Xem Nhiều 2/2023 #️ Vài Nét Về Cách Xưng Hô Trong Đạo Phật # Top 2 Trend | Uplusgold.com

Xem Nhiều 2/2023 # Vài Nét Về Cách Xưng Hô Trong Đạo Phật # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Vài Nét Về Cách Xưng Hô Trong Đạo Phật mới nhất trên website Uplusgold.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

     Nói một cách khác, đạo ở tại đời, người nào cũng đi từ đời vào đạo, nương đời để ngộ đạo, tu tập để độ người, hành đạo để giúp đời.Trong mối quan hệ khăng khít ấy, người theo đạo và người xuất gia tu đạo luôn giữ một mối quan hệ gắn bó, nhưng cũng chính từ đó, việc xưng hô như thế nào trong các quan hệ mang tính xã hội đó cũng đặt ra những vấn đề cần giải đáp, tránh những cách xưng hô không phù hợp, gây tâm lý e ngại, lúng túng cho người giao tiếp, thậm chí là xúc phạm không đáng có cho những người tham gia giao tiếp.

     Một người tuổi đời dưới 20 phát tâm xuất gia, hay do gia đình đem gửi gắm vào cửa chùa, thường được gọi là chú tiểu, hay điệu. Đó là các vị đồng chân nhập đạo.Tùy theo số tuổi, vị này được giao việc làm trong chùa và học tập kinh kệ, nghi lễ.Thời gian sau, vị này được thụ 10 giới, gọi là Sa di (đối với nam) hay Sa di ni (đối với nữ). Đến năm được ít nhất là 20 tuổi đời và chứng tỏ khả năng tu học, đủ điều kiện về tu tập, vị này được thụ giới cụ túc, tức là 250 giới tỳ kheo (nam) hay 348 giới tỳ kheo ni (nữ) và được gọi là Đại đức (nam) hay Sư cô (nữ).Trên giấy tờ thì ghi là Tỳ kheo (nam) hay Tỳ kheo Ni (nữ) trước pháp danh của vị xuất gia.

    Giới cụ túc (Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni) là giới đầy đủ, viên mãn, cao nhất trong đạo Phật để từng vị xuất gia tu tập cho đến lúc mãn đời, không phải thụ giới nào cao hơn.Việc thụ Bồ tát giới (tại gia hay xuất gia) là do sự phát tâm riêng của từng vị theo Phật giáo Bắc tông (Phật giáo Nam tông không có giới này).Nhìn chung sự sinh hoạt của Phật giáo cần phải thiết lập tôn ti trật tự (cấp bậc) có danh xưng theo Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam như sau: Năm 20 tuổi đời, vị xuất gia thụ giới tỳ kheo được gọi là Đại đức; năm 45 tuổi đời, vị tỳ kheo được 25 tuổi đạo, được gọi là Thượng tọa; năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo được 40 tuổi đạo, được gọi là Hòa thượng; Đối với bên nữ (ni bộ): năm 20 tuổi đời, vị nữ xuất gia thụ giới tỳ kheo ni được gọi là Sư cô; năm 45 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 25 tuổi đạo, được gọi là Ni sư; năm 60 tuổi đời, vị tỳ kheo ni được 40 tuổi đạo, được gọi là Ni trưởng.

     Đó là các danh xưng chính thức theo tuổi đời và tuổi đạo, được dùng trong việc điều hành Phật sự, trong hệ thống tổ chức của Giáo hội, không được lạm dụng tự xưng, tự phong, tự thăng cấp, mà phải được xét duyệt và chấp thuận bởi một hội đồng giáo phẩm có thẩm quyền, và được cấp giáo chỉ tấn phong, nhân dịp Đại lễ hay Đại hội Phật giáo, trong các giới đàn, hay trong mùa an cư kết hạ hằng năm.

     Đối với các bậc Hòa thượng mang trọng trách điều hành các cơ sở Giáo hội Phật giáo trung ương cũng như địa phương, hay các Đại tùng lâm, Phật học viện, Tu viện, thường là các vị trên 80 tuổi đời, được tôn xưng là Đại lão Hòa thượng hay Trưởng lão Hòa thượng. Điều này không thấy áp dụng đối với hàng giáo phẩm Ni. Các vị thuộc hàng giáo phẩm này thường được cung thỉnh vào các Hội đồng Trưởng lão, hoặc Hội đồng Chứng minh tối cao của các cấp Giáo hội.Tuy nhiên, khi ký các thông bạch, văn thư chính thức, chư tôn đức đôi khi vẫn xưng đơn giản là Tỳ kheo, hay Sa môn để biểu hiện sự khiêm nhường theo đúng tinh thần Phật giáo.

      Giữa các vị xuất gia, thường xưng con hay xưng pháp danh, pháp hiệu và gọi vị kia là thầy hoặc gọi cấp bậc hay chức vụ vị đó đảm trách theo nguyên tắc bên ni trọng bên tăng. Tuy nhiên những vị tăng trẻ tuổi vẫn tôn xưng các vị ni lớn tuổi mà xưng con gọi thầy hay phẩm trật với các vị ni. Bên tăng cũng như bên ni, đều gọi sư phụ bằng thầy hay sư phụ, Tôn sư, Ân sư.Các vị xuất gia cùng tông môn, cùng sư phụ, thường gọi nhau là sư huynh, sư đệ, sư tỷ, sư muội, và gọi các vị ngang vai vế với sư phụ là sư thúc, sư bá.Trong đạo Phật có các danh xưng đạo hữu (bạn cùng theo đạo), pháp hữu (bạn cùng tu theo giáo pháp).Các danh xưng tín hữu (bạn cùng tín ngưỡng, cùng đức tin), tâm hữu (bạn cùng tâm, đồng lòng) không thấy được dùng trong đạo Phật.

     Khi tiếp xúc với chư tăng ni, quý vị cư sĩ phật tử tại gia (kể cả thân quyến của chư tăng ni) thường đơn giản gọi bằng thầy hay cô nếu như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị tăng ni và thường xưng là con. Trong tinh thần Phật pháp, người thụ ít giới tôn kính người thụ nhiều giới hơn chứ không phải tính tuổi tác người con theo nghĩa thế gian để tỏ lòng khiêm cung, kính Phật, trọng tăng, cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ tự ái, mong đạt trạng thái niết bàn vô ngã theo lời Phật dạy.Có những vị cao tuổi xưng tôi hay chúng tôi với vị tăng ni trẻ để tránh ngại ngùng cho cả hai bên. Khi qui y Tam bảo, thụ ngũ giới (tam quy, ngũ giới), mỗi vị cư sĩ phật tử tại gia có một vị thầy truyền giới cho mình.Vị ấy được gọi là thầy Bản sư.Cả gia đình có thể cùng chung một vị thầy Bản sư, tất cả các thế hệ cùng gọi vị ấy bằng thầy.

      Theo giáo phái khất sĩ, nam tu sĩ được gọi chung là Sư và nữ tu sĩ được gọi chung là Ni. Còn hệ phái Phật giáo Nam tông chỉ có tăng, không có ni nên danh xưng chung đối với các vị Nam tông là sư. Một điều chú ý là đối với Phật giáo Nam tông, thường không dùng danh xưng thầy để gọi các nhà sư.Việc xưng hô không đúng phẩm vị của tăng ni,xưng hô khác biệt trước mặt và sau lưng, tất cả đều nên tránh bởi vì không ích lợi cho việc tu tâm, dưỡng tính.

      Khi tiếp xúc với cư sĩ, phật tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi (hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng có khi chư tăng ni xưng là thầy, hay cô và gọi quý vị là đạo hữu, hay quý đạo hữu.Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia bằng pháp danh, có kèm theo hoặc không kèm theo tiếng xưng hô của thế gian. Cũng có khi chư tăng ni, tùy theo tuổi tác của phật tử xuất gia, mà gọi theo cách gọi của thế gian và xưng là nhà chùa. Đây là một cách nói gần gũi thường được sử dụng trong các sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày chứ không phải trong các nghi thức hay các văn bản có tính chất hành chính. Cũng có khi chư tăng ni gọi quí vị tại gia là quý phật tử,từ này không sai, nhưng chưa thật chính xác bởi vì xuất gia hay tại gia đều cùng là phật tử, chứ không riêng tại gia là phật tử mà thôi.Việc một phật tử xuất gia ít tuổi gọi một phật tử tại gia nhiều tuổi bằng con và xưng thầy thực là không phù hợp.Không nên gọi như vậy để tránh sự tổn đức và không nên bất bình khi nghe như vậy để tránh bị loạn tâm.Theo truyền thống phương Đông tuổi tácrất được kính trọng trong xã hội, dù tại gia hay xuất gia.

      Trong các trường hợp tiếp xúc riêng, tùy thuận theo đời, không có tính cách chính thức, không có tính cách thuyết giảng, chư tăng ni có thể gọi các vị cư sĩ phật tử tại gia, kể cả người thân trong gia quyến, một cách trân trọng, tùy theo tuổi tác, quan hệ, như cách xưng hô xã giao người đời thường dùng hằng ngày.Danh xưng cư sĩ thường dùng cho phật tử tại gia, đã qui y Tam bảo, thụ ngũ giới. Những vị cư sỹ phát tâm tu tập và góp phần hoằng pháp còn được gọi là Ưu bà tắc (thiện nam, cận sự nam) hay Ưu bà di (tín nữ, cận sự nữ).

      Trong cách gọi dân gian, Phật giáo cũng sử dụng các danh xưng như: sư chú, sư bác, sư ông, sư bà hay sư cụ. Điều này cũng có sự phân biệt nhất định. Sư chú dành để chỉ những người xuất gia ở chùa nhưng chưa được thụ giới; sư bác chỉ những người đã được thụ giới Sa di hay Sa di Ni; sư ông, sư bà để chỉ những người đã được thụ giới tỷ kheo và tỷ kheo Ni. Ngoài ra, đối với các vị bán thế xuất gia, nghĩa là đã lập gia đình trước khi vào đạo, vẫn phải trải qua các thời gian tu tập và thụ giới như trên, cho nên cách xưng hô cũng không khác.Tuy nhiên để tránh việc gọi một người đứng tuổi xuất gia là chú tiểu, giống như gọi các vị trẻ tuổi, có nơi gọi các vị bán thế xuất gia này là sư chú, hay sư bác. Bên cạnh đó, các xưng hô trong đạo như sư ông, sư bà, sư cụ cũng thường được dành để gọi vị sư phụ của sư phụ mình, hoặc gọi chư tôn đức có hạ lạp cao, thu nhận nhiều thế hệ đệ tử tại gia và xuất gia. Một danh xưng nữa là pháp sư thường dành cho các vị xuất gia tăng hay ni có khả năng và hạnh nguyện thuyết pháp độ sanh. Ngoại đạo thường hay lạm dụng danh xưng này để chỉ các ông bà thầy pháp, thầy cúng.

       Danh xưng sư Tổ được dành cho chư tôn đức lãnh đạo các tông phái còn tại thế, danh xưng Tổ sư được dành cho chư tôn đức đã viên tịch, được hậu thế truy phong vì có công lao trọng đại đối với nền đạo.Đối với các bậc cao tăng thạc đức thường trụ ở một tự viện, người trong đạo thường dùng tên của ngôi già lam đó để gọi quý ngài, tránh gọi bằng pháp danh hay pháp hiệu để tỏ lòng tôn trọng, kính ngưỡng.

       Đức Phật đã dạy “hằng thuận chúng sinh”, nghĩa là nếu phát tâm tu theo Phật, dù tại gia hay xuất gia, đều nên luôn luôn thuận theo việc dùng tứ nhiếp pháp (bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự) để đem an lạc cho chúng sanh, tức là cho mọi người trong đời, bao gồm những người đang tu trong đạo. Các vị phát tâm xuất gia tu hành, các vị phát tâm tu tập tại gia, thực hành hạnh ái ngữ, đã coi thường mọi thứ danh lợi, địa vị của thế gian thì quan trọng gì chuyện xưng hô, tranh hơn thua chi lời nói, quan tâm chi chuyện ăn trên ngồi trước, đi trước đứng sau, tranh chấp danh tiếng, tranh cãi lợi dưỡng, tranh giành địa vị, đòi hỏi chức vụ.Đồng quan điểm hay không, được cung kính hay không, xưng hô đúng phẩm vị hay không, chẳng đáng quan tâm, tránh sự tranh cãi.

Nhất niệm sân tâm khởi,

Bách vạn chướng môn khai.

Nhất niệm sân tâm khởi,

Thiêu vạn công đức lâm.

       Nghĩa là: Một lần nghĩ đến sự sân hận, trăm điều chướng nghiệp sẽ nảy sinh, một lần nghĩ đến sự sân hận, tiêu tan mọi công đức tu tập. Do đó, trong cách xưng hô nên làm cho mọi người, trong đạo cũng như ngoài đời, cảm thấy an lạc, thoải mái, hợp với tâm mình, không trái lòng người, không quá câu nệ chấp nhặt. Trong đạo Phật, cách xưng hô có thể biến đổi nhưng có một điều quan trọng bất biến, không suy chuyển, đó là phẩm hạnh, phẩm chất, đức độ, sự nỗ lực, cố gắng tu tâm dưỡng tính không ngừng cho đến ngày đạt mục đích cứu cánh giác ngộ và giải thoát, đối với Phật tử tại gia cũng như xuất gia.Đó cũng chính là một phần ý nghĩa của “tùy duyên bất biến” trong đạo Phật vậy./.

Vài Nét Về “Bảo Lộc”

Vài nét về “Bảo Lộc”

Bảo lộc, trước đây là một vùng đất rộng lớn từng được biết đến với tên gọi B’lao, là địa bàn sinh sống chủ yếu của người dân tộc Mạ. Ngay từ giữa thế kỷ XIX, trong quá trình mở mang bờ cõi nhà Nguyễn đã thiết lập các phủ, huyện, các thuộc để quản lý các vùng đất này. Vào những năm 1877, Nguyễn Thông đã từng dâng sớ xin lập đồn điền khai khẩn vùng thượng du Sơn quốc nhưng không thành (trong đó có vùng đất Di linh). Đến năm 1893, bác sĩ Alexandre Yersin khảo sát vùng cao nguyên Lâm Viên đã tìm ra Đà Lạt và cùng lúc phát hiện ra vùng đất B’lao. Vùng đất B’lao đã được người Pháp đặt vấn đề khai thác sớm cùng một lúc với việc xây dựng đô thị Đà Lạt. Năm 1899 một phái đoàn người Pháp do ông Ernest Outrey chỉ huy, mở cuộc thám hiểm tìm hiểu khả năng vùng Đồng Nai Thượng và vạch một con đường nối liền vùng này (Djiring) với Bình Thuận (Phan Thiết).

Ngày 1/11/1899, toàn quyền Paul Doumer ký quyết định thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut Donnai) trong đó bao gồm vùng đất B’lao và đặt tỉnh lỵ tại Djiring. Đến năm 1905, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ, Djiring và B’lao lại được sát nhập vào tỉnh Bình Thuận. Đến năm 1920 Tỉnh Đồng Nai Thượng (Haut Donnai) lại được tái lập với 3 đại lý hành chính: 3 quận B’lao (Bảo Lộc), quận Djiring (Dilính) và Quận Dran Fyan (Đơn Dương). Tỉnh Đồng Nai Thượng vẫn đặt tỉnh lỵ tại Djiring (Di Linh). Lúc này địa giới B’lao rất rộng, bao gồm một phần đất thuộc quận Tánh Linh (Bình Thuận), một phần đất thuộc Quận Định Quán (Long Khánh).Cùng thời gian này, năm 1916 Đà Lạt trở thành tỉnh ly của LangBiang.

Cho đến năm 1950, Bảo Đại tách tây nguyên thành lập Hoàng triều cương thổ trực thuộc quốc trưởng, bộ máy hành chính B’lao vẫn giữ chức trách một đại lý hành chính của chính quyền thuộc địa. Đến ngày 19/5/1958, chính quyền Ngô Đình Diệm đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, sau đó ngày 30/6/1958 tách quận Dran (Đơn dương) ra khỏi tỉnh Lâm Đồng sát nhập vào tỉnh Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng còn 2 quận: B’lao đổi thành Bảo Lộc và Djiring thành Di Linh. Địa giới tỉnh, quận vào thời gian này cũng có sự điều chỉnh. Quận Bảo Lộc cắt một phần đất giao cho Tánh Linh của tỉnh Bình Tuy, một phần giao cho quận Định Quán của tỉnh Long Khánh. Quận Bảo Lộc còn từ Madaguoil (Dahuoai hiện nay) trở lên. Cũng từ thời điểm năm 1958 trở về sau, mãi cho đến năm 1979 địa danh B’lao không còn trên các văn bản hành chính. Ngày 30/11/1958 Bảo Lộc được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng. Tên gọi Bảo Lộc chính thức thay thế tên B’lao từ ngày 19/2/1959. Công việc kiến thiết mở mang đô thị mới cũng bắt đầu phát triển mạnh từ thời gian này.

Cư dân ở vùng đất B’lao Bảo Lộc ban đầu chủ yếu là người dân tộc bản địa Mạ và Kơ Ho, trong đó người Mạ chiếm đa số. Địa vực của người Mạ từ xa xưa đã ở trong vùng Cát Tiên – Dateh trở xuống phía Đồng Nai. Khi có vương quốc Phù Nam, người Mạ mới thiên cư lên vùng Cao nguyên Di Linh địa phận Bảo Lộc, Bảo Lâm ngày nay. Dân tộc Mạ là một cộng đồng người thống nhất, có một tên gọi chung, một ngôn ngữ chung và ý thức chung. Bên cạnh việc bảo lưu những giá trị văn hóa vật thể đặc sắc dân tộc Mạ còn giữ gìn một kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian rất phong phú với nhiều truyền thuyết, thần thoại, cổ tích, dân ca, gian dao nhiều nhạc cụ cổ truyền phong phú như đàn đá, chiêng…

Cư dân người kinh ở B’lao vào thời kỳ ban đầu hầu như không đáng kể. Mãi đến năm 1930, B’lao mới chỉ có khoảng 8 gia đình người kinh. Năm 1936 có 20 gia đình. Môi trường dần được cải thiện nên công nhân từ các nơi đến lập nghiệp ngày càng đông,nhất là người bắc sau khi đã mãn hợp đồng ở Cămpuchia không về xứ mà tìm lên B’lao… Năm 1930 Nha Khảo cứu Đông Dương thành lập tại Công Hinh (B’lao) một Trung tâm thực nghiệm Nông học rộng khoảng 1.000 Ha (sau trở thành Trường Quốc gia Nông Lâm Mục vào năm 1955); Quốc lộ 20 chính thức được khai trương vào tháng 7 năm 1932…

Năm 1938 đường bộ từ Sài gòn lên Đà Lạt qua đèo B’lao được hoàn chỉnh, từ đó đã tạo nên sức thu hút khá lớn dân cư vùng lân cận và kể cả việc tuyển mộ công nhân. Những năm sau đó hệ thống các đồn điền chè đã mọc lên khá tập trung tại khu vực Bảo Lộc… Năm 1940 tiếp nhận thêm 20 gia đình, năm 1942, tiếp nhận thêm 80 gia đình. Những hộ này được bố trí tập trung tại khu vực trung tâm thực nghiệm nông học và các đồn điền trà. Nhìn chung, trong thời kỳ 1945 – 1954, xây dựng cơ bản trên đất Lâm Đồng không đáng kể do cuộc chiến ngày càng bất lợi cho người Pháp…ở các vùng Djiring, B’lao, việc xây dựng hạ tầng phát triển đơn điệu, ít được đầu tư…đường giao thông chỉ là những con đường đất từ trung tâm thực nghiệm đến các đồn điền trà lân cận…

Đến tháng 9/1954 một sổ lớn đồng bào di cư được đưa đến định cư nâng tổng số dân lên đến 15.000 người. Sau đợt di cư, B’lao có khoảng 50 cơ sở trồng trà và đồng bào đến định cư đã lập thêm 6 làng: Tân Phát, Tân Thanh, Thánh Tâm. Tân Hà, Tân Bùi, Lam Sơn, sau này thành 5 xã. Cho đến năm 1957 dân số B’lao đã tăng nhanh, lên đến 37.832 nhân khẩu, trong đó người dân tộc là 16.517 người. Đến trước năm 1975 số dân B’Lao có 76.000 người, trong đó có 27.000 người dân tộc, đa số là người Mạ. Năm 1979 có 77.513 người; năm 1989 có 128.587 người; năm 1999 có 135.701 người.

Cơ sở hạ tầng ở Bảo Lộc chỉ được phát triển ở mức độ từ sau năm 1958, sau khi dời tỉnh lỵ từ Di linh về Bảo Lộc, trong đó có thể thấy một số công trình sau: Tòa hành chính tỉnh xây dựng và hoàn thành năm 1959; chợ cũ nằm gần Quốc lộ 20 bị cháy năm 1959 được xây dựng lại tại khu vực mới hiện nay hoàn thành vào năm 1961 nhà máy đèn Bảo lộc xây dựng năm 1957, nhà máy nước xây dựng năm 1962; 1960 bưu cục chính thức Bảo lộc được xây dựng. Từ năm 1963, bộ mặt Bảo Lộc đã khang trang hơn sau gần 4 năm xây dựng. Hệ thống đường nội thị bắt đầu được trải nhựa. Trong năm 1965, ở đây đã tiến hành sửa chữa và mở thêm một số tuyến đường từ trung tâm thị xã tới các xã như đường Thiện Lập, Tân Phát, Tân Rai, đường liên ấp Lam Sơn – Thiện Lập, đường Konhinđa, đườngThanh Hương, Thanh Xuân…Sân bay Bischenée được sửa chữa tu bổ năm 1964, sân bay Lộc Phát xây dựng năm 1966 phục vụ mục đích quân sự…

Trước năm 1975, nhìn chung kinh tế của Bảo Lộc phát triển chủ yếu là ngành sản xuất chế biến chè. khai thác gỗ và lâm sản.Với ưu thế có một lịch sử khá lâu đời của cây chè, Bảo lộc có mấy chục nông trướng, đồn điền chè lớn nhỏ, vài chục cơ sở chế biến chè trên địa bàn hàng năm cung cấp một sản lượng chè đáng kể cho thị trường trong và ngoài nước. Các ngành nghề sản xuất khác như chăn nuôi gia súc, trồng dâu nuôi tằm, trồng và chế biến cà phê, hoạt động tiểu thủ công nghiệp khác chưa phát triển mạnh mẽ do nguyên nhân chiến tranh song cũng cho thấy những tiềm năng triển vọng của nó vào thời gian sau này.Hoạt động văn hóa và thiết chế văn hóa trên địa bàn Bảo Lộc trước 1975 hầu như chưa có gì. Những năm 1958 – 1960, ở Bảo lộc đã hình thành mtộ rạp hát tư thiết kế bằng gỗ mang tên người chủ Lâm Đô nằm ở địa bàn phường B’lao ngày nay, bên cạnh quốc lộ 20, chủ yếu đón các gánh hát cải lương ở Sai gòn về biểu diễn phục vu.., một sân tennis ở gần rạp hát chủ yếu cho công chức giải trí. Về sau vào những năm 1970 một rạp chiếu phim mang tên Hoàng Huê có sức chứa 500 người được xây dựng ở khu chợ mới, trên đường Lê Hồng Phong, gần trung tâm văn hóa ngày nay được coi là thiết chế văn hóa giải trí duy nhất ở Bảo Lộc bấy giờ. Ngoài ra còn có một số cơ sở in typô của tư nhân, vài nhà sách đáp ứng nhu cầu của địa phương.

Thị xã Bảo lộc ngày nay là một trong sổ 11 huyện, thành, thị xã thuộc tỉnh Lâm Đồng, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, công nghiệp xếp vào vị trí thứ hai của tỉnh Lâm Đồng sau thành phố Đà Lạt. Thị xã Bảo Lộc nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lâm Đồng, trên cao nguyên Di linh – Bảo Lộc, ở độ cao 800 mét so với mặt biển, gắn với trục quốc lộ 20 nối liền thành phố Hồ Chí Minh và Bảo Lộc; phía Bắc. phía Đông và phía Nam giáp huyện Bảo Lâm; phía Tây và Tây Nam giáp huyện Đa Huoai. Với diện tích tự nhiên 232.4 km2, Thị xã Bảo Lộc có 11 đơn vị hành chính gồm 6 phường (Phường 1, phường 2, phường B’Lao, Lộc Phát, Lộc Tiến, phường Lộc Sơn) và 5 xã : Lộc Nga, Lộc Châu, Lộc Thanh, Đại Lào, xã ĐamBri.

Bảo Lộc có khí hậu quanh năm mát mẻ. không quá lạnh, cũng không quá nóng, nhiệt độ trung bình 22 – 24 độ C, Bảo lộc có lượng mưa khá lớn (2.762 mm), không có tháng nào không có mưa. Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm khá lớn, trung bình là 10-30 độ C. Sương mù xuất hiện ở Bảo Lộc nhiều nhất tỉnh do độ ẩm cao, trung bình mỗi năm có 85 ngày có sương mù tập trung vào những tháng cuối mùa mưa. Bảo Lộc có nhiều thắng cảnh như đèo Bảo Lộc, thác Đam Bri, hồ Nam Phương, suối Đá Bàn, núi Đại Bình (S’pung)… cùng với những đồi trà thoai thoải xanh mượt mà làm cho Bảo Lộc càng thêm xinh tươi, trù phú.

Sưu Tầm

Những Cách Xưng Hô ‘Đặc Biệt’ Trong Tiếng Anh ” Học Ielts

Không chỉ mỗi Honey mà Love và Babe cũng được sử dụng để thể hiện sự thân mật, tuy nhiên, không chỉ có những đối tượng có tình cảm đặc biệt với nhau mới sử dụng từ Love và Babe, chúng ta có thể sử dụng từ ngữ này để tăng tính chất thân mật trong giao tiếp.

Ví dụ: Một người bán hàng quần áo có thể trả lời khách hàng: That’s be 300 dollars, love (Hết 300 đô la em thân mến ạ).

Bên cạnh đó “Mate” là từ dành cho gia đình, người thân. Mate được sử dụng không phân biệt giới tính, cả đàn ông và phụ nữ có thể được gọi bằng Mate. Để nhấn mạnh tính chất thân thiện khi sử dụng từ lóng để gọi tên, Mate thường được đặt ở đầu câu hoặc cuối câu:

– Mate, what should we go this weekend? (Này em, cuối tuần này chúng mình nên đi đâu nhỉ?)

Trong câu này, Mate có nghĩa là Người bạn (Friend), và cách sử dụng này đặc biệt phổ biến trong tiếng Anh Úc và Anh – Anh. Cũng được sử dụng trong văn phong Anh – Anh, Geezer cũng là một từ lóng khác nhưng nó ít được sử dụng hơn Mate.

– She got talking to some geezers in the club. (Cô ấy đã nói chuyện với vài chàng trai trong câu lạc bộ).

Pet là một cách gọi biểu đạt sự trìu mến và được sử dụng như một cách chào gặp mặt thân mật (“Alright, pet”). Điều đặc biệt là từ này có thể sử dụng để xưng hô đối với người lạ hoặc cả người quen. Tuy nhiên Pet chỉ được sử dụng đối với giới nữ và cách gọi này khá phổ biến ở phía Bắc nước Anh. Vậy trong trường hợp những người lạ là đàn ông thì sử dụng từ lóng nào để gọi?

Đàn ông có thể gọi người lạ là “governor”hoặc “gov”, “Squire”hay “Mush” – và những tên gọi này được sử dụng phổ biến ở Luân Đôn. “Laddy” và “Lasie” được sử dụng ở Scotland cho đàn ông hoặc phụ nữ một cách kính trọng.

Đối với trẻ con và thanh niên, cũng có những cách gọi rất riêng. Ở Anh và ở Mỹ, Kid và Kiddo là cách gọi dành cho trẻ em. Riêng ở Anh, lad, laddy, young fella để gọi thằng bé. Trong khi Lad là từ viết tắt phổ biến sử dụng cho nam thanh niên sử dụng ở Livepool và Boyo dùng để gọi những người trưởng thành ở Wale.

Một điều đặc biệt là không phải từ lóng nào cũng thể hiện thuần một nghĩa, mà có khi lại mang những ý nghĩa hoàn toàn trái ngược nhau. Ví dụ như Pal là một cách gọi thân mật dành cho bạn bè, thế nhưng câu nói “Listen pal.” Lại có thể được xem như một lời cảnh cáo hoặc dọa nạt.

Người Anh hoặc các nước nói tiếng Anh sử dụng tiếng lóng trong xưng hô là một điều khá thú vị, và hẳn là một sự ngạc nhiên rất lớn dành cho người bản xứ khi chúng ta là người Việt nhưng lại xưng hô bằng từ lóng một cách thành thạo. Tuy nhiên bạn hãy nhớ 3 Đúng: Đúng cách, Đúng thời điểm và Đúng chỗ !

Về Danh Xưng Faifo

         Còn Faifo – Hội An theo nghĩa không gian hẹp với Hoài (phô) phố, Hội (An) phố… theo cách gọi dân gian hay trong các văn bản nhà nước: Faifo phố/“Ville de Faifo” thời thuộc Pháp; hay Phố cổ Hội An, Đô thị cổ Hội An, Khu phố cổ Hội An… theo cách gọi hiện nay của các nhà lịch sử, kiến trúc, bảo tồn di sản văn hóa… thì không gian địa lý của nó là một phần rất nhỏ của Faifo – Hội An với hàm nghĩa là Đô thị – thương cảng hay phố cảng quốc tế. Tức nó chỉ là phần trung tâm phố/thị gắn với chợ, nơi bán buôn, tương ứng với khu phố cổ Hội An hiện nay.

          Faifo chỉ thực sự trở thành tên gọi của một đơn vị hành chính: “Ville de Faifo” bắt đầu từ bản dụ của Vua Thành Thái ngày 20/10/1898 và 12/7/1899, và Nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 30/8/1899 cho thành lập thị xã Faifo. Còn Hội An nguyên là tên gọi của một đơn vị hành chính làng/xã thương nghiệp – buôn bán của người Việt, nay còn đình Tiền hiền (Hội An Tiên tự) và đình thờ Thần (đình Ông Voi) ở đường Lê Lợi. Theo nguồn tư liệu thư tịch, đồ tịch cổ Việt Nam, bia ký thì danh xưng Hội An xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XVII với tên gọi: Hội An phố, Hội An xã, Hội An kiều/cầu, Hội An đàm/đầm, Hội An khố/kho.

         Faifo là tên gọi quen dùng với người Châu Âu và xuất hiện cùng với các cuộc tiếp xúc của họ vào vùng biển Cù Lao Chàm – Hội An, có thể bắt đầu bởi thương nhân Bồ Đào Nha ngay từ nửa đầu thế kỷ XVI và mạnh mẽ vào các thế kỷ XVII, XVIII cùng thương nhân các nước khác (Hà Lan, Anh, Pháp…). Đồng thời cũng xuất hiện nhiều cách gọi đồng âm, khác chữ/ký tự như: Faifo, Haifo, Faicfo, Haiso, Faiso, Faifoo… Có thể khẳng định, để dẫn đến có nhiều chữ/ký tự khác nhau về danh xưng Faifo chắc chắn nó phải được xuất phát từ tên/chữ vốn có từ trước ở đây.

          Theo từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre De Rhod in năm 1651 có ghi: HOÀI PHÔ (Hoài Phô): Một ngôi làng ở Cochinchine, nơi có người Nhật đến sinh sống còn gọi là Faifo. Đặc biệt trong tác phẩm “Ô Châu Cận Lục”, tác giả Dương Văn An viết vào năm 1553 có tên làng Hoài Phô và Cẩm Phô. Tên làng Cẩm Phô, hiện nay là tên phường Cẩm Phô. Tra theo bảng bằng chữ Hán thì thấy tác giả dùng chữ ở đây: Hoài (淮) nghĩa là sông khác với Hoài (懷) nhớ; Phô (鋪) nghĩa là phô trương, phô diễn như chữ Phô của Cẩm Phô vậy, khác với phố () là chợ, thị. Cho nên khi nghe câu ca dao hiện còn lưu truyền ở xứ Quảng, đặc biệt là ở Hội An: “… Phố Hoài bốn tháng một phiên, Gặp cô hàng xén anh kết duyên vừa rồi…” phải hiểu là Phố Hoài phô giống như Phố Hội – tức Phố Hội An. Không phải là “Phố Hoài” hay “Hoài Phố” với cái nghĩa văn học mà nhiều người sau này đã thi vị hóa “Hoài là nhớ – nghĩa là phố nhớ…”

         Trong tác phẩm Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên viết năm 527, tác giả đã mô tả dòng chảy sông Tiểu Nguyên Hoài và Đại Nguyên Hoài bao quanh kinh thành Trà Kiệu – Simhapura của Vương quốc Champa, rồi đổ ra cửa Đại Chiêm thông qua khu vực phố cổ Hội An hiện nay.

          Như vậy, địa danh sông Hoài là có thực và cùng với sự có mặt của cư dân Việt vào cuối thế kỷ XV đã tất yếu dẫn đến hình thành một làng xã người Việt bên bờ sông này được đặt tên là làng Hoài Phô. Rồi bằng vào nội lực của cư dân ở đây, bao gồm cả xứ Quảng, Đàng Trong và nhiều cơ may lịch sử, địa lý… sự xuất hiện của thương nhân các nước phương Tây đến giao thương buôn bán và cũng tất yếu dẫn đến việc ký âm, gọi tên Hoài Phô thành Faifo hoặc nhiều tên gọi đồng âm khác chữ/ký tự của thương nhân các nước phương Tây.

         Bước sang thế kỷ XVII, khi người Châu Âu quen dùng từ Faifo để chỉ địa danh Đô thị thương cảng/phố cảng này, đồng thời tên làng Hoài Phô bị mờ dần rồi biến mất trong lịch sử, cùng lúc này xuất hiện danh xưng Hội An, nguyên là tên gọi của làng/xã người Việt, đã trở thành một danh xưng quen dùng với người Việt, nhà nước Đại Việt với hàm nghĩa chỉ chung cho cả Đô thị thương cảng/phố cảng này.

          Có thể nói về vai trò lịch sử, danh xưng Hoài Phô đã được tiếp nối bởi danh xưng Hội An với hàm nghĩa sâu sa của nó là nơi Hội Nhân – tụ cư của con người từ nhiều lớp, nhiều nguồn, nhiều dân tộc…; Hội Thủy – nơi hợp lưu của 3 nguồn sông lớn của xứ Quảng: Thu Bồn – Ô Gia/Vu Gia, Chiên Đàn; Hội Văn – đó là sự kế thừa văn hóa Sa Huỳnh – Champa, truyền thống văn hóa Việt và sự hội nhập của văn hóa Nhật Bản, Trung Hoa, Phương Tây, cùng các nước trong khu vực Đông Nam Á. Để rồi cùng An, hưởng những gì tốt lành, hòa bình, chung vui lạc nghiệp.

          Từ “Hoài Phô” thành “Faifo” và từ “Hoài Phô” được nối tiếp bởi “Hội An”, là chìa khóa mở ra cho chúng ta cách nhìn quán xuyến, tổng thể về Hội An cổ. Phải bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu Hội An trên cơ sở “danh chính, ngôn thuận” như vậy mới thấy hết được quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng cư dân ở đây và cả quá trình đô thị hoá của đô thị thương cảng/phố cảng này như đã được đánh giá là “một kiểu mẫu tiêu biểu ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á – Châu A thời Trung – Cận đại”    1. Dương Văn An ( 1997 ), Ô Châu Cận Lục, Nxb Khoa học – Xã hội, Hà Nội. 2. Cristophoro (1998 ), Xứ Đàng Trong năm 1621, Hồng Nhuệ dịch. Nxb Thành Hồ Chí Minh. 3. Alexandre de Rhodes ( 1991 ), Từ điển An Nam – Lusitan – Latinh, Nxb Khoa học Xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh.  

Xét theo nghĩa rộng, Faifo – Hội An là danh xưng của một vùng đất, có Đô thị – thương cảng/phố cảng quốc tế nổi tiếng ở miền Trung Việt Nam được hình thành vào cuối thế kỷ XVI. Không gian địa lý của nó bao gồm: Cửa biển – Cửa Đại và Cửa Hàn; Tiền cảng – nơi neo đậu tàu lớn, chờ làm thủ tục hải quan như Touron, Trà Nhiêu, Trung Phường…; Các bến – chợ: Đà Nẵng, Trà Nhiêu, Thăng Bình, Thanh Hà, Trà My… Tất cả đều trở thành vệ tinh trực tiếp của trung tâm phố chợ/thị Faifo – Hội An. Nơi “quy tụ hàng hóa sản phẩm, năm nào cũng mở hội chợ kéo dài gần 4 tháng”. Rộng hơn nữa đến Dinh Trấn Quảng Nam, thượng đô thứ 2 của các Chúa Nguyễn và cả xứ Quảng – Đàng Trong để làm nên cái “Hải Cảng tỉnh Kẻ Chiêm/Cacciam” nổi tiếng quốc tế ở vào thế kỷ XVII, XVIII.Còn Faifo – Hội An theo nghĩa không gian hẹp với Hoài (phô) phố, Hội (An) phố… theo cách gọi dân gian hay trong các văn bản nhà nước: Faifo phố/“Ville de Faifo” thời thuộc Pháp; hay Phố cổ Hội An, Đô thị cổ Hội An, Khu phố cổ Hội An… theo cách gọi hiện nay của các nhà lịch sử, kiến trúc, bảo tồn di sản văn hóa… thì không gian địa lý của nó là một phần rất nhỏ của Faifo – Hội An với hàm nghĩa là Đô thị – thương cảng hay phố cảng quốc tế. Tức nó chỉ là phần trung tâm phố/thị gắn với chợ, nơi bán buôn, tương ứng với khu phố cổ Hội An hiện nay.Faifo chỉ thực sự trở thành tên gọi của một đơn vị hành chính: “Ville de Faifo” bắt đầu từ bản dụ của Vua Thành Thái ngày 20/10/1898 và 12/7/1899, và Nghị định của toàn quyền Đông Dương ngày 30/8/1899 cho thành lập thị xã Faifo. Còn Hội An nguyên là tên gọi của một đơn vị hành chính làng/xã thương nghiệp – buôn bán của người Việt, nay còn đình Tiền hiền (Hội An Tiên tự) và đình thờ Thần (đình Ông Voi) ở đường Lê Lợi. Theo nguồn tư liệu thư tịch, đồ tịch cổ Việt Nam, bia ký thì danh xưng Hội An xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XVII với tên gọi: Hội An phố, Hội An xã, Hội An kiều/cầu, Hội An đàm/đầm, Hội An khố/kho.Faifo là tên gọi quen dùng với người Châu Âu và xuất hiện cùng với các cuộc tiếp xúc của họ vào vùng biển Cù Lao Chàm – Hội An, có thể bắt đầu bởi thương nhân Bồ Đào Nha ngay từ nửa đầu thế kỷ XVI và mạnh mẽ vào các thế kỷ XVII, XVIII cùng thương nhân các nước khác (Hà Lan, Anh, Pháp…). Đồng thời cũng xuất hiện nhiều cách gọi đồng âm, khác chữ/ký tự như: Faifo, Haifo, Faicfo, Haiso, Faiso, Faifoo… Có thể khẳng định, để dẫn đến có nhiều chữ/ký tự khác nhau về danh xưng Faifo chắc chắn nó phải được xuất phát từ tên/chữ vốn có từ trước ở đây.Theo từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre De Rhod in năm 1651 có ghi: HOÀI PHÔ (Hoài Phô): Một ngôi làng ở Cochinchine, nơi có người Nhật đến sinh sống còn gọi là Faifo. Đặc biệt trong tác phẩm “Ô Châu Cận Lục”, tác giả Dương Văn An viết vào năm 1553 có tên làng Hoài Phô và Cẩm Phô. Tên làng Cẩm Phô, hiện nay là tên phường Cẩm Phô. Tra theo bảng bằng chữ Hán thì thấy tác giả dùng chữ ở đây: Hoài () nghĩa là sông khác với Hoài () nhớ; Phô () nghĩa là phô trương, phô diễn như chữ Phô của Cẩm Phô vậy, khác với phố () là chợ, thị. Cho nên khi nghe câu ca dao hiện còn lưu truyền ở xứ Quảng, đặc biệt là ở Hội An: “… Phố Hoài bốn tháng một phiên, Gặp cô hàng xén anh kết duyên vừa rồi…” phải hiểu là Phố Hoài phô giống như Phố Hội – tức Phố Hội An. Không phải là “Phố Hoài” hay “Hoài Phố” với cái nghĩa văn học mà nhiều người sau này đã thi vị hóa “Hoài là nhớ – nghĩa là phố nhớ…”Trong tác phẩm Thủy Kinh Chú của Lịch Đạo Nguyên viết năm 527, tác giả đã mô tả dòng chảy sông Tiểu Nguyên Hoài và Đại Nguyên Hoài bao quanh kinh thành Trà Kiệu – Simhapura của Vương quốc Champa, rồi đổ ra cửa Đại Chiêm thông qua khu vực phố cổ Hội An hiện nay.Như vậy, địa danh sông Hoài là có thực và cùng với sự có mặt của cư dân Việt vào cuối thế kỷ XV đã tất yếu dẫn đến hình thành một làng xã người Việt bên bờ sông này được đặt tên là làng Hoài Phô. Rồi bằng vào nội lực của cư dân ở đây, bao gồm cả xứ Quảng, Đàng Trong và nhiều cơ may lịch sử, địa lý… sự xuất hiện của thương nhân các nước phương Tây đến giao thương buôn bán và cũng tất yếu dẫn đến việc ký âm, gọi tên Hoài Phô thành Faifo hoặc nhiều tên gọi đồng âm khác chữ/ký tự của thương nhân các nước phương Tây.Bước sang thế kỷ XVII, khi người Châu Âu quen dùng từ Faifo để chỉ địa danh Đô thị thương cảng/phố cảng này, đồng thời tên làng Hoài Phô bị mờ dần rồi biến mất trong lịch sử, cùng lúc này xuất hiện danh xưng Hội An, nguyên là tên gọi của làng/xã người Việt, đã trở thành một danh xưng quen dùng với người Việt, nhà nước Đại Việt với hàm nghĩa chỉ chung cho cả Đô thị thương cảng/phố cảng này.Có thể nói về vai trò lịch sử, danh xưng Hoài Phô đã được tiếp nối bởi danh xưng Hội An với hàm nghĩa sâu sa của nó là nơi Hội Nhân – tụ cư của con người từ nhiều lớp, nhiều nguồn, nhiều dân tộc…; Hội Thủy – nơi hợp lưu của 3 nguồn sông lớn của xứ Quảng: Thu Bồn – Ô Gia/Vu Gia, Chiên Đàn; Hội Văn – đó là sự kế thừa văn hóa Sa Huỳnh – Champa, truyền thống văn hóa Việt và sự hội nhập của văn hóa Nhật Bản, Trung Hoa, Phương Tây, cùng các nước trong khu vực Đông Nam Á. Để rồi cùng Anhưởng những gì tốt lành, hòa bình, chung vui lạc nghiệp.Từ “Hoài Phô” thành “Faifo” và từ “Hoài Phô” được nối tiếp bởi “Hội An”, là chìa khóa mở ra cho chúng ta cách nhìn quán xuyến, tổng thể về Hội An cổ. Phải bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu Hội An trên cơ sở “danh chính, ngôn thuận” như vậy mới thấy hết được quá trình hình thành, phát triển của cộng đồng cư dân ở đây và cả quá trình đô thị hoá của đô thị thương cảng/phố cảng này như đã được đánh giá là “một kiểu mẫu tiêu biểu ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á – Châu A thời Trung – Cận đại”1. Dương Văn An ( 1997 ), Ô Châu Cận Lục, Nxb Khoa học – Xã hội, Hà Nội.2. Cristophoro (1998 ), Xứ Đàng Trong năm 1621, Hồng Nhuệ dịch. Nxb Thành Hồ Chí Minh.3. Alexandre de Rhodes ( 1991 ), Từ điển An Nam – Lusitan – Latinh, Nxb Khoa học Xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bạn đang xem bài viết Vài Nét Về Cách Xưng Hô Trong Đạo Phật trên website Uplusgold.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!