Top 14 # Ý Nghĩa Tên Tỉnh Thanh Hóa / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Uplusgold.com

Lịch Sử Thanh Hóa Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Thanh Hóa / 2023

Vào đầu thời đại đồng thau, ở đồng bằng Bắc Bộ, văn hoá Phùng Nguyên đã phân bố trên một vùng rộng lớn từ các tỉnh Vĩnh Yên, Phú Thọ, Hà Tây, Hải Phòng, Hà Giang, Bắc Ninh, Hà Nội. Ở Thanh Hoá, các bộ lạc nguyên thuỷ cũng có mặt trên địa bàn rất rộng: từ miền núi đến đồng bằng, ven biển.

Người thời đại đồng thau đã để lại dấu vết trong các hang động Thẩm Hai và Thẩm Tiên (thuộc huyện Thường Xuân). Trong tầng văn hoá dày từ 20 – 30cm, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều rìu, đục bằng đá được mài nhẵn. Đồ gốm thu được ở đây không nhiều nhưng đã thể hiện trình độ chế tác rất độc đáo: gốm thường có miệng loe dày, vai xuôi, có loại có chân đế. Hoa văn trang trí rất đa dạng nhưng chủ yếu bằng kĩ thuật khắc vạch với những đường song song hoặc cắt nhau chạy thành từng băng quanh thân. Trong tầng văn hoá cũng tìm thấy cả vỏ ốc suối. Với sự phát triển của kĩ thuật chế tác đồ gốm, lại cư trú trên địa bàn xung quanh các thung lũng bằng phẳng, những cư dân thuộc nhóm di tích Thường Xuân đã là những người làm nông nghiệp.

Trong khi các bộ lạc miền núi Thường Xuân sản xuất nông nghiệp và phát triển nghề làm gốm, thì ở vùng biển, một nhóm các bộ lạc khác đã biết đến kim loại. Di chỉ tiêu biểu là Hoa Lộc (xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc) đã được khai quật lớn vào năm 1974 và 1975. Vì vậy nền văn hoá khảo cổ ở đây được đặt tên là văn hoá Hoa Lộc. Cư dân văn hoá Hoa Lộc sống gần bờ biển. Tại các di chỉ thuộc văn hoá này đã phát hiện được nhiều chì lưới bên cạnh xương răng các loài cá biển, cá nước ngọt, chứng tỏ đánh cá là một nghề quan trọng của họ. Cũng tìm thấy ở đây xương răng các loài động vật đã được thuần dưỡng như trâu, bò, chó, lợn, và thú rừng như hươu, nai, hoẵng, lợn rừng, tê giác v.v… Rõ ràng chủ nhân văn hoá Hoa Lộc còn là những người chăn nuôi và săn bắn giỏi. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc đã có một nền nông nghiệp dùng cuốc phát triển.

Tại di chỉ Hoa Lộc (hay còn gọi là Cồn sau chợ), đã tìm thấy số lượng rất lớn cuốc đá có vai hoặc hình tứ giác (61 chiếc). Ở di chỉ Phú Lộc (còn có tên là Cồn Nghè) tìm thấy tới 80 cái. Rìu và bôn có vai được mài nhẵn toàn thân, có hình dáng cân đối, cũng là loại nông cụ được tìm thấy khá nhiều ở văn hoá Hoa Lộc. Nhưng rõ ràng nhất là tại di tích Bái Cù, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều vết tích của vỏ trấu. Đây là trấu của giống lúa nước.

Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc là những người làm gốm giỏi, đồ gốm của họ rất độc đáo cả về hình dáng lẫn hoa văn trang trí. Họ đã tạo được những cái bình có vai gãy, miệng gâp vào trong. Có cả loại có miệng hình nhiều cạnh mà các nơi khác rất hiếm gặp. Hoa văn trên đồ gốm Hoa Lộc cũng rất đẹp và phong phú: người ta đã thống kê được 18 đồ án hoa văn khác nhau trên đồ gốm Hoa Lộc, trong đó, đặc trưng và độc đáo nhất là hoa văn hình bọ gậy được tạo bằng cách ẩn miệng vỏ sò biển lên thân gốm khi còn ướt.

Một đặc điểm quan trọng khác của văn hoá Hoa Lộc là sự xuất hiện rất nhiều những con dấu bằng đất nung. Các con dấu này có hình chữ nhật hoặc gần tròn, thường được người thợ gốm khắc những chữ “S” hoặc những hoa văn nối tiếp nhau với nét khắc rất sâu. Các nhà nghiên cứu cho rằng, công dụng của những con dấu này có lẽ được dùng để in hoa văn lên vải hơn là để tạo hoa văn trên đồ gốm. Cũng tại Hoa Lộc, còn tìm thấy những hộp đất nung hình chữ nhật, có hai ngăn, mà công dụng cho đến ngày nay vẫn còn tranh cãi. Điều quan trọng là đã phát hiện được dấu vết của đồng trong văn hoá Hoa Lộc, đó có thể là những mẩu dây hoặc dùi đồng đã bị rỉ nát. Trong tương quan với các nền văn hoá cùng thời, các nhà nghiên cứu nhận thấy đã xuất hiện sự giao lưu giữa các bộ lạc văn hoá Hoa Lộc với chủ nhân các nền văn hoá khác. Ở phía Bắc, hoa văn in mép vỏ sò đặc trưng của văn hoá Hoa Lộc đã tìm thấy ở Sập Việt, Bản Gièm (Sơn La). Nhiều mảnh gốm kiểu Hoa Lộc được tìm thấy ở Gò Mả Đống (Ba Vì – Hà Nội), núi Lê (Ninh Bình), đồi Ghệ, đồi Giạ (Vĩnh Phú cũ). Ở phía Nam, phong cách trang trí và đồ án hoa văn hình chữ S in bằng miệng vỏ sò đã thấy xuất hiện ở Pò Cung (Quỳ Hợp – Nghệ An).

Căn cứ vào những thành tựu trong kĩ thuật chế tác các loại công cụ, trong các ngành kinh tế sản xuất và sự phân bố các di chỉ trên một vùng rộng lớn, có thể nhận thấy rằng mật độ cư dân trong văn hoá Hoa Lộc đã khá cao. Chủ nhân văn hoá Hoa Lộc hẳn đã có cuộc sống tinh thần khá phong phú: chỉ có những bộ óc phóng khoáng với những bàn tay khéo léo mới có thể tạo nên những kiểu dáng và hoa văn trên đồ gốm phong phú đến vậy. Sự phát triển mạnh mẽ của nghề đánh cá biển và kĩ thuật chế tác kim loại ra đời có thể đã góp phần quan trọng xác lập chế độ công xã thị tộc phụ quyền trong đời sống xã hội văn hoá Hoa Lộc.

Ở vùng đồng bằng sông Mã: Khi các bộ lạc ở miền núi, miền biển Thanh Hoá bước vào thời đại đồng thau cách đây khoảng 4.000 năm thì vùng đồng bằng ven đôi bờ sông Mã, cư dân các bộ lạc ở di chỉ Cồn Chân Tiên cũng bước vào sơ kì thời đại đồng thau. Cùng thời với di chỉ này, ven đôi bờ sông Mã còn phát hiện được các di chỉ núi Chàn (ở sườn tây núi Đọ), khe Tiên Nông (sườn Tây Bắc núi Nuông). Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ này đã được nhiều nhà nghiên cứu xác định là giai đoạn sớm nhất của thời đại đồng thau ven sông Mã, là cốt lõi mở đầu trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang.

Những công cụ bằng đá ở Cồn Chân Tiên cho thấy cư dân giai đoạn này đã đạt tới trình độ kĩ thuật chế tác đá rất cao. Họ sử dụng đá bazan khai thác ở núi Đọ. Họ sử dụng kĩ thuật ghè để tạo phác vật, sau đó ghè tu chỉnh và tiến hành mài đá. Họ đã dùng hai loại bàn mài để mài phá và mài trau (loại đá có kết cấu hạt to dùng mài phá, loại mài trau có kết cấu hạt mịn). Bàn mài của họ đôi khi được dùng cả bốn mặt, có loại có rãnh chắc được dùng để mài đồ trang sức. Rìu đá ở Cồn Chân Tiên chủ yếu là rìu lưỡi cân, cạnh đó còn có loại lưỡi mài vát một bên có tiết diện hình chữ V lệch (thường được gọi là bôn). Đặc biệt ở đây đã tìm thấy những chiếc rìu và bôn có hình dáng nhỏ nhắn và rất xinh bằng đá ngọc, lưỡi rất sắc bén. Cũng tìm thấy nhiều vòng trang sức bằng đá, cư dân Cồn Chân Tiên chế tác công cụ ngay tại nơi cư trú.

Di chỉ Cồn Chân Tiên có tầng văn hoá tương đối dày, chứng tỏ con người đã định cư ở đây khá lâu dài. Đồng bằng ven sông Mã là địa bàn khai thác nghề trồng lúa nước của họ. Địa bàn cư trú ấy với điều kiện trình độ chế tác công cụ phát triển đã đưa sản xuất nông nghiệp lên vị trí hàng đầu trong nền kinh tế của cư dân Cồn Chân Tiên. Cũng như cư dân văn hoá Phùng Nguyên, Hoa Lộc, các bộ lạc nguyên thuỷ đôi bờ sông Mã đang dần dần chuyển sang chế độ công xã thị tộc phụ quyền và điều quan trọng hơn cả, khi đối chiếu, so sánh với kết quả nghiên cứu các giai đoạn phát triển sau này ở các di chỉ khảo cổ học khu vực đồng bằng sông Mã, sông Chu, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng cư dân các bộ lạc Cồn Chân Tiên là nhóm đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành bộ Cửu Chân trong nước Văn Lang của các vua Hùng.

Di chỉ khảo cổ học Đông Khối thuộc làng Đông Khối, xã Đông Cương (Đông Sơn), được khai quật năm 1960. Gần đây, nhờ kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ khảo cổ thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, các nhà nghiên cứu đã xác định Đông Khối là di chỉ tiêu biểu cho giai đoạn phát triển tiếp theo giai đoạn Cồn Chân Tiên ở lưu vực sông Mã, có niên đại trung kì thời đại đồng thau tương đương với giai đoạn Đồng Đậu ở đồng bằng Bắc Bộ. Thuộc giai đoạn này còn có di chỉ Bái Man, lớp dưới di chỉ Cồn Cấu (xã Đông Lĩnh) và lớp dưới di chỉ Đồng Ngầm (xã Đông Tiến) huyện Đông Sơn.

Điểm đáng chú ý đầu tiên là kĩ thuật chế tác công cụ đá của cư dân các bộ lạc giai đoạn này đã không chỉ kế thừa trực tiếp kĩ thuật của cư dân Cồn Chân Tiên, mà họ còn đưa nghề chế tác đá phát triển thành kĩ nghệ, đạt tới đỉnh điểm trong thời tiền sử và sơ sử xứ Thanh. Tại di chỉ Đông Khối, ngày nay vẫn còn rất nhiều những phác vật, phế vật, mảnh tước v.v…, có chỗ chất đầy, ken dày trên những bờ ruộng, cánh đồng sát chân núi Voi, rộng hàng chục héc ta. Điều này cho thấy hẳn xưa kia, khoảng 3.000 năm trước đây, Đông Khối là một trung tâm chế tác công cụ đá rất phong phú và nhộn nhịp. Trong bộ sưu tập công cụ bằng đá ở Đông Khối, rìu và bôn tứ giác có tiết diện hình chữ nhật hoặc vuông chiếm ưu thế tuyệt đối. Hình dáng của chúng khá phong phú: rìu có loại hình thang vuông, hình chữ nhật; bôn cũng có hai loại: loại lưỡi mỏng (chỉ độ 1 cm) và loại lưỡi rất dày, có mặt cắt hình gần vuông, vì vậy có người gọi là búa rìu (loại này chiếm tỉ lệ 22 – 33% ở các di chỉ).

Nghiên cứu những dấu vết vật chất và bộ di vật, các nhà khảo cổ học cho rằng cư dân các bộ lạc thuộc giai đoạn Đông Khối có trình độ phát triển tương đương giai đoạn Đồng Đậu ở lưu vực sông Hồng. Nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của người Đông Khối đã có bước phát triển mới: bên cạnh việc trồng trọt các loại cây cho củ, quả, lúa đã được trồng nhiều hơn, đặc biệt là lúa nếp. Tại Đồng Ngầm, Bái Man đã phát hiện được nhiều mẫu trấu của lúa dạng hạt tròn. Sự phát triển mạnh mẽ của các nghề thủ công làm gốm, chế tác công cụ đá, những dấu tích của lúa, gạo v.v… cho thấy người Đông Khối đã đạt tới trình độ khá cao trong đời sống kinh tế, xã hội.

Năm 111 TCN, nhà Hán chinh phục Nam Việt và chia thành 9 quận, trong đó nước Âu Lạc cũ trở thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân, vùng đất Thanh Hóa nằm gọn trong quận Cửu Chân.

Trải qua hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc, qua các triều đại Hán – Tam Quốc, Lưỡng Tấn – Tiền Tống – Tề – Lương – Tùy – Đường, địa danh của miền đất này cũng bao lần thay đổi theo sự thăng trầm của lịch sử. Cùng với số phận chung của cả nước, nhân dân Cửu Chân chịu cảnh sống lầm than cơ cực dưới ách đô hộ của ngoại bang.

Các dấu vết của người nguyên thuỷ – người vượn sớm nhất ở Việt Nam, lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1960 tại núi Ðọ, Thanh Hoá. Do đặc trưng điển hình của hệ thống di tích này, các nhà khảo cổ học cho rằng đã tồn tại một nền văn hoá sơ kì thời đại đồ đá cũ: Văn hoá núi Ðọ. Văn hoá núi Ðọ bao gồm một hệ thống các di tích sơ kì thời đại đồ đá cũ được phát hiện ở Thanh Hoá: Núi Ðọ, núi Nuông, Quan Yên I, núi Nổ.

Nằm trong địa phận hai xã Thiệu Tân và Thiệu Khánh huyện Thiệu Hoá (nay thuộc thành phố Thanh Hóa). Ðây là một hòn núi cao 160m, nằm bên hữu ngạn sông Chu. Người vượn nguyên thuỷ đã sinh sống ở đây, ghè vỡ đá núi để chế tác công cụ. Những công cụ bằng đá mang dấu ấn chế tác bởi bàn tay của họ như mảnh tước, hạch đá, rìu tay… đã được phát hiện ở núi Ðọ khá nhiều. Ngày nay, trên sườn núi Ðọ, hàng vạn mảnh tước (mảnh ghè khi người nguyên thuỷ chế tác công cụ) vẫn còn nằm rải rác, nhất là sườn phía Ðông và phía Tây Nam.

Trên núi Quan Yên, tại địa điểm Quan Yên I (bên sườn Ðông – Ðông Nam), thuộc xã Ðịnh Công, huyện Yên Ðịnh, năm 1978 các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện được những vết tích của con người sơ kì thời đại đồ đá cũ. So với núi Ðọ, núi Nuông, mật độ và số lượng hiện vật thu được có ít hơn, nhưng kĩ thuật chế tác các loại hình công cụ ở đây cao hơn, gọi là kĩ thuật của loài vượn sơ kì thời đại đồ đá cũ, đồng thời đây cũng là một loại hình di chỉ – xưởng. Căn cứ vào trình độ kĩ thuật chế tác công cụ, địa hình cư trú và dựa vào những thành tựu mới nhất của các ngành khoa học, các nhà khoa học cho rằng, người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ là những người vượn đứng thẳng phát triển. Họ sống thành từng bầy, có thủ lĩnh bầy, mỗi bầy bao gồm từ 5-7 gia đình, có khoảng 20 – 30 người. Họ kiếm thức ăn chủ yếu bằng phương thức săn bắn và hái lượm theo bầy đàn người vượn và phân phối sản phẩm công bằng. Ðời sống tinh thần của họ đã khá phong phú: ngoài thì giờ kiếm ăn, có thể họ đã có những trò giải trí trong lúc rỗi rãi.

Tại Thanh Hoá, các bộ lạc chủ nhân văn hoá Sơn Vi, theo tình hình hiểu biết hiện nay đã sinh sống trên địa bàn rộng lớn ở vùng núi phía Tây và Tây Bắc của tỉnh. Dấu vết của họ đã được tìm thấy ở các huyện Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Hà Trung, Bá Thước và nhất là cụm di tích ở xã Hạ Trung (Bá Thước).

– Hang Con Moong: Ðáng chú ý nhất là hang Con Moong – một di tích nằm trong khu vực Vườn Quốc gia Cúc Phương – thuộc xã Thành Yên, huyện Thạch Thành. Di tích này được khai quật năm 1976. Tại đây, người vượn nguyên thuỷ Thanh Hoá đã sinh sống từ hậu kì thời đại đồ đá cũ đến thời đại đồ đá mới. Tầng văn hoá ở Con Moong dầy tới 3,5m với sự tiếp diễn liên tục, không hề có sự ngắt quãng. Tại lớp văn hoá sớm nhất (dưới cùng) ở Con Moong (đã được xác định niên đại bằng phương pháp cacbon phóng xạ C14 cách ngày nay hơn 12.000 năm) các nhà khảo cổ học đã thu được nhiều hiện vật. Ðó là những công cụ bằng đá có hình múi cam, công cụ có rìa lưỡi một đầu, công cụ 1/4 viên cuội, được tạo bằng thủ pháp đập vỡ cuội. Ðó là những chày nghiền, bàn nghiền – những hòn đá không có dấu vết chế tác, chỉ có dấu vết sử dụng bởi một mặt lõm xuống hình lòng máng, được dùng để chà vỏ, nghiền thức ăn thực vật; là những công cụ bằng xương có hình mũi nhọn được chế tạo từ những đoạn xương ống của các loài thú lớn. Xương, răng động vật cũng phát hiện được khá nhiều, gồm xương cốt các loài lửng, tê giác, voi, hươu, nai, hoẵng, baba, rùa vàng… Cũng giống như ở mái đá Ðiều, tầng văn hoá ở Con Moong chứa khá nhiều vỏ trai, ốc núi, ốc suối. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã tìm thấy dấu vết của bếp lửa có hình gần tròn, đường kính tới 4m, bên cạnh mùn thực vật và hạt trám. Trong lớp văn hoá Sơn Vi ở Con Moong, đã phát hiện được 3 mộ táng gồm 5 cá thể (có 2 mộ song táng) đã xác định được 1 nam, 1 nữ (khoảng 50 – 60 tuổi), hai trẻ em và 1 người không xác định được giới tính. Tất cả các hài cốt được chôn theo tư thế nằm nghiêng co bó gối, được bôi thổ hoàng, có một mộ chôn theo công cụ nạo. Như vậy, vào hậu kỳ thời đại đồ đá cũ, cùng với văn hoá Sơn Vi ở phía Bắc, chủ nhân của văn hoá Sơn Vi Thanh Hoá đã cư trú trên một vùng rộng lớn phía Bắc, Tây bắc của tỉnh và tương đối tập trung. Theo những phát hiện mới nhất của khảo cổ học, vùng Bá Thước, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành trong hậu kì thời đại đồ đá cũ có thể được coi là trung tâm của xứ Thanh ngày nay. Trong thời đại đồ đá cũ, cư dân nguyên thuỷ đã sinh sống trên địa bàn Thanh Hoá. Trong hàng chục vạn năm ấy, do điều kiện địa lí, do quá trình kiến tạo địa chất, nhiều đợt biển tiến, biển lùi đã đẩy người vượn nguyên thuỷ văn hoá núi Ðọ tiến lên chiếm lĩnh vùng phía Tây – Tây bắc, những chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá đã cùng các bộ lạc khác trên đất nước Việt Nam, trong quá trình đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để sinh tồn, đã tạo nên một nền văn hoá mới, làm phong phú thêm thời đại đồ đá mới ở Việt Nam. Ðó là quá trình phát triển của xã hội người nguyên thuỷ trên đất Thanh Hoá.

Nối tiếp văn hoá Sơn Vi là văn hoá Hoà Bình (lấy tên tỉnh Hoà Bình – nơi phát hiện những di tích đầu tiên của nền văn hoá này). Về niên đại, văn hoá Hoà Bình cách ngày nay 11.000 năm; trên đất Thanh Hoá, trung tâm dân cư lúc này vẫn tập trung ở địa bàn vùng núi phía Tây, thuộc các huyện Cẩm Thuỷ, Bá Thước, Thạch Thành, Ngọc Lặc… Họ thường sống trong các hang động, các núi đá vôi rộng, thoáng đãng và gần sông, suối lớn. Các nhà khảo cổ học đã xác định họ chính là hậu duệ trực tiếp của chủ nhân văn hoá Sơn Vi ở Thanh Hoá và chính họ – cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá, đã tiếp tục phát triển, làm nên văn hoá Bắc Sơn sau này.

– Hang Con Moong (xã Thành Yên – huyện Thạch Thành): Ðây là một hang rộng, nền hang cao hơn 40m so với chân núi hiện tại và rộng hơn 300 m2. Người nguyên thuỷ cư trú trên khoảng diện tích 100 m2 tại cửa hướng Tây Nam, liên tục từ thời văn hoá Sơn Vi đến văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn. Các nhà khảo cổ đã thu được rất nhiều hiện vật nằm lẫn trong đống vỏ nhuyễn thể và mùn thực vật mà người nguyên thuỷ đã thải ra trong quá trình sinh hoạt. Về công cụ bằng đá: cư dân văn hoá Hoà Bình ở Con Moong vẫn giữ truyền thống văn hoá Sơn Vi: dùng đá cuội để chế tác công cụ, nhưng kỹ thuật chế tác công cụ của họ rất phát triển, kể cả loại hình lẫn phương pháp chế tác. Công cụ kiểu Xumatơra(3) (Sumatralithe) có hình bầu dục hay hình hạnh nhân, lưỡi được tạo xung quanh rìa hòn cuội bằng cả thủ pháp ghè tỉa, để có độ sắc bén hơn; có chức năng sử dụng rất đa dạng: có thể dùng cắt, chặt, nạo….từ thịt, xương thú đến tre, nứa, gỗ. Rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn trong bộ sưu tập công cụ của họ ở Thanh Hoá; người ta thường chặt cuội hoặc chặt đôi những công cụ hình bầu dục để tạo rìu ngắn; chức năng của rìu ngắn cũng rất đa dạng. Rìu dài hình hạnh nhân hay hình bầu dục của cư dân văn hoá Hoà Bình có nhiều khả năng được sử dụng như những chiếc cuốc đá. Mảnh tước ở Con Moong có số lượng không nhiều, nhưng phần lớn đã được gia công để tạo thành công cụ nạo, dao đá, với rìa đá rất sắc. Chày nghiền, bàn nghiền cũng là những công cụ được tìm thấy khá nhiều. Chủ nhân Con Moong cũng chế tác và sử dụng công cụ bằng xương thú với kỹ thuật chọn nguyên liệu và chế tác phát triển khá cao: người ta chỉ lựa chọn xương ống của động vật có vú – loại xương có cấu tạo sợi nhiều hơn cấu tạo xốp – để chế tác công cụ và đã mài nhẵn đầu. Thức ăn rất phong phú, đa dạng: trong tầng văn hoá, các nhà khảo cổ học đã thu được 83 2 vỏ nhuyễn thể như trùng trục, trai, ốc… và các loại xương thú rất phong phú. Chôn người chết theo tư thế nằm nghiêng chân co như cư dân văn hoá Sơn Vi giai đoạn trước, nhưng họ đã chèn đá hộc, rải đá dăm quanh mộ để bảo vệ và đều chôn theo công cụ.

– Di chỉ mái đá Ðiều và các di chỉ khác: Cũng như ở Con Moong, mái đá Ðiều là một di chỉ chứa đựng nhiều lớp văn hoá thuộc các thời đại đồ đá khác nhau. Niên đại lớp văn hóa Hoà Bình của Mái đá Ðiều là 8.200 ± 70 năm, cách ngày nay. Các nhà khảo cổ học đã thu được rất nhiều công cụ bằng đá đặc trưng kiểu Hoà Bình. Ðáng chú ý là rìu ngắn chiếm tỉ lệ rất lớn. Chày nghiền, bàn nghiền cũng chiếm tỉ lệ đáng kể. Riêng công cụ bằng mảnh tước, ở một số địa điểm đã xuất hiện kĩ thuật mài đá. Ở các di chỉ mái đá Bát Mọt, hang Mộc Trạch, hang To đã tìm được nhiều mảnh vỏ trai xà cừ lớn mà công dụng có thể được chủ nhân văn hoá Hoà Bình sử dụng như những lưỡi dao, nạo để vót tre nứa và nạo thịt thú. Một đặc điểm chung nữa là tại các di chỉ văn hoá này, tầng văn hoá đều rất dày, chứng tỏ sự cư trú lâu dài của con người như Con Moong: 3,5m, mái đá Ðiều: gần 4m, mái đá Làng Bon: 3,7m, hang Ðiền Hạ III: 3,8m, mái đá chòm Ðồng Ðông: 3,5m; chứa đựng một khối lượng vỏ nhuyễn thể rất lớn lẫn trong lớp đất màu nâu hoặc đen chứa mùn thực vật. Cư trú trong các hang động, mái đá tương đối cao, có nơi rất cao (như Con Moong), cư dân Hoà Bình ở Thanh Hoá chắc rằng, ngoài những công cụ bằng đá, đã sử dụng một số lượng không ít các công cụ và đồ dùng được chế tác từ các loại cây cối, nhất là tre, nứa, song, mây… Ðể đựng các loại nhuyễn thể lượm nhặt từ sông, suối đem về nơi cư trú. Các nhà khảo học đã phát hiện được nhiều mộ táng của người Hoà Bình ở Thanh Hoá. Ðã tìm thấy ở hang Lộc Thịnh, mái đá Làng Bon, mái đá làng chòm Ðồng Ðông… các di cốt, xương, răng bị vỡ, mủn. Ðáng chú ý nhất là các di tích Con Moong (2 mộ), mái đá Ðiều (13 mộ), mái đá Mộc Long (5 mộ), hang Chùa (3 mộ). Phần lớn những mộ này còn nguyên vẹn và cho thấy tư thế chôn nằm nghiêng co bó gối, bôi thổ hoàng, kè đá giữa mộ và chôn theo hiện vật làm đồ tuỳ táng, là cách thức mai táng phổ biến trong tập tục của người Hoà Bình. Chủ nhân của văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã tiến tới tổ chức công xã thị tộc mẫu hệ. Các công xã thị tộc thường cư trú trong một vùng đất nhất định. Trong mỗi hang động là một thị tộc cư trú bao gồm nhiều gia đình nhỏ với vợ chồng, con cái. Dấu tích bếp lửa ở giai đoạn được tìm thấy có quy mô nhỏ hơn giai đoạn trước và số lượng cũng tăng hơn. Kinh tế hái lượm ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong đời sống, bởi vậy, vai trò và vị trí của người phụ nữ ngày càng được nâng cao. Với môi trường sinh sống gần sông, suối, khai thác thức ăn đa nguồn, định cư lâu dài, cư dân văn hoá Hoà Bình ở Thanh Hoá đã chuyển từ cuộc sống hái lượm – săn bắt sang thu hoạch định kỳ theo mùa. Ðó là mầm mống sơ khai của nền kinh tế sản xuất nông nghiệp: người ta bắt đầu chăm sóc và trồng trọt một số loài cây có củ, quả như rau, đậu, bầu bí… và thuần dưỡng chó. Những quan niệm tôn giáo sơ khai, mầm nghệ thuật – sự tìm kiếm cái đẹp cũng nảy sinh trong quá trình lao động kiếm sống và vui chơi giải trí. Ðó là những thành quả sáng tạo trong đời sống kinh tế, xã hội của cư dân văn hoá Hoà Bình xứ Thanh và với thành quả ấy, họ đã thực sự góp phần vào cách mạng đá mới. Sau hơn 70 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Hoà Bình ở Việt Nam cũng như ở Thanh Hoá đã cho thấy một cái nhìn tổng quan về lịch sử Thanh Hoá thời đại đồ đá mới: đó là sự phát triển liên tục, nội tại từ cư dân văn hoá núi Ðọ đến Sơn Vi và văn hoá Hoà Bình.

Tại Thanh Hoá, dấu vết văn hoá Bắc Sơn đã được phát hiện trong các lớp văn hoá muộn của các di chỉ mái đá Thạch Sơn, mái đá chòm Ðồng Ðông, hang Lộc Thịnh, mái đá Ðiều, hang Mỹ Tế, mái đá làng Bon, làng Ðiền Hạ III… và đặc biệt rõ ở hang Con Moong- thuộc lớp trên cùng, có niên đại khoảng 7.000 năm cách ngày nay. Chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá cũng như ở nơi khác, đã đưa kỹ thuật chế tác công cụ bằng đá đến trình độ cao: họ đã biết và phổ biến kỹ thuật mài đá. Ðã tìm thấy trong các di chỉ Bắc Sơn ở Thanh Hoá những bàn mài bằng sa thạch bên cạnh rất nhiều chày nghiền, bàn nghiền. Những chiếc rìu mài lưỡi Bắc Sơn ra đời đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nghề nông đã thai nghén từ văn hoá Hoà Bình. Nhưng thành tựu kĩ thuật lớn nhất của cư dân văn hoá Bắc Sơn là phát minh ra đồ gốm. Mặc dù còn rất thô sơ về chất liệu, hình dáng, hoa văn, độ nung còn thấp, nhưng cũng đã tạo cho nền kinh tế sản xuất sơ khai của chủ nhân văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá phát triển hơn hẳn nền kinh tế sản xuất nông nghiệp của văn hoá Hòa Bình. Tuy nhiên kinh tế sản xuất chưa thể chiếm vai trò chủ đạo trong đời sống của người Bắc Sơn. Hái lượm và săn bắn vẫn đóng vai trò chính trong đời sống của họ: trong các hang động nơi họ cư trú, tầng văn hoá vẫn chất đầy vỏ nhuyễn thể và xương cốt động vật (lớp văn hoá Bắc Sơn ở Con Moong – lớp trên cùng- có độ dày từ mặt đất từ 0,2m – 1,2m, đã thu được tới 60m 3 vỏ nhuyễn thể). Xã hội người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ở Thanh Hoá đã phát triển chế độ thị tộc mẫu hệ.

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế sản xuất, người nguyên thuỷ văn hoá Bắc Sơn ngày càng lệ thuộc vào thành quả của hoạt động hái lượm và chăm sóc cây trồng. Ðó là những công việc chủ yếu do phụ nữ đảm nhận và ngày càng nắm vị trí chủ đạo trong kinh tế; vai trò người phụ nữ trong gia đình và xã hội ngày càng được đề cao.

Vào hậu kì thời đại đồ đá mới, cách ngày nay khoảng 6.000 – 7.000 năm, sau nhiều đợt biển tiến, biển lùi, sang kỷ Hôlôxen, đồng bằng sông Mã đã hình thành tương đối ổn định với tài nguyên phong phú, đầy hấp dẫn, đã lôi cuốn chủ nhân văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn ở vùng núi rời khỏi các hang động – nơi cư trú hàng ngàn năm, tiến xuống khai phá miền đồng bằng trước chân núi. Nền nông nghiệp trồng lúa nước ra đời. Cùng với dân cư văn hoá Hạ Long ở phía Bắc, văn hoá Quỳnh Văn ở phía Nam, người nguyên thuỷ ở Thanh Hoá làm nên một nền văn hoá Ða Bút độc đáo, làm phong phú thêm diện mạo văn hoá của các bộ lạc nguyên thuỷ sinh sống trên toàn cõi Bắc Việt Nam.

Văn hoá Ða Bút: Theo hiểu biết hiện nay, văn hoá Ða Bút gồm hệ thống các di chỉ Ða Bút (xã Vĩnh Tân), Bản Thuỷ (xã Vĩnh Thịnh), làng Còng (xã Vĩnh Hưng) thuộc huyện Vĩnh Lộc, cồn Cổ Ngựa (xã Hà Lĩnh, huyện Hà Trung) và gò Trũng (xã Phú Lộc, huyện Hậu Lộc). Khai quật và nghiên cứu hệ thống di chỉ này, các nhà khảo cổ học đã chứng minh rằng chủ nhân của văn hoá Ða Bút theo quá trình lùi dần của biển, ngày càng chiếm lĩnh vùng đồng bằng ven biển Thanh Hoá. Kết quả khai quật và nghiên cứu các di chỉ văn hoá Ða Bút cho thấy cư dân nguyên thuỷ giai đoạn này đã bước vào thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ phát triển. Nhờ nông nghiệp lúa nước được đẩy mạnh, đời sống đã ổn định, dân số tăng nhanh, đồng thời các nghề thủ công phục vụ sản xuất nông nghiệp và đánh cá được mở rộng.

Năm 156, Chu Ðạt, người huyện Cự Phong (nay là thôn Phú Hào, xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn) chiêu mộ dân binh vây đánh huyện sở Cự Phong (vùng đất các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Tĩnh Gia và Như Xuân, Như Thanh ngày nay) giết chết huyện lệnh rồi tiến công Tư Phố, giết chết thái thú nhà Ðông Hán, lực lượng có đến 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm từ năm 156 đến năm 160.

Từ năm 220, Cửu Chân thuộc quyền cai trị của Ðông Ngô (một trong 3 nước thời Tam Quốc), trong xứ không kể Nghệ An, Hà Tĩnh, có chừng 3 vạn hộ. Bà Triệu tức Triệu Thị Trinh, người Quân Yên (huyện Yên Ðịnh), 20 tuổi; lập căn cứ ở Núi Nưa (Triệu Sơn), hội quân với 3 anh em họ Lý ở Bồ Ðiền (tức Phú Ðiền, huyện Hậu Lộc) cùng tiến đánh quận sở Tư Phố đại thắng. Hầu hết các huyện lỵ, thành ấp ở Cửu Chân, Cửu Ðức, Nhật Nam (2 quận nay là vùng Nghệ Tĩnh – Quảng Bình) bị nghĩa quân đánh hạ, các thái thú, huyện lệnh và huyện trưởng bị giết… nền đô hộ của nhà Hán ở Giao Châu hơn 330 năm bị lật đổ.

Mùa xuân 542, Lý Bí – mẹ đẻ là người Cửu Chân, khởi nghĩa thắng lợi, lập ra nước Vạn Xuân xưng là Lý Nam Ðế. Nhà Lương đàn áp, Lý Thiên Bảo là anh ruột Lý Bí rút về Dã Năng (huyện Bá Thước ngày nay) xưng là Ðào Lang Vương tiếp tục kháng chiến. Sau đó Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay tức là Hậu Lý Nam Ðế. Năm 556, Lý Phật Tử đánh nhau với Triệu Việt Vương – Triệu Quang Phục – người tiếm ngôi của Lý Bí và là người đánh bại quân đội nhà Lương ở đầm Dạ Trạch (tỉnh Hưng Yên ngày nay).

Lê Ngọc (còn gọi là Lê Cốc) cùng với 4 người con lật đổ quan cai trị của nhà Tuỳ (Trung Quốc) đóng ở Ðông Phố (tức Ðồng Pho, xã Ðông Hoà, huyện Ðông Sơn ngày nay), gọi là kinh đô Trường Xuân, tự quản Cửu Chân chống lại nhà Ðường cho đến đầu thế kỷ VI. Ðến thế kỷ VII, Cửu Chân gồm 6 huyện có 16.100 hộ (quận Giao Chỉ có 30.000 hộ) khoảng 84.000 nhân khẩu, thuộc xứ An Nam (tên An Nam thay cho Giao Châu bắt đầu từ đây). Quận sở là Ðông Phố (tức là Ðồng Pho). Năm 759, quân Mã Lai cướp phá Châu Ái (tên gọi Cửu Chân từ năm 523) bị quan cai trị là Trương Bá Nghi tiêu diệt. Năm 797, quân Mã Lai lại cướp phá Châu Ái nữa, xây cả thành, lập nước, nhưng bị quan cai trị là Trương Châu đánh đuổi, san phẳng thành trì thu hồi mọi của cải. Thế kỷ IX, Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo đã rất phát đạt ở Châu Ái. Ðạo Nho có anh em Khương Công Phụ, đỗ Tiến sỹ làm quan đến Tể tướng triều đình nhà Ðường, đạo Lão biến các hang động đẹp nhất ở khắp Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn làm nơi tu tiên và đạo Phật có các Ðại hoà thượng như Trí Hành và Ðại Thăng Ðăng sang tận Trung Quốc để hành đạo.

Dương Ðình Nghệ, chính khách quan trọng nhất thế kỷ X của lịch sử Việt Nam, thu hút hơn 3.000 người làm vây cánh ở làng Giàng, Tư Phố (nay là đất các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, thành phố Thanh Hóa), trong đó có Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Phạm Cự Lạng… Tháng 3 năm 931, Dương Ðình Nghệ đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán (Trung Quốc), tiêu diệt viện binh Nam Hán, tự lập làm tiết độ sứ, chấm dứt vĩnh viễn nền đô hộ hơn 1.000 năm của người Trung Quốc ở Việt Nam. Từ Dương Ðình Nghệ, Việt Nam xác định lại được quốc thống của một đất nước độc lập hoàn toàn.

Mùa đông năm 938, Ngô Quyền đem quân đội Cửu Chân tiến ra Bắc tiêu diệt Kiều Công Tiễn – kẻ phản bội họ Dương ở Ðại La (Hà Nội ngày nay), rồi cản phá quân Nam Hán là Lưu Hoàng Thao trên sông Bạch Ðằng, lên ngôi vua tức Ngô Vương Quyền. Thời 12 sứ quân, Cửu Chân nằm trong vòng kiểm soát của Ðinh Bộ Lĩnh ở miền Ðông và của Ngô Xương Xí – cháu nội Ngô Quyền, ở Bình Kiều (đất vùng Triệu Sơn ngày nay) tức miền Tây lãnh thổ.

Năm 979 – 980, Lê Hoàn trấn áp xong quân chống đối của Nguyễn Bặc và Ðinh Ðiền ở vùng sông Tống (vùng đất huyện Hà Trung ngày nay) lên ngôi vua. Năm 981, ông đánh tan quân xâm lược nhà Tống, và năm 982 đánh thắng quân Chiêm Thành. Năm 982, nhà vua cho nạo vét các sông ngòi, đào kênh nối liền hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng cho đến vùng đất tỉnh Nghệ An ngày nay, thành một đường giao thông thuận tiện đầu tiên ở Cửu Chân và ở cả đất nước Ðại Cồ Việt. Người chỉ huy đào các kênh này là Ðào Lang, làng Bùi Ðỉnh (xã Yên Trung huyện Yên Ðịnh ngày nay). Từ năm 999 đến năm 1005, các vua thời Tiền Lê phải trực tiếp điều quân bình định miền viễn Tây Thanh Hoá nhưng chưa ổn.

Từ đầu triều đại nhà Lý 1009 đến 1028, lúc đầu Lý Thái tổ đặt tên gọi Trại Ái Châu. Đến năm 1029, dưới triều vua Lý Thái Tông, năm Thiên Thành thứ hai đặt tên Phủ Thanh Hóa. Từ đó các triều đại tiếp theo lúc gọi phủ, lúc gọi lộ, lúc gọi trấn và gọi là tỉnh Thanh Hóa vào thời nhà Nguyễn.

Tên Hóa có lúc lại đổi thành Hoa, rồi lại trở lại Hóa; đến đời vua Thiệu Trị, triều đại nhà Nguyễn (1841), nhà vua có một chỉ dụ đại ý nói: Thanh Hóa là một tên cổ, do các triều đại trước đã định danh, vì vậy không có lý do gì đổi tên này, mà phải giữ nguyên tên gọi tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 12/7/2017, tại kỳ họp thứ ba, HĐND tỉnh khóa XVII đã quyết nghị lấy năm 1029 là năm ra đời Danh xưng Thanh Hóa với tư cách đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Sự kiện lịch sử này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo sự phấn khởi, lan tỏa trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân các dân tộc trong tỉnh.

Tháng giêng năm Thiệu Long thứ 15 nhà Trần (năm 1272), Lê Văn Hưu, người làng Bồi Lý (xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá ngày nay) dòng dõi Lê Lương, soạn xong Ðại Việt sử ký toàn thư – bộ sử hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta.

Lê Văn Hưu được tôn là ông tổ ngành sử học của Việt Nam. Ðầu năm 1285, kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, ở Thanh Hoá, quân đội nhà Trần do Trần Kiên, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ huy chống giữ cầm chân giặc, ở các điểm Yên Duyên (xã Quảng Hùng), núi Ðá Chẹt (Quảng Lĩnh), Văn Trinh (Quảng Hợp), Bố Vệ (thành phố Thanh Hoá), Phú Tân (Hà Toại), Nga Lĩnh, Quang Lộc, Liên Lộc, chiến sự rất dữ dội. Sau khi tướng Nguyên: Toa Ðô tiến được ra sông Hồng thì Hưng Ðạo Vương lại đem 2 vua Trần rút vào Thanh Hoá (ở các vùng Nga Sơn, Hà Trung, Thạch Thành ngày nay) để bảo toàn đầu não. Ðến tháng 5 năm 1285, từ Thanh Hoá, Hưng Ðạo Vương tiến quân ra Bắc quét sạch quân Nguyên Mông khỏi bờ cõi Ðại Việt. Năm 1370, dòng họ Lê ở Ðại Lại (Ðò Lèn, Hà Ngọc huyện Hà Trung) do Lê Liêm dẫn đầu hội quân Thanh Hoá tiến ra Thăng Long phế bỏ người tiếm ngôi Dương Nhật Lễ, lập lại nhà Trần bằng vua Trần Phủ – tức Trần Nghệ Tôn – nhà Trần từ đây thiên vào Thanh Hoá. Năm 1378, quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hoá bị quan quân nhà Trần trấn giữ đánh bại. Năm 1380, quân Chiêm Thành do đích thân vua Chế Bồng Nga chỉ huy lại vào cướp Thanh Hoá bị Hồ Quý Ly đánh bại ở cửa sông Ngu (tức Lạch Trường, Hoằng Trường ngày nay). Năm 1382, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, bị Nguyễn Ða Phương đánh bại ở cửa Thần Ðầu (tức Thần Phù, huyện Nga Sơn ngày nay). Năm 1389, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, Hồ Quý Ly chống không nổi phải bỏ chạy. Quân Chiêm Thành tiến ra Bắc. Năm 1390, tướng chỉ huy nhà Trần ở Thanh Hoá là Trần Khát Chân cản phá được quân Chiêm Thành, giết chết Chế Bồng Nga, chấm dứt vĩnh viễn sự quấy rối của các vua Chiêm Thành.

Mùa xuân năm 1397, xây dựng xong thành đá Tây Giai ở động Thiên Tôn (nay là đất xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc). Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên ngôi vua ở thành này, thay nhà Trần, đổi tên nước là Ðại Ngu (nghĩa là rất an vui và cùng lo việc nước), bỏ kinh đô Thăng Long, lấy thành đá mới làm quốc đô gọi là Tây Ðô. Nhà Hồ phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng đúc từ năm 1396, đến năm 1400 định lại giá kim ngạch cho thêm chặt chẽ. Năm 1402, nhà Hồ hoàn thành việc xây dựng con đường Thiên Lý từ Tây Ðô ra Ðông Quan (tức Thăng Long cũ) và từ Tây Ðô vào Hoá Châu (vùng Quảng Bình ngày nay) dọc đường đặt nhà trạm, phố xá và bưu dịch có hệ thống. Sau một năm chiến đấu ngoan cường nhưng thất bại, năm 1407, nhà Hồ và nước Ðại Ngu mất vào tay quân xâm lược nhà Minh.

Mùa xuân, tháng Giêng ngày mồng 2 năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng với những người tài giỏi trong cả nước khởi nghĩa ở Mường Chính (nay là huyện lỵ Lang Chánh) tiến về Khả Lam (tức Lam Sơn) bắt đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc) giải phóng đất nước. Lê Lợi xưng là Bình Ðịnh Vương, người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân). Bình Ðịnh Vương chiến đấu ở Thanh Hoá 6 năm, các trận đánh lớn diễn ra ở Lam Sơn, Mường Một (vùng Bát Mọt, huyện Thường Xuân ngày nay), Mường Chính, Bến Bổng (vùng thượng du sông Âm), Ba Lẫm (vùng Chiềng Lẫm, huyện Bá Thước ngày nay), Kình Lộng (vùng Cổ Lũng, huyện Bá Thước), Úng Ải (vùng đèo Thiết Ống, huyện Bá Thước), Sách Khôi (ở khoảng giữa huyện Bá Thước và huyện Hoàng Long – Ninh Bình và huyện Thạch Thành – Thanh Hoá), Ða Căng (vùng Thọ Nguyên, Thọ Xuân), có trận phía địch có tới 10 vạn quân như ở Kình Lộng. Mùa đông năm 1424, Bình Ðịnh Vương tiến quân vào Nghệ An theo kế sách của Nguyễn Chích. Mùa thu năm 1426, quân khởi nghĩa tiến ra Bắc bao vây Ðông Quan. Ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ (1426), Bình Ðịnh Vương đến Lỗi Giang (vùng đất các huyện Thạch Thành, Vĩnh Lộc ngày nay) chỉ huy bao vây Tây Ðô. Cuối năm 1426, Bình Ðịnh Vương ra Bắc chỉ huy giải phóng các miền đất Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay), và vây hãm thành Ðông Quan. Ngày 22 tháng 01 năm Ðinh Mùi (1427), giặc Minh đầu hàng. Mùa xuân năm sau – giặc rút về, đất nước sạch bóng quân thù, thành Tây Ðô lại về Ðại Việt. Ngày 15 tháng giêng năm Mậu Thân (1428), Bình Ðịnh Vương lên ngôi hoàng đế nước Ðại Việt, thủ đô là Ðông Kinh (tức Ðông Quan, thủ đô Hà Nội ngày nay). Cả nước chia làm 3 đạo hành chính lớn, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây trong số các trấn ven biển Tây Ðô.

Tháng 11 – Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ về bái yết Sơn Lăng, Lam Sơn, sau 10 năm chiến đấu giành độc lập cho đất nước thắng lợi. Mùa Hè năm Canh Tuất (1430) đổi Tây Ðô làm Tây Kinh và Ðông Ðô (Hà Nội) làm Ðông Kinh. Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Thái Tổ mất, một tháng sau đem về an táng ở Lam Sơn, gọi nơi an táng là Vĩnh Lăng. Tháng 12 năm Quí Sửu (1433) xây dựng điện Lam Sơn (gọi là Lam Kinh). Ngày 7 tháng 01 Giáp Dần (1434), điện Lam Kinh bị cháy (cháy lần thứ nhất). Tháng 9 Mậu Thìn (1448): xây dựng lại Lam Kinh do Thái uý Trịnh Khả chỉ huy. Từ Mậu Ngọ (1438) đến Mậu Tý (1468), 3 lần khơi đào các kênh trong xứ Thanh Hoá. Năm Bính Tý, tháng 4 (1516), Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực, lập vua Lê Chiêu Tông rước về Tây Kinh.

Họ Mạc cướp ngôi vua Lê ở Thăng Long. Quan Ðiện tiền tướng quân là Nguyễn Kim – người Hà Trung lập căn cứ ở Thanh Hoá chống lại họ Mạc. Năm 1533 (Quí Tỵ), ông này đưa được Lê Ninh (con vua Chiêu Tông) lên ngôi tức Lê Trang Tông đánh chiếm Tây Kinh (1545) thắng lợi. Ðến năm 1545 (Ất Tỵ), Nguyễn Kim mất, con rể là Trịnh Kiểm lên thay, đánh nhau nhiều trận lớn với họ Mạc ở Thanh Hoá, 17 lần quân Mạc đều thua.

Từ năm 1533 đến 1592, triều đình nhà Lê ở Thanh Hoá, quản lý đất nước từ Thanh Hoá trở vào, đóng đô ở Yên Trường (nay thuộc Yên Ðịnh) mở nhiều khoa thi, chọn người hiền tài tham gia chính quyền. Năm 1593, Trịnh Tùng – con trai Trịnh Kiểm, kế tục cha tiêu diệt họ Mạc, đưa vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long, lập phủ chúa, Ðàng Ngoài do vua Lê – Chúa Trịnh trị vì từ năm 1599. Trong thời đó, năm 1588, Nguyễn Hoàng (con trai của Nguyễn Kim) vào trấn thủ xứ Thuận Hoá, mở đầu sự nghiệp các Chúa Nguyễn ở Ðàng trong. Năm 1738, Lê Duy Mật (con vua Lê Dụ Tông Duy Ðường) khởi nghĩa chống Chúa Trịnh, địa bàn hoạt động rộng khắp Tây Nam, Tây, Tây Bắc Thanh Hoá và vùng Tây Bắc lẫn Tây Bắc Bộ. Năm 1770, Duy Mật bị con rể phản bội phải thua và tự sát với vợ con, chấm dứt 32 năm chiến đấu. Từ năm 1557 đến 1786, Thanh Hoá bị 10 trận bão lụt lớn xen đại hạn, 15 lần đói to chết nhiều người và 16 cuộc chiến giữa quân Trịnh – Mạc, những tai hoạ ấy không hề có ở thời Lê sơ.

Những năm quân Tây Sơn tiến công ra Bắc, quân dân Thanh Hoá do Lê Trung Nghĩa (tức Quận Mãn) chỉ huy chống lại rất dữ dội, Lê Trung Nghĩa tử trận ở Tĩnh Gia.

Quân đội Tây Sơn phá huỷ hoàn toàn Lam Kinh và kinh đô An Trường biểu tượng của các vua Lê và còn phá huỷ nhiều chùa chiền miếu mạo khác. Năm 1790, con vua Quang Trung là Quang Bàn được cử ra trấn thủ Thanh Hoá. Năm 1792, ông tách ra 2 phủ Trường An và Thiên Quan của Thanh Hoa ngoại thành trấn Thanh Bình (tức Ninh Bình ngày nay).

Ðặc biệt, triều đình ra lệnh không được đào bới khai mỏ gì ở Thanh Hoá sợ rằng xúc phạm đến oai linh của xứ sở. Nhà Nguyễn xây lăng tổ khai sáng ở Triệu Tường (Hà Trung), thành Triệu Tường lớn thứ 2 sau thành Thanh Hoá, chu vi 182 trượng (1 trượng = 4m), xây dựng lại Lam Kinh để tỏ lòng kính ngưỡng nhà Lê, dựng đền thờ các vua Lê ở Kiều Ðại (TP Thanh Hoá), hằng năm cắt cử các quan lại thay mặt nhà vua cúng tế và tổ chức phòng thủ ở Thanh Hoá rất hùng mạnh gồm một hệ thống 11 đồn binh có quân chính qui trấn giữ 7 bảo súng (pháo đài), 1 đồn thuỷ với 44 khẩu đại bác (súng thần công) mỗi đợt tuyển quân lấy của Thanh Hoá hơn 7.000 người. Ngày 25/11/1885, quân xâm lược Pháp lần đầu tiên tiến công Thanh Hoá. Trước đó, ngày 5 tháng 7, Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi tuyên bố chọn Thanh Hoá làm thủ phủ kháng chiến, nên tinh thần Cần Vương của quân dân Thanh Hoá rất sôi sục. Vùng rừng núi Thanh Hoá được xây dựng những sơn phòng tích trữ tiền của, lương thảo để chuẩn bị đánh giặc. Ba tháng sau (12/3/1886), nghĩa quân Cần Vương đã tiến đánh quân Pháp đóng ở thành Thanh Hoá. Mùa hè năm 1886, nghĩa quân lập bộ chỉ huy kháng chiến toàn Thanh Hoá do Tống Duy Tân đứng đầu và lập chiến khu ở Ba Ðình (Nga Sơn). Từ 18/12/1887, chiến sự dữ dội nhất giữa quân Việt Nam và Pháp đã nổ ra ở Ba Ðình. Quân Pháp phải tập trung trên địa bàn một số xã ở đây lượng binh lính lớn nhất so với toàn quốc (6.000 người trong một trận) để chiến đấu và bị thiệt hại nặng nề. Cuối cùng vì không được tiếp ứng như kế hoạch dự kiến, nghĩa quân do Ðinh Công Tráng chỉ huy đã rút lui an toàn khỏi các chiến luỹ. Ngày nay quảng trường trọng đại nhất của đất nước mang tên chiến khu này, đó là quảng trường Ba Ðình lịch sử ở thủ đô Hà Nội. Các cuộc chiến đấu chống quân đội Pháp ở Thanh Hoá đến giữa năm 1895 mới chấm dứt cùng với hàng ước của nhà Nguyễn. Thanh Hoá và các tỉnh miền Trung Việt Nam vẫn nằm trong nền độc lập hạn chế của nhà Nguyễn không bị Pháp cai trị trực tiếp. Thực tế chính quyền thuộc địa Pháp chỉ cai quản địa phận thị xã Thanh Hoá được thành lập ngày 12/7/1899 ở khu đất phía Ðông thành Thanh Hoá mà thôi. Năm 1918, chế độ thi cử tuyển hiền tài, kiểu Nho giáo ở Thanh Hoá mới bãi bỏ. Thanh Hoá bắt đầu hình thành xã hội phong kiến nửa thuộc địa hiện đại hoá.

Các năm 1926 – 1927, các tổ chức cách mạng đầu tiên ở Thanh Hoá ra đời. Ngày 25/6/1930, chi bộ Ðảng Cộng sản đầu tiên thành lập ở làng Hàm Hạ (thuộc xã Ðông Tiến, huyện Ðông Sơn), và ngày 29/7/1930, đã thành lập Ðảng bộ tỉnh, Bí thư Tỉnh uỷ đầu tiên là đồng chí Lê Thế Long.

Tháng 9/1942, Tỉnh bộ Việt Minh Thanh Hoá thành lập. Ngày 24/7/1945, nhân dân huyện Hoằng Hoá giành chính quyền huyện thắng lợi. Ngày 19/8/1945, nhân dân thành phố Thanh Hoá và một số huyện tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi. 4 ngày sau, cách mạng thành công trên toàn tỉnh. Ngày 23/8/1945, chính quyền cách mạng tỉnh Thanh Hoá ra mắt đồng bào ở thị xã Thanh Hoá. Ngày 2/9/1945, Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Cùng với cả nước, lịch sử Thanh Hoá bước vào thời kỳ phát triển mới. Trong thời đại phong kiến, người dân Thanh Hoá đã ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam. Thanh Hoá là nơi phát tích của các vương triều: Tiền Lê, Hậu Lê, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, triều Nguyễn. Trong sự nghiệp cách mạng ngày nay, người dân xứ Thanh cũng góp phần xứng đáng đối với cả nước để xây dựng quê hương mình nhanh chóng trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh./.

Tìm Hiểu Vấn Đề ‘Danh Xưng Thanh Hóa’ (Kỳ I): Tên Gọi Tỉnh Thanh Hóa Qua Các Đời / 2023

– (VH&ĐS) Trong lịch sử đất nước ta, Thanh Hóa là tỉnh dân số đông nhất, cũng là tỉnh nhiều tên gọi nhất. Tên gọi đầu tiên tỉnh ta là bộ Cửu Chân. Các sử sách xưa đều chép: “Hùng Vương lập quốc chia nước làm 15 bộ”. Bộ thời ấy là một đơn vị hành chính thuộc Trung ương. Trong 15 bộ này có tên bộ Cửu Chân. Đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi soạn sách Dư địa chí cũng ghi 15 bộ như vậy nhưng Nguyễn Thiên Túng chú giải không khỏi bị lúng túng và hai bộ Bình Văn, Cửu Đức không rõ ở đâu? Thời cận đại, một số học giả tỏ ý nghi ngờ tên 15 bộ không có cơ sở chắc chắn. Riêng tên bộ Cửu Chân, chúng ta tin hoàn toàn chính xác là vùng đất Thanh Hóa.

Năm 257 trước Công nguyên, An Dương vương đánh thắng vua Hùng thứ 18, sáp nhập hai nước Âu Việt và Lạc Việt thành quốc gia Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa. Không có tài liệu nào nói An Dương vương sắp đặt lại các bộ. Chỉ biết nước Âu Lạc tồn tại được 79 năm, năm 179 TCN bị Triệu Đà xâm lược, bỏ đơn vị “bộ” lập đơn vị quận và 15 bộ chỉ còn hai quận: Giao Chỉ gồm 14 bộ (vùng đất Bắc bộ), Cửu Chân vẫn là Cửu Chân tức Thanh Hóa. 68 năm sau, Triệu Đà lại đem hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân dâng vua nhà Hán. Sự kiện này được Sử ký của Tư Mã Thiên, một bộ cổ sử lớn rất nổi tiếng của Trung Quốc đã chép. Tổng số dân 2 quận thời Hán theo tài liệu điều tra hộ khẩu bấy giờ.

Quận Giao Chỉ: 746.237 người. Quận Cửu Chân: 166. 013 người. Tổng cộng: 912. 250 người.

Số liệu trên chỉ có giá trị tương đối, được các sách Tiền Hán thư, Giao Châu ngoại vực ký, Giao Châu ký… ghi chép, chắc còn xa với sự thật. Nhà Hán không điều chỉnh gì về cương vực các quận sao? Thực tế không khác biệt nhiều so với trước: Quận Giao Chỉ bao gồm 14 bộ (tương đương Bắc bộ) và một phần nam Quảng Đông và Quảng Tây. Khoảng đất này bị Trung Quốc lấn chiếm trong quá trình chiến tranh xâm lược của phương Bắc. Quận Cửu Chân chủ yếu là lãnh thổ Thanh Hóa cộng thêm Bắc Nghệ An, sau này nhà Ngô cắt ra lập thêm quận Cửu Đức. So sánh lãnh địa hai quận Cửu Chân, Giao Chỉ chúng ta thấy nói lên điều gì, nếu không phải vị trí Cửu Chân có vai trò đặc biệt trong đất nước Âu Lạc? (chính quyền đô hộ đã đổi đặt thành Châu Giao – Giao Châu).

Năm 40 sau CN, Hai Bà Trưng khởi nghĩa tại Hát Môn (ngoại thành Hà Nội). Hai Bà bước lên đàn thề tuyên bố mục đích khởi nghĩa được sử ca Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ XVII) diễn lại bằng văn vần: Một xin rửa sạch nước thù/ Hai xin đem lại nghiệp xưa vua Hùng…

Cuộc khởi nghĩa thắng lợi. Hai Bà lên ngôi vua để tiếp tục xây dựng đất nước của Hùng Vương trở nên hùng mạnh, nhưng tiếc rằng thời gian tồn tại quá ngắn, chỉ có ba năm! Ba năm “thoáng chốc” đã trôi qua, chắc Hai Bà chưa khôi phục lại được hệ thống chính quyền cũ, càng không thể kiến lập nên thể chế mới. Nếu đơn vị hành chính cấp “bộ” mỗi “bộ” chỉ là một bộ lạc, quận Cửu Chân bấy giờ trên cơ sở lãnh địa vàsố dân lớn, quá lớn so với 14 bộ lạc khác cũng chỉ được họp thành một quận Giao Chỉ. Điều này tồn tại suốt nghìn năm chiến tranh xâm lược, đô hộ của Trung Quốc và đấu tranh giành quyền độc lập tự chủ của dân tộc Việt. Tuy nhiên, Trung Quốc, bản thân nó là đế quốc bá quyền, bành trướng, tự xâu xé, giành giật, tiêu diệt lẫn nhau, và không ngừng thôn tính các nước lân bang để mở rộng đất đai. Do đó, tên gọi Cửu Chân cũng không được yên bình. Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán Triều Nguyễn) quyển tỉnh Thanh Hóa, mục “Dựng đặt và diên cách” viết: Thanh Hóa xưa là bộ Cửu Chân, (…) đời Triệu (Triệu Đà) là quận Cửu Chân; đời Hán vẫn giữ tên quận như cũ (…); đời Đông Ngô năm Nguyên Hưng thứ 1, chia quận Cửu Chân, đặt thêm quận Cửu Đức; đời Tấn, đời Tống cũng theo như thế. Vũ đế nhà Lương (502 – 507) lấy quận Cửu Chân làm Châu Ái (tên Ái Châu bắt đầu từ đây). Đầu đời Tùy (590 – 618) bỏ quận Cửu Chân, chỉ gọi là Châu Ái, sau lại đổi Châu Ái làm quận Cửu Chân; đời Đường (618 – 907) gọi là Châu Ái.

Từ sau đời Đường, nước ta đấu tranh giành quyền độc lập, tự chủ, các đời Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ, Ngô Quyền cho đến nhà Đinh, nhà Tiền Lê vẫn gọi là Châu Ái theo như trước.

Đời Lý năm Thuận Thiên thứ I (1010) đổi Châu Ái làm trại tức “trại Ái Châu”, sau đổi làm phủ Thanh Hóa (tên Thanh Hóa bắt đầu từ đây). Đời Trần năm Thiên Ứng Chính bình thứ 11 (1258) đổi làm lộ Thanh Hóa; năm Nguyên Phong thứ 3 (1260) lại đổi làm trại; khoảng đời Thiệu Phong lại gọi là lộ, lãnh 3 phủ Thanh Hóa, Cửu Chân và Ái Châu, sau gọi là trấn. Năm Quang Thái thứ 10 đời Trần Thuận tông (1389) đổi làm trấn Thanh đô; Hồ Quý Ly cướp ngôi đổi làm phủ Thiên xương, phủ này cùng Cửu Chân, Ái Châu làm “tam phụ” gọi là Tây đô.

Thời thuộc Minh (1407 – 1427) phủ Thiên Xương (có cả Cửu Chân, Ái Châu!) đổi làm phủ Thanh Hóa. Trong phủ Thanh Hóa này có 4 châu Cửu Chân, Ái Châu, Thanh Hóa, Quỳ Châu và 11 huyện.

Đời Lê, năm Thuận Thiên thứ 1 (1428) Thanh Hóa thuộc đạo Hải Tây; năm Quang Thuận thứ 7, đặt Thanh Hóa làm thừa tuyên… năm thứ 10 đổi làm Thanh Hoa thừa tuyên (1469) (tên gọi Thanh Hoa bắt đầu từ đây).

Năm Gia Long thứ 1 (1802) gọi là trấn Thanh Hoa. Năm Thiệu Trị thứ 1 (1841) (theo sử Cương mục Thiệu Trị thứ 3). Đổi gọi là tỉnh Thanh Hóa. Từ đó cho đến hiện nay vẫn giữ nguyên “tỉnh Thanh Hóa”. (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1970).

Vị trí các quận trực thuộc bộ Giao Chỉ/Giao Châu trên đất Lĩnh Nam, bao gồm: Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân

Điểm lại quá khứ lịch sử 4.000 năm, thiết chế hành chính chính trị đơn giản nhất thời Hùng Vương, phức tạp nhất thời Trung Quốc đô hộ. Đầu tiên, đời Hán vẫn giữ tên Cửu Chân chỉ thay chữ “bộ” thành chữ “quận” tức quận, huyện, khẳng định không phải giang sơn nước Việt mà là đất đai Trung Quốc. Đời Lương bỏ “quận Cửu Chân” đổi làm “Châu Ái”. “Châu” khác gì “quận”? Thời xưa ở Trung Quốc đơn vị Châu lớn hơn đơn vị quận. Chữ “quận”, nguyên từ đời Tần Thủy Hoàng bỏ chế độ chư hầu thay bằng “quận huyện”, chính quyền thống nhất do Trung ương(Thiên tử) nắm giữ. Riêng đời nhà Tùy chỉ tồn tại 28 năm, quanh đi quẩn lại hai địa danh Cửu Chân, Ái Châu, lúc gọi “quận Cửu Chân”, khi đổi làm “Châu Ái” không rõ ý tứ của các ông thiên tử Văn đế, Dạng đế, Cung đế thế nào?

Đời Lý nước ta bỏ cả châu, quận để khôi phục nền độc lập, tự chủ của quốc gia Đại Việt, thay châu Ái làm “phủ Thanh Hóa”, tuy nhiên trong phủ Thanh Hóa các tên quận Cửu Chân, châu Ái Châu không mất mà lui xuống cấp dưới của phủ. Nhà Minh đô hộ nước ta, vẫn dùng phủ Thanh Hóa và đặt cả các châu Cửu Chân, châu Ái Châu, châu Thanh Hóa… đều thống thuộc phủ Thanh Hóa. Như vậy, làm cho vấn đề càng thêm phức tạp chính là nhà Minh mặc dù cai trị nước ta chỉ có 20 năm!

Riêng đời Lê và đời Nguyễn, chữ Thanh Hóa với ThanhHoa, cũng gây phiền phức cho người nói và viết mặc dù trường hợp nào cũngcó lý do chính đáng.

Chúng ta bắt đầu tìm nghĩa từ chữ “Cửu Chân” là gì? Chưa có tài liệu nào giải thích. Nó là từ nôm, là tiếng Việt phiên âm từ Hán đọc theo âm tiếng Việt hay chính nó là chữ Hán dịch từ tiếng của dân tộc thời Hùng Vương? Không ai có thể biết chắc người Lạc Việt thời đó ngôn ngữ thế nào, cũng không có sách vở người Việt ghi chép. Chữ viết của dân tộc ta thời Hùng Vương là vấn đề hiện nay đang còn phải bàn thảo và có lẽ khó hy vọng lời giải đáp cuối cùng. Thời Tam Quốc ba nước tranh hùng:Ngụy, Thục, Ngô, chia ba thiên hạ, Ngô Tôn Quyền cai trị quận Cửu Chân, cắt phần đất phía nam đặt thêm quận Cửu Đức. Chữ Cửu Đức là Hán tự, chúng ta ngờ chữ Cửu Chân cũng là Hán tự chăng?

Chữ ” Ái Châu” thì châu là châu, quận, một khu vực hành chính thời xưa, còn “ái” có nghĩa thương yêu, Ái Châu là châu đáng yêu. Có lẽ vì thế chữ “Ái” được dùng khá nhiều qua các triều đại thời phong kiến Trung Quốc đô hộ. Những triều đại độc lập tựchủ: Tiền Lý (544 – 603), Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý Thái tổ cũng dùng chữ “Ái Châu” để đặt cho khu vực hành chính thời Hùng Vương là bộ Cửu Chân, tức Thanh Hóa. Nhưng chữ “Châu” đó không có nghĩa là châu, quận của Trung Quốc. Nó hàm nghĩa một vùng đất tốt đẹp trực thuộc Trung ương. Đời sau “Châu” chẳng những thấp hơn quận mà còn kém hơn cả huyện (tất nhiên mặt chữ Hán viết không giống nhau). Ví dụ. Đời Hậu Lê, Thanh Hóa (Thanh Hoa) có những 4 phủ, 16 huyện, và 4 châu: Quan Da, Lang Chánh, Tàm Châu và Sầm Châu (sau không có Sầm Châu, thay vào Quỳ Châu, rồi Quỳ Châu lại chuyển về Nghệ An). Trước Lê Thái tổ, quân Minh cai trị nước ta, gọi tỉnh ta là phủ Thanh Hóa, dưới phủ Thanh Hóa lại có cả Châu Cửu Chân, châu ThanhHóa, châu Ái Châu và châu Quỳ Châu của Nghệ An. Như vậy, những chữ “Cửu Chân, Ái Châu, trải qua các đời, giá trị hơn kém, địa vị cao thấp không do tự thân chúng quyết định mà bởi nhà cầm quyền tùy ý “đặt đâu ngồi đó”! Những đơn vị hành chính cũng không trước, sau như một, các bộ, quận, châu, lộ, phủ, trấn, thừa tuyên, đạo, trại… cứ thay đi đổi lại, bỏ lại lấy, lấy lại bỏ, đưa lên trên, đặt xuống dưới, lúc bậc trên, khi bậc dưới, có nghĩa hoặc tối nghĩa… cứ “tít mù quanh lại vòng quanh” như đèn cù, khác nào một “trò chơi chữ” của hệ thống đơn vị hành chính thời phong kiến.

Tài liệu sách vở xưa không ít. Tác giả người Trung Quốc viết nhiều về Việt Nam, nhưng chẳng phải điều gì cũng chính xác. Nước ta dẫu bị hạn chế văn tự, ấn loát, lại vô cùng phong phú kho tàng truyền thuyết có giá trị lịch sử, từ Lý – Trần nở rộ trước tác, bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu được xem là “sử mẹ” của các sách sử, kể cả hai bộ quốc sử lớn như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử thông giám cương mục: Ngoài ra, tỉnh Thanh Hóa chúng ta nói riêng, khắp nơi đều có những khu rừng bia đá… Tuy nhiên, rừng sách hay rừng bia cũng “rừng rậm lắm cây sâu” nhà khảo cứu thường khi phải đánh vật với câu chữ! Ví dụ một sự kiện xảy ra chưa xa, năm Thiệu Trị thứ I (1841) đổi gọi tỉnh Thanh Hoa làm Thanh Hóa, theo Đại Nam thống nhất chí, soạn đời Tự Đức, nhưng cũng đời Tự Đức, Việt sử thông giám cương mục lại chép vào thời điểm Thiệu Trị thứ 3 (1843). Cả hai bộ sách đều của Quốc sử quán triều Nguyễn! Chúng ta biết tin theo thời điểm nào, lấy gì làm sở cứ?

Muốn tìm hiểu “Danh xưng Thanh Hóa”, chúng ta phải đi vào những khu “rừng rậm” nói trên, dò dẫm, lần mò từng bước, không được lầm lẫn cây “núc nác” với cây “vàng tâm” và nhất định phải biết “lối ra”…

Hoàng Tuấn Phổ

Tự Hào Danh Xưng “Thanh Hóa” / 2023

Tự hào danh xưng “Thanh Hóa”

Trong lịch sử hình thành các đơn vị hành chính, Thanh Hóa luôn là một đơn vị hành chính độc lập, với những tên gọi: Bộ Cửu Chân, Quận Ái Châu, Trấn Thanh Đô, xứ Thanh Hoa và ngày nay là tỉnh Thanh Hóa… Đời Lý Thái tông niên hiệu Thiên Thành (1029) đã có công trong việc định ra danh xưng “Thanh Hóa”. Từ khi Thanh Hóa được chính thức định danh cho đến nay, gần 990 năm, trên vùng đất này, các thế hệ người Thanh Hóa đã đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng, bảo vệ quê hương, làm nên các giá trị vật chất, tinh thần đáng tự hào, tạo nền tảng để Thanh Hóa vững bước tiến vào tương lai.

Cầu Hàm Rồng, sông Mã.

Xứ Thanh từ thuở khai thiên lập địa, chưa có tên gọi thì đã có loài người sinh sống. Các nhà khoa học đã xác định Thanh Hóa là một trong những cái nôi của loài người. Trải qua hàng chục vạn năm tiến hóa và phát triển, những bầy người nguyên thủy từ nơi rừng sâu núi thẳm di cư dần về phía đồng bằng, hình thành các tộc người, các khu vực quần cư đông đúc. Cho đến khi xuất hiện Nhà nước đầu tiên do các Vua Hùng lập nên, địa giới được định hình, đất đai bắt đầu được đặt tên.

Thời kỳ Vua Hùng thành lập nước Văn Lang, chia địa giới hành chính thành 15 bộ; bộ Cửu Chân khi đó gồm địa phận tỉnh Thanh Hóa và một phần tỉnh Ninh Bình. Trong thời kỳ Bắc thuộc, năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 trước công nguyên) lập quận Cửu Chân, thuộc Giao Châu (là địa giới nước ta thời ấy). Quận Cửu Chân được thành lập là vùng đất bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và một phần Ninh Bình ngày nay. Năm Vũ Đức thứ 5 (622) thời Đường Cao Tổ, lập Ái Châu thuộc Giao Châu tổng quản phủ. Thời Hán Vũ Đế lập quận Cửu Chân, trụ sở đặt tại huyện Tư Phố (nay thuộc làng Giàng, xã Thiệu Dương, TP Thanh Hóa).

Thời nhà Đinh, chia cả nước ra làm 10 đạo, dưới đạo là châu, nhà Tiền Lê kế tiếp duy trì như nhà Đinh. Chưa thấy tài liệu nào ghi cụ thể 10 đạo thời Đinh, nhưng căn cứ vào những ghi chép thời ấy, trong 10 tên đạo có đạo Ái (Châu), có thể suy đoán tương đương với vùng đất Thanh Hóa bây giờ. Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại thời điểm điều chỉnh về hành chính của Vua Lê Đại Hành vào tháng 3 năm 1002: Ông đổi mười đạo, phủ, châu thời Đinh làm lộ, phủ, châu, trong đó có tên lộ Ái (Châu).

Đầu thời nhà Lý, chia cả nước ra thành 24 lộ (ngoài ra còn có phủ, châu) dưới Trung ương; sách Toàn thư ghi tên các lộ, phủ, châu trong đó có lộ Thanh Hóa. Tên gọi “Thanh Hóa” xuất hiện từ thời nhà Lý.

Nhà Trần chia các đơn vị hành chính dưới Trung ương là: Lộ, phủ, trấn. Trấn Thanh Đô, được cho là tương đương với vùng đất Thanh Hóa ngày nay, do vua Trần Thuận tông đặt tên vào năm 1397, gồm 3 châu và 7 huyện.

Thời Lê sơ, năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), vua Lê Thái tổ chia nước làm 5 đạo, Thanh Hóa thuộc Hải Tây đạo. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) vua Lê Thánh tông chia cả nước thành 12 đạo thừa tuyên, đổi trấn thành châu, đổi lộ thành phủ. Các đơn vị hành chính trực thuộc dưới cấp Trung ương (triều đình) là thừa tuyên rồi đổi thành xứ. Thừa tuyên Thanh Hóa tồn tại đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đổi là Thừa tuyên Thanh Hoa, từ đây tên gọi Thanh Hoa xuất hiện. Thời Hồng Thuận (Lê Tương Dực 1509 – 1516), Thừa Tuyên Thanh Hoa lại đổi là trấn Thanh Hoa. Thời Lê Trung hưng (1553 – 1788) gọi là nội trấn Thanh Hoa, sáp nhập thêm hai phủ Trường Yên và Thiên Quan của trấn Sơn Nam lệ vào trấn Thanh Hoa, gọi là ngoại trấn Thanh Hoa. Thời Tây Sơn lấy ngoại trấn Thanh Hoa lệ vào Bắc thành, tách khỏi nội trấn Thanh Hoa. Tên “trấn Thanh Hoa” được giữ cho đến năm 1831. Năm Minh Mệnh thứ 12 lấy nội trấn làm tỉnh Thanh Hoa và ngoại trấn làm tỉnh Ninh Bình, tên gọi “tỉnh Thanh Hoa” có từ đây. Năm Thiệu Trị thứ 3 (năm 1843) lại đổi tên Thanh Hoa thành Thanh Hóa.

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ta, địa dư của Thanh Hóa khá ổn định, hầu như không có sự sáp nhập hay chia tách lớn. Thanh Hóa tự hào là vùng đất phát tích, khởi nghiệp của nhiều triều đại quân chủ phong kiến; là đất “quý hương”, đất “thang mộc” của “Tam vua nhị chúa”; là địa bàn trọng yếu, “phên dậu”, “đất căn bản của nước Nam”. Thanh Hóa là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, có chiều dài lịch sử hàng vạn năm tính từ khi xuất hiện loài người, có bề dày truyền thống văn hóa hàng ngàn năm, có vị thế đặc biệt trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc.

Bề dày lịch sử, truyền thống và vị thế của Thanh Hóa đã được khẳng định và ghi chép khá đầy đủ, thống nhất, toàn diện và sáng tỏ trong các bộ chính sử từ thời cổ đại đến cận đại, trong các thư tịch, văn bia và các công trình nghiên cứu từ xưa đến nay. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện Danh xưng “Thanh Hóa” với tư cách là một đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương vào thời điểm nào thì sử sách lại ghi chưa đầy đủ, chưa chính xác, thiếu thống nhất, dẫn đến có nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau, làm cho việc xác định niên đại ra đời của Danh xưng Thanh Hóa trở nên hết sức khó khăn, phức tạp. Phải trải qua 3 cuộc hội thảo khoa học, có sự tham gia của rất nhiều chuyên gia, nhà sử học, nhà nghiên cứu hàng đầu trong cả nước, với những tham luận nghiêm túc, cẩn trọng, những tranh biện thẳng thắn, mới có đầy đủ căn cứ khoa học và thực tiễn để khẳng định: Năm 1029 (đời Lý Thái tông niên hiệu Thiên Thành) là năm xuất hiện Danh xưng “Thanh Hóa” với tư cách là đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương. Đây là mốc son quan trọng, đánh dấu chặng đường phát triển không ngừng của xứ Thanh suốt gần một thiên niên kỷ qua.

Việc xác định thời gian xuất hiện Danh xưng Thanh Hóa có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử địa phương, có tác động to lớn đối với sự phát triển của Thanh Hóa trong tương lai. Nhớ về nguồn cội, tự hào về bề dày truyền thống của vùng đất Thanh Hóa địa linh nhân kiệt trong dòng chảy lịch sử dân tộc, các thế hệ hôm nay càng nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trước thời đại, trân trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị lịch sử vô giá mà cha ông đã gây dựng, trao truyền; từ đó tích cực đóng góp công sức, trí tuệ để xây dựng quê hương ngày càng phát triển phồn vinh.

Ý Nghĩa Tên Gọi Các Tỉnh Thành Tại Việt Nam / 2023

Việt Nam có 63 tỉnh thành. Và mỗi tên gọi của các tỉnh thành đều cất giữ cho mình những câu chuyện, những ý nghĩa riêng lưu truyền từ xa xưa. Không chỉ riêng gì người nước ngoài mà đôi khi ngay cả người Việt cũng không biết rõ hết ý nghĩa của những tên gọi này.

Hà Nội

Hà Nội là thủ đô của Việt Nam. Tên gọi này được chính thức định danh từ năm 1831, vào thời vua Minh Mạng. Theo cách hiểu phổ biến nhất thì từ “Hà Nội” mang nghĩa thành phố bên trong sông. Cũng bởi vị trí địa lý của vùng đất này được bao bọc bởi sông Hồng và sông Đáy.

Hải Dương

Tên gọi này chính thức có từ năm 1469. Trong đó, “Hải” nghĩa là biển cả, “Dương” nghĩa là ánh sáng. Vùng đất này vốn nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long mà hướng đông cũng là hướng của mặt trời mọc. Vì vậy, Hải Dương có nghĩa là ánh mặt trời biển Đông” hay “ánh sáng từ miền duyên hải phía đông chiếu về”.

Điện Biên

Tên gọi Điện Biên do vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841. Tên gọi này mang ý nghĩa làm nên một địa danh hào hùng, mang dáng hình của dân tộc. Trong đó, “Điện” nghĩa là một vùng núi to, vững chãi và “Biên” nghĩa là miền biên viễn.

Đà Nẵng

Nguồn gốc tên gọi này chính là biến dạng của tiếng Chăm cổ: “Daknan” – được hiểu theo nghĩa là sông lớn, hay cửa sông cái.

Kon Tum

Kon Tum xưa là một làng nhỏ của người Ba Na cạnh bờ sông Đắk Bla. Nơi đây vốn có rất nhiều hồ nước trũng. Tên gọi Kon Tum cũng ra đời từ đó, mang ý nghĩa là Làng Hồ với “Kon” nghĩa là làng và “Tum” nghĩa là hồ nước.

Sài Gòn

Có rất nhiều cách lý giải cho tên gọi này, điển hình là:

Theo học giả Trương Vĩnh Ký, tên gọi Sài Gòn được phiên âm từ “Prei Nokor” của tiếng Khmer. Trong đó, “Prei” nghĩa là rừng, còn “Nokor” nghĩa là thị trấn. Như vậy, gọi là “Prei Nokor” ý chỉ đây là một thị trấn nằm giữa rừng. Dần dần, người dân đọc trại từ “Prei” thành “Rai” rồi thành “Sài”. Từ “Nokor” đọc lướt thành “Kor” và từ “Kor” thành ra “Gòn”.

Hay cách khác, khi người Hoa đến vùng đất này, họ nhận thấy đây là nơi “ăn nên làm ra” nên đã gọi nơi này là “Tai-Ngon” hay “Tin-Gan” mà theo Hán Việt là Đề Ngạn. Đề Ngạn phát âm theo giọng Quảng Đông nghe ra là “Thầy Ngồn” hay “Thì Ngòn”. Lâu dần đọc trại thành Sài Gòn.

Cần Thơ

Quan điểm thứ nhất cho rằng trong một đêm trăng tĩnh mịch có đoàn thuyền đi ngang qua vàm sông (bến Ninh Kiều ngày nay) thì thấy cảnh quan thiên nhiên hữu tình và văng vẳng xa xa có tiếng ai hò hát, ngâm thơ. Tức cảnh sinh tình, dòng sông thơ mộng này được ban cho cái tên “Cầm Thi giang”. Cả vùng đất này cũng mang tên gọi đó. Lâu dần, người dân đọc trại thành chữ “Cầm Thi” thành “Cần Thơ”.

Quan điểm thứ hai lý giải tên gọi này xuất phát từ loài cá sặc rằn “Kìn Tho” của người Khmer. Vì con rạch có nhiều cá “Kìn Tho” nên người dân dùng tên gọi đó để đặt tên cho rạch. Dần dần, đọc trại thành “Cần Thơ” và cái tên này vô hình trung gắn liền với cả vùng đất này.

An Giang

Địa danh An Giang chính thức ra đời vào năm 1832. Từ “An Giang” có thể giải nghĩa là dòng sông an lành có thể định cư lâu dài. Tên gọi này được vua Minh Mạng đặt mang ý nghĩa khuyến khích di dân khẩn hoang lập làng.

Sóc Trăng

Tên gọi Sóc Trăng là từ “Srok Kh’leang” của tiếng Khmer. Trong đó, “Srok” là xứ, còn “Kh’leang” là vựa, nơi chứa bạc. Do đó, “Srok Kh’leang” mang nghĩa là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Người Việt đọc “Srok Kh’leang” thành “Sốc-Kha-Lang”, rồi từ từ đọc thành “Sóc Trăng” khi nào không biết.