên Tú Uyên luận ngũ cách tên gọi Tú Uyên để biết thêm về những ý nghĩa chi tiết của tên gọi Tú Uyên về Thiên Cách, nhân cách, địa cách và tổng cách. Cùng ibongda tìm hiểu Ý nghĩa tên Tú Anh, luận ngũ cách Tú Anh theo phong thủy A. Ý […]

    Ý nghĩa tên Tú Uyên luận ngũ cách tên gọi Tú Uyên để biết thêm về những ý nghĩa chi tiết của tên gọi Tú Uyên về Thiên Cách, nhân cách, địa cách và tổng cách. Cùng ibongda tìm hiểu

    Tên Tú Uyên mang nghĩa tôn đẹp, phúc lộc, hưng gia, giàu lý trí và là con người hiền từ, con người có đức độ, có gia cảnh tốt, là người được hưởng trọn phú quý.

    B. Luận ngũ cách tên Tú Uyên

    1. Luận thiên cách tên Tú Uyên

    • Thiên cách tên gọi được tính bằng tổng số nét chữ Tú (7) + 1 = 8 . Thuộc hành Âm Kim và đây là quẻ Bán Cát Bán Hung, ý chí kiên cường, giải trừ được hoạn nạn, có khí phách nghiền nát kẻ thù để làm nên việc. (điểm: 10/20)
    • Thiên Cách là đại diện cho cha mẹ, bề trên, sự nghiệp, danh dự. Nếu không tính sự phối hợp với các cách khác thì còn ám chỉ khí chất của người đó. Ngoài ra, Thiên cách còn đại diện cho vận thời niên thiếu.

    2. Luận nhân cách tên Tú Uyên

      Nhân cách tên này được tính bằng tổng số nét của chữ Tú (7) + 1) = 8 , thuộc hành Âm Kim, đây là quẻ Bán Cát Bán Hung, ý chí kiên cường, giải trừ được hoạn nạn, có khí phách nghiền nát kẻ thù mà nên việc. (điểm: 15/30)
      Nhân cách: hay còn được gọi là “Chủ Vận” chính là trung tâm của họ và tên, là yếu tố chi phối cả cuộc đời của con người, đại diện cho nhận thức, cho quan niệm nhân sinh. Cũng giống như mệnh chủ trong mệnh lý, nhân cách còn là hạt nhân biểu thị cát hung trong tên họ. Nếu đứng đơn độc, Nhân cách còn ám chỉ tính cách của người đó. Trong Tính Danh học, Nhân cách đóng vai trò là chủ vận.

    • Địa cách của tên gọi được tính bằng tổng số nét của chữ Uyên(8) = 9 , thuộc hành Dương Thủy… đây là quẻ Hung, bất mãn bất bình, sôi nổi không nhất định. (điểm: 5/20)
    • Địa cách còn gọi là “Tiền Vận”(trước 30 tuổi) đại diện cho bề dưới, vợ con, và thuộc hạ, người nhỏ hơn mình, nền móng của người mang tên đó. tượng trưng thời gian trong cuộc đời. Địa cách biểu thị ý nghĩa cát hung (xấu tốt trước 30 tuổi) của tiền vận.
    • Ngoại cách tên gọi được tính bằng tổng số nét của chữ Uyên (8) + 1 = 8 , thuộc hành Âm Kim, đây là quẻ Bán Cát Bán Hung, trời cho ý kiên cường, giải trừ được hoạn nạn, có khí phách nghiền nát kẻ thù mà nên việc. Chỉ vì lòng quá lo được, mất sẽ có ngày bị gãy đổ, đưa đến phá vận. (điểm: 5/10)
    • Ngoại cách chỉ thế giới bên ngoài, bạn bè, người ngoài xã hội, những người bằng vai phải lứa, quan hệ xã giao. Vì mức độ quan trọng của quan hệ giao tiếp ngoài xã hội nên Ngoại cách được coi là “Phó vận” nó có thể xem phúc đức dày hay mỏng.

    5. Tổng cách:

    • Tổng cách là sự thu nạp ý nghĩa của Thiên cách, Nhân cách, Địa … là đại diện tổng hợp cho cả cuộc đời, đồng thời thể hiện hậu vận tốt xấu của từ trung niên trở về sau.

    C. Mối quan hệ giữa các cách:

    • Quan hệ giữa “Nhân cách – Thiên cách” sự bố trí giữa thiên cách và nhân cách gọi là vận thành công của bạn là: Kim – Kim, đây là quẻ Hung thể hiện tính tình quá cứng cỏi, có chuyện bất hòa, vợ chồng tranh chấp thành việc bất hạnh
    • Quan hệ giữa “Nhân cách – Địa cách” sự bố trí giữa địa cách và nhân cách gọi là vận cơ sở Kim – Thuỷ Quẻ này là quẻ Hung: Không tránh khỏi khổ nạn, nhanh chóng rơi vào bi vận
    • Quan hệ giữa “Nhân cách – Ngoại cách” gọi là vận xã giao: Kim – Kim Quẻ này là quẻ Hung: Phong lưu, quyết phấn đấu, nhưng gia đình duyên bạc, thường xung đột với mọi người, nên cuối cùng bị ruồng bỏ, cô độc, nhưng nếu cáo vận cục kim thì trước vui mà sau khổ
    • Sự phối hợp tam tài (ngũ hành số): Thiên – Nhân – Địa: Vận mệnh của phối trí tam tài:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Bùi Tú Uyên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Hoàng Tú Uyên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • An Nguy Được Lưu Tên ‘lạ’ Trong Danh Bạ Điện Thoại Toàn Shinoda
  • Một Năm Sau Ngày Mất, Toàn Shinoda Nhận Nút Bạc Youtube
  • An Nguy Nghẹn Ngào Viết Thư Gửi Toàn Shinoda Sau Một Tháng
  • Xem Ý Nghĩa Tên Tâm

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Nguyễn Tâm An Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Top 70 Tên Tiếng Anh Dễ Thương Cho Nữ (P2)
  • Ý Nghĩa Tên Công Ty Fpt
  • Ý Nghĩa Logo Fpt Qua Các Giai Đoạn
  • Lịch Sử Hình Thành Và Ý Nghĩa Chữ Fpt
  • Tâm là trái tim, không chỉ vậy, tâm còn là tâm hồn, là tình cảm, là tinh thần. Tên Tâm thường thể hiện mong muốn bình yên, hiền hòa, luôn hướng thiện, có phẩm chất tốt.

    An Tâm là tâm trí bình yên điềm tĩnh

    Ân là tình nghĩa. n Tâm chỉ con người có tình nghĩa đạo đức

    Anh là tinh túy. Anh Tâm là tâm hồn tinh tế sâu sắc

    Ánh là tia sáng. Ánh Tâm là trái tim trong sáng, hàm nghĩa người có nhân cách đẹp đẽ

    tâm hồn trong sáng, tinh khiết.

    Bằng là đại bàng. Bằng Tâm là trái tim đại bàng, hàm nghĩa con người cao thượng

    Bảo là quý giá. Bảo Tâm là trái tim quý giá, hàm nghĩa con người độ lượng chân thành

    Bích là ngọc bích. Bích Tâm là trái tim thuần khiết đẹp đẽ

    Cẩm là gấm lụa. Cẩm Tâm là trái tim gấm lụa, chỉ con người có tình cảm trân quý thiết tha

    Chánh là chính. Chánh Tâm nghĩa là trái tim chính nghĩa cương trực

    Đặt tên Chí Tâm có ý nghĩa gì:

    Chí là đi đến. Chí Tâm là con tim khí khái, đi đến cùng sự việc

    Đặt tên Chinh Tâm có ý nghĩa gì:

    Chinh là chiến chinh. Chinh Tâm là trái tim mạnh mẽ chiến đấu

    Đặt tên Chính Tâm có ý nghĩa gì:

    Chính Tâm là trái tim chính trực, cương nghị

    Đặt tên Chương Tâm có ý nghĩa gì:

    Chương là rực rỡ phô trương. Chương Tâm là trái tim mạnh mẽ khẳng khái

    Đặt tên Chuyên Tâm có ý nghĩa gì:

    Chuyên là chuyên môn. Chuyên Tâm hàm nghĩa con người chú trọng vấn đề, tập trung trách nhiệm cụ thể

    Luận lá số tử vi 2021 – Lá số năm Mậu Tuất đầy đủ nhất cho 60 hoa giáp

    Đặt tên Công Tâm có ý nghĩa gì:

    Công là chung, Công Tâm chỉ con người có trách nhiệm khách quan với đời sống

    Đặt tên Cúc Tâm có ý nghĩa gì:

    Cúc là hoa cúc. Cúc Tâm là trái tim hoa cúc, chỉ vào sự tinh khiết dịu dàng

    Đặt tên Đắc Tâm có ý nghĩa gì:

    Đắc là được. Đắc Tâm là trái tim đạt được, ngụ ý con người trách nhiệm chu toàn

    Đặt tên Đan Tâm có ý nghĩa gì:

    Con là người có tấm lòng son sắt

    Đặt tên Đang Tâm có ý nghĩa gì:

    Đang là đương nhiên. Đang Tâm là trái tim dũng cảm đón nhận mọi thách thức

    Đặt tên Di Tâm có ý nghĩa gì:

    Tâm theo nghĩa tâm hồn. Ý chỉ con người luôn có tâm hồn vui vẻ, thoải mái.

    Đặt tên Dĩ Tâm có ý nghĩa gì:

    Dĩ là đương nhiên. Dĩ Tâm là con tim sẵn sàng, tốt đẹp

    Đặt tên Diên Tâm có ý nghĩa gì:

    Diên là dài lâu. Diên Tâm là tình cảm bền lâu

    Đặt tên Diệp Tâm có ý nghĩa gì:

    Theo nghĩa Hán – Việt, Diệp chính là lá trong Kim Chi Ngọc Diệp, ngụ ý muốn nói con nhà quyền quý sang giàu, dòng dõi danh giá. Tâm là tâm hồn, là tình cảm, là tinh thần, thường thể hiện mong muốn bình yên, hiền hòa, luôn hướng thiện, có phẩm chất tốt. Tên Diệp Tâm là mong muốn con có cuộc sống giàu sang phú quý và là người sống có tâm, luôn biết quan tâm chia sẻ với những người xung quanh mình.

    Đặt tên Diệu Tâm có ý nghĩa gì:

    Diệu là kỳ ảo, Diệu Tâm là con tim hiền lành thuần phác

    Đặt tên Đình Tâm có ý nghĩa gì:

    Đình là nơi quan viên làm việc. Đình Tâm là tâm điểm chốn quan viên, hàm nghĩa người có tài năng

    Đặt tên Du Tâm có ý nghĩa gì:

    Theo nghĩa Hán – Việt Tâm là tâm hồn, là tình cảm, là tinh thần. Tên Tâm thường thể hiện mong muốn bình yên, hiền hòa, luôn hướng thiện, có phẩm chất tốt.Dunghĩa là hay đi động, không ở chỗ nhất định,có thể đi ngao du đây đó, khám phá khắp nơi.Tâm Du mong muốn con có cuộc sống yên bình , hiền hòa, ít gặp sóng gió trong cuộc sống, và là người sống tình cảm thần tình với mọi người.

    Đặt tên Đức Tâm có ý nghĩa gì:

    Đức là đạo đức. Đức Tâm là trái tim đạo đức tốt đẹp

    Đặt tên Đức Tâm có ý nghĩa gì:

    Tâm là trái tim. Tâm Đức là người có tâm đạo đức chí thiện

    Đặt tên Duyên Tâm có ý nghĩa gì:

    Theo nghĩa Hán – Việt Tâm là tâm hồn, là tình cảm, là tinh thần. Tên Tâm thường thể hiện mong muốn bình yên, hiền hòa, luôn hướng thiện, có phẩm chất tốt.Duyên nghĩa là sự hài hoà của một số nét tế nhị đáng yêu tạo nên vẻ hấp dẫn tự nhiên của người con gái.Tâm Duyên mong muốn con xinh đẹp, dịu dàng có nhiều phẩm chất tốt đẹp lương thiện hiền hòa và có cuộc sống bình yên hạnh phúc.

    Đặt tên Giang Tâm có ý nghĩa gì:

    Theo nghĩa Hán – Việt, Tâm là trái tim, là trung tâm, là tấm lòng. Giang là dòng sông, thường chỉ những điều cao cả, lớn lao. Tên Tâm Giang mang ý nghĩa mong muốn dù cho cuộc đời có thăng trầm thế nào, con vẫn luôn giữ được trái tim lương thiện và sáng trong.

    Đặt tên Giao Tâm có ý nghĩa gì:

    Chữ Tâm theo nghĩa Hán-Việt có nghĩa là trái tim, không chỉ vậy, tâm còn là tâm hồn, là tình cảm, là tinh thần. Tên Tâm Giao thường thể hiện mong muốn bình yên, hiền hòa, luôn hướng thiện, có phẩm chất tốt. Tâm Giao cũng có ý nghĩa con là sự kết tinh giữa 2 tâm hồn đồng cảm, yêu thương, chia sẻ và thấu hiểu nhau của bố mẹ

    Đặt tên Hàm Tâm có ý nghĩa gì:

    Hàm là nắm chắc. Hàm Tâm là trái tim xúc cảm nghiêm túc

    Đặt tên Hằng Tâm có ý nghĩa gì:

    Hằng là luôn luôn. Hằng Tâm là con tim nhân hậu tốt đẹp

    Đặt tên Hành Tâm có ý nghĩa gì:

    Hành là di chuyển. Hành Tâm là con tim lay động, thể hiện con người cảm xúc

    Đặt tên Hạnh Tâm có ý nghĩa gì:

    Theo Hán – Việt, Hạnh thứ nhất, có nghĩa là may mắn, là phúc lộc, là phước lành. Nghĩa thứ hai là nói về mặt đạo đức, tính nết của con người. Tên Hạnh Tâm thường dùng cho nữ, chỉ người nết na, tâm tính hiền hòa, đôn hậu, phẩm chất cao đẹp.

    Đặt tên Hảo Tâm có ý nghĩa gì:

    Hảo là tốt. Hảo Tâm là tấm lòng tốt đẹp

    Đặt tên Hiền Tâm có ý nghĩa gì:

    Hiền là nhu hòa. Hiền Tâm là trái tim hiền hậu tình cảm

    Đặt tên Hiển Tâm có ý nghĩa gì:

    Hiển là thể hiện. Hiển Tâm là trái tim công minh rõ ràng

    Đặt tên Hiệp Tâm có ý nghĩa gì:

    Hiệp là hào hiệp, Hiệp Tâm chỉ con người có trái tim cao thượng hào hiệp

    Đặt tên Hiếu Tâm có ý nghĩa gì:

    Chữ hiếu theo tiếng hán – việt là nền tảng đạo đức, gắn liền với nhân cách làm người theo tư tưởng của người phương Đông. Hiếu thể hiện sự tôn kính, quý trọng, luôn biết ơn, ghi nhớ những bậc sinh thành, trưởng bối, có công ơn với mình. Hiếu Tâm có nghĩa là trái tim hiếu thảo. Đặt tên Hiếu Tâm là mong con sẽ có một tấm lòng hiếu thảo, hiếu trung, luôn khắc ghi, biết ơn các bậc sinh thành

    Đặt tên Hiểu Tâm có ý nghĩa gì:

    Hiểu là thấu đạt. Hiểu Tâm là trái tim thấu đạt lý lẽ, tình cảm

    Đặt tên Hoài Tâm có ý nghĩa gì:

    Hoài là nhung nhớ. Hoài Tâm là trái tim yêu thương nhung nhớ

    Đặt tên Hoàng Tâm có ý nghĩa gì:

    Hoàng là dòng tộc vua chúa. Hoàng Tâm là trái tim vua chúa, chỉ người cao quý đạo đức

    Đặt tên Hoành Tâm có ý nghĩa gì:

    Hoành là to lớn. Hoành Tâm là trái tim to lớn, thể hiện con người dũng mãnh kiên nghị

    Đặt tên Hoạt Tâm có ý nghĩa gì:

    Hoạt là sinh động. Hoạt Tâm là con tim nồng nhiệt sôi nổi

    Đặt tên Hương Tâm có ý nghĩa gì:

    Hương là mùi thơm. Hương Tâm là tâm điểm mùi thơ, chỉ con người trách nhiệm và tình cảm chan hòa sâu sắc

    Đặt tên Hướng Tâm có ý nghĩa gì:

    Hướng là chỉ về. Hướng Tâm là con tim có định hướng chắc chắn

    Đặt tên Hữu Tâm có ý nghĩa gì:

    Tâm là trái tim, cũng là tấm lòng. Bé sẽ là người có tấm lòng tốt đẹp, khoan dung độ lượng

    6 Công cụ Coi bói tình yêu – Bói tuổi vợ chồng có hợp nhau hay nhất?

    Đặt tên Huyên Tâm có ý nghĩa gì:

    Huyên là ấm áp. Huyên Tâm là tấm lòng ấm áp chia sẻ

    Đặt tên Huyền Tâm có ý nghĩa gì:

    Huyền là huyền bí. Huyền Tâm là tấm lòng chan hòa rộng mở

    Đặt tên Hy Tâm có ý nghĩa gì:

    Hy là sáng rỡ. Hy Tâm chỉ con người có hành động quang minh chính trực

    Đặt tên Hỷ Tâm có ý nghĩa gì:

    Hỷ là vui vẻ, tốt lành. Hỷ Tâm là con tim vui vẻ hạnh phúc

    Đặt tên Khải Tâm có ý nghĩa gì:

    Tâm hồn khai sáng. Con là người sáng suốt, quyết đoán

    Đặt tên Khang Tâm có ý nghĩa gì:

    Khang là mạnh khỏe. Khang Tâm chỉ con người trách nhiệm nghiêm túc

    Đặt tên Khánh Tâm có ý nghĩa gì:

    Khánh là tốt đẹp. Khánh Tâm là con tim tốt đẹp, nghiêm túc

    Đặt tên Kiên Tâm có ý nghĩa gì:

    Kiên là cứng rắn. Kiên Tâm là trái tim kiên định mạnh mẽ

    Đặt tên Kiện Tâm có ý nghĩa gì:

    Kiện là mạnh mẽ hơn. Kiện Tâm là trái tim mạnh mẽ hơn kẻ khác

    Đặt tên Kiều Tâm có ý nghĩa gì:

    Kiều là xinh đẹp. Kiều Tâm được hiểu là trái tim xinh đẹp, thuần hậu

    Đặt tên Kỳ Tâm có ý nghĩa gì:

    Kỳ là kỳ lạ. Kỳ Tâm là trái tim kỳ ảo, đồng nghĩa với người có tình cảm thấu đáo mọi việc

    Đặt tên Mẫn Tâm có ý nghĩa gì:

    Mẫn là nhạy bén. Mẫn Tâm là trái tim linh cảm tốt lành

    Mẫu là mẹ. Mẫu Tâm là trái tim người mẹ, yêu thương chăm sóc

    Đặt tên Minh Tâm có ý nghĩa gì:

    tâm hồn luôn trong sáng.

    Đặt tên My Tâm có ý nghĩa gì:

    My có nghĩa là xinh đẹp, đáng yêu. Tâm là tâm tính, bản chất bên trong, tâm hồn con người. Tâm My nghĩa là con có tâm hồn xinh đẹp

    Đặt tên Mỹ Tâm có ý nghĩa gì:

    Không chỉ xinh đẹp mà còn có một tấm lòng nhân ái bao la.

    Đặt tên Nam Tâm có ý nghĩa gì:

    Nam có ý nghĩa như kim nam châm trong la bàn, luôn luôn chỉ đúng về phía nam, nhằm mong muốn sự sáng suốt, có đường lối đúng đắn để trở thành một bậc nam nhi đúng nghĩa. Tên Nam Tâm được đặt với mong muốn con sẽ có một tấm lòng nhận hậu, bác ái, biết yêu thương và lắng nghe

    Đặt tên Ngạn Tâm có ý nghĩa gì:

    Tâm là trái tim. Tâm Ngạn là bến bờ trong tim, chỉ người con gái xinh đẹp thủy chung, sắc son kiên định

    Đặt tên Nguyên Tâm có ý nghĩa gì:

    Nguyên là toàn vẹn. Nguyên Tâm là trái tim nguyên vẹn, hàm ý con người có trách nhiệm cuộc đời

    Đặt tên Nguyệt Tâm có ý nghĩa gì:

    Theo nghĩa Hán Việt, nguyệt là vầng trăng, Trăng có vẻ đẹp vô cùng bình dị, một vẻ đẹp không cần trang sức, đẹp một cách vô tư, hồn nhiên. Trăng tượng trưng cho vẻ đẹp hồn nhiên nên trăng hoà vào thiên nhiên, hoà vào cây cỏ. Tên Nguyệt Tâm thể hiện một nét đẹp tâm hồn vô cùng sâu sắc, luôn hướng thiện, vô tư, lạc quan

    Đặt tên Nhân Tâm có ý nghĩa gì:

    Nhân Tâm là lòng người, chỉ con người có nhân cách tốt đẹp

    Đặt tên Nhẫn Tâm có ý nghĩa gì:

    Tâm hồn luôn biết nhẫn nại sống an nhiên không bon chen

    Đặt tên Nhi Tâm có ý nghĩa gì:

    Tâm nhi nghĩa là con hiền lành, tốt bụng, tấm lòng nhân ái biết yêu thương

    Đặt tên Nhiếp Tâm có ý nghĩa gì:

    Nhiếp là oai vệ. Nhiếp Tâm là trái tim mạnh mẽ

    Đặt tên Phương Tâm có ý nghĩa gì:

    tấm lòng đức hạnh

    Đặt tên Phượng Tâm có ý nghĩa gì:

    Tâm là trái tim. Tâm Phượng là người con gái có trái tim như phượng hoàng, tốt đẹp và kiêu hãnh

    Đặt tên Sách Tâm có ý nghĩa gì:

    Sách là sách lược. Sách Tâm là trái tim nhạy bén

    Đặt tên Thanh Tâm có ý nghĩa gì:

    Mong trái tim con luôn trong sáng

    Đặt tên Thiên Tâm có ý nghĩa gì:

    Thiên là trời. Thiên Tâm là trái tim lồng lộng to lớn

    Đặt tên Thiện Tâm có ý nghĩa gì:

    Dù cuộc đời có thế nào đi nữa, mong con hãy giữ một tấm lòng trong sáng

    Danh sách đơn vị cung cấp công cụ xem ngày chuẩn nhất

    Đặt tên Thục Tâm có ý nghĩa gì:

    Con có một trái tim dịu dàng, nhân hậu

    Đặt tên Thúy Tâm có ý nghĩa gì:

    Thúy là ngọc xanh biếc. Thúy Tâm chỉ vào con người có tấm lòng tốt đẹp

    Đặt tên Thủy Tâm có ý nghĩa gì:

    Thủy là khởi đầu. Thủy Tâm là trái tim chân thành vẹn vẻ

    Đặt tên Tố Tâm có ý nghĩa gì:

    người có tâm hồn đẹp, thanh cao.

    Đặt tên Tú Tâm có ý nghĩa gì:

    Ba mẹ mong con trở thành người có tấm lòng nhân hậu

    Đặt tên Uy Tâm có ý nghĩa gì:

    Chữ Tâm theo nghĩa Hán-Việt có nghĩa là trái tim, không chỉ vậy, tâm còn là tâm hồn, là tình cảm, là tinh thần. Uy là quyền uy, thể hiện sự to lớn, mạnh mẽ. Tên Tâm Uy thường thể hiện mong muốn con khỏe mạnh và bình yên, hiền hòa, luôn hướng thiện, có phẩm chất tốt

    Đặt tên Uyên Tâm có ý nghĩa gì:

    Uyên là sâu kín, Uyên Tâm ngụ ý con người kín đáo, nghiêm túc

    Đặt tên Uyển Tâm có ý nghĩa gì:

    Uyển là mềm mại. Uyển Tâm là tấm lòng bao dung dịu dàng

    Chữ Tâm theo nghĩa Hán-Việt có nghĩa là trái tim, không chỉ vậy, tâm còn là tâm hồn, là tình cảm, là tinh thần. Uyển ý chỉ sự nhẹ nhàng, khúc chiết uyển chuyển thể hiện sự thanh tao tinh tế của người con gái. Tên Tâm Uyển thường thể hiện mong muốn bình yên, hiền hòa, luôn hướng thiện, có phẩm chất tốt

    Đặt tên Xuân Tâm có ý nghĩa gì:

    Xuân là mùa xuân. Xuân Tâm là tấm lòng mùa xuân, thể hiện cái đẹp thiện lương

    Đặt tên Ý Tâm có ý nghĩa gì:

    Chữ Tâm theo nghĩa Hán-Việt có nghĩa là trái tim, không chỉ vậy, tâm còn là tâm hồn, là tình cảm, là tinh thần. Tên Tâm Ý thường thể hiện mong muốn bình yên, hiền hòa, luôn hướng thiện, có phẩm chất tốt

    Đặt tên Yên Tâm có ý nghĩa gì:

    Tâm là trái tim, tâm hồn. Tâm Yên con là người có trái tim nhân ái hiền hòa, là người luôn sống vì người khác và đời sống của con an nhà bình yên hạnh phúc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặt Tên Bé Gái Chữ “thy
  • Ý Nghĩa Tên Sơn Và Tên Đệm Đẹp Cho Bé Trai Tên Sơn
  • Xem Ý Nghĩa Tên Quý Là Gì
  • Tên Nguyễn Phú Thành Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Danh Sách Tổng Hợp Bộ Tên Đệm Chữ Phú Hay Và Có Ý Nghĩa Nhất
  • Ý Nghĩa Của Tên Nhã Uyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Con Nguyễn Nhã Uyên Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Đặt Tên Cho Con Vũ Bảo Oanh 45/100 Điểm Trung Bình
  • Đặt Tên Cho Con Lê Bảo Oanh 55/100 Điểm Trung Bình
  • Đặt Tên Cho Con Anh An Phong 37,5/100 Điểm Tạm Được
  • Đặt Tên Cho Con Lý An Phong 50/100 Điểm Trung Bình
  • Nhã Uyên (Tên xưng hô)

    Nhã Uyên là tên dành cho nữ. Nguồn gốc của tên này là Việt. Ở trang web của chúng tôi, 59 những người có tên Nhã Uyên đánh giá tên của họ với 4.5 sao (trên 5 sao). Vì vậy, họ dường như cảm thấy rất thỏa mãn. Người nước ngoài sẽ không cảm thấy đây là một cái tên quá khác lạ. Tên riêng của Nhã Uyên là My Mèo, Không và Nu Ngu.

    Có phải tên của bạn là Nhã Uyên? Xin hãy trả lời 5 câu hỏi về tên của bạn để bổ sung vào thông tin sơ lược này.

    Ý nghĩa của Nhã Uyên

    Nghĩa của Nhã Uyên là: “Nhã: thể hiện sự tao nhã

    Uyên: thể hiện sự uyên thâm về trí tuệ

    Đặt tên con gái là “NHÃ UYÊN” vừa thể hiện sự thanh nhã, lại sâu sắc đầy trí tuệ

    trí tuệ là sự mong muốn của bố mẹ vào con cái, tên uyên chính là thể hiện đều đó

    “.

    Đánh giá

    59 những người có tên Nhã Uyên bỏ phiếu cho tên của họ. Bạn cũng hãy bỏ phiếu cho tên của mình nào.

    Tên phù hợp

    Thể loại

    Nhã Uyên hiện trong những mục kế tiếp:

    ngoan ngoãn chăm ngoan dễ thương hiền lành

    uyên

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Con Nguyễn Nhật Anh Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Nhật Anh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Ngọc Anh Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý Nghĩa Của Tên Ngọc Anh
  • Tên Nguyễn Khiết An Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Ý Nghĩa Của Tên Phương Uyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Tên Nguyễn Xuân Trường Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Trần Xuân Trường Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Nguyễn Phương Uyên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Con Vũ Hải Đăng Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Vũ Hải Đăng Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Phương Uyên (Tên xưng hô)

    Phương Uyên là tên dành cho nữ. Nguồn gốc của tên này là Việt. Ở trang web của chúng tôi, 122 những người có tên Phương Uyên đánh giá tên của họ với 4.5 sao (trên 5 sao). Vì vậy, họ dường như cảm thấy rất thỏa mãn. Người nói tiếng Anh Anh có thể gặp rắc rối trong vấn đề phát âm tên này. Có một biệt danh cho tên Phương Uyên là “Pu”.

    Có phải tên của bạn là Phương Uyên? Xin hãy trả lời 5 câu hỏi về tên của bạn để bổ sung vào thông tin sơ lược này.

    Ý nghĩa của Phương Uyên

    Nghĩa của Phương Uyên là: “Phương là một tên đệm thường thấy. Ví dụ như Phương Hoa, Phương Mai… Phương thuộc bộ Thảo, có nghĩa là “mùi thơm, xinh đẹp hoặc cũng có nghĩa là phương hướng.

    Uyên là tên một loài chim có tiếng hót hay, ngoài ra cũng là một cái tên phổ biến của nữ giới.

    “.

    Đánh giá

    122 những người có tên Phương Uyên bỏ phiếu cho tên của họ. Bạn cũng hãy bỏ phiếu cho tên của mình nào.

    Tên cũng được

    Hay phết

    Ai đặt tên thế , hay quá

    ten minh dang yeu qua

    dep qua

    yeu ten minh ghe

    Dang Thi Phuong Uyen 43 tuoi 24-12-2014

    Ten toi hoi kho doc.

    Moi lan toi gioi thieu ten voi mot nguoi la,ho phai hoi lai it nhat la mot lan va toi luon phai phat am ra van cua ten minh de ho co the noi theo cho chinh xac.

    Va khi phat am duoc ten toi thi ca toi va ho luon phi cuoi vi cai ten phai “uon luoi “nhieu lan.

    Tôi thấy tự hào vì điều này. Dù người nước ngoài sẽ thấy khó khi đọc tên tôi, nhưng nếu họ cố gắng thì sẽ được thôi.

    Người nước ngoài học Tiếng Việt cũng sẽ khó như người Việt Nam chúng ta học tiếng quốc ngữ của nước họ thôi:)

    Nguyễn Phan Phương Uyên 5 tuoi 17-11-2015

    Nghĩa 1:

    Phương là phương hướng, Uyên là tên loài chim uyên ương đại diện cho tình yêu. Nghĩa là ”phương hướng, điểm hẹn của tình yêu.

    Nghĩa 2:

    Phương có thể là phương sâu thẳm, xa xôi, Uyên là uyên bác. Nghĩa là học vấn, kiến thức, đầu óc uyên thâm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tên Nguyễn Thảo Nguyên Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Đặt Tên Cho Con Nguyễn Thanh Phong 75/100 Điểm Tốt
  • Tên Con Nguyễn Thanh Phong Có Ý Nghĩa Là Gì
  • Tên Nguyễn Thanh Phong Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Tên Trần Thiên Phước Ý Nghĩa Gì, Tốt Hay Xấu?
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100