Xem Nhiều 4/2023 #️ Ý Nghĩa Nhan Đề Tác Phẩm Chiếc Lược Ngà # Top 13 Trend | Uplusgold.com

Xem Nhiều 4/2023 # Ý Nghĩa Nhan Đề Tác Phẩm Chiếc Lược Ngà # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Ý Nghĩa Nhan Đề Tác Phẩm Chiếc Lược Ngà mới nhất trên website Uplusgold.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Chiếc lược ngà, Mời các bạn cùng tham khảo một số bài văn mẫu lớp 9: Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Chiếc lược ngà, đây là một tài liệu vô cùng

Chiếc lược ngà là một tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nói về tình cảm cha con vô cùng thiêng liêng.

Hôm nay chúng tôi xin mời tất cả các bạn cùng tham khảo một số bài văn mẫu lớp 9: Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Chiếc lược ngà. Đây là tài liệu vô cùng hữu ích giúp cho các bạn có thể củng cố lại kiến thức Ngữ văn lớp 9 của mình.

Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Chiếc lược ngà – Mẫu 1

Với bé Thu “chiếc lược ngà” là kỷ vật của người cha, là nỗi nhớ thương mong nhớ của người cha nơi chiến khu dành cho mình. Cầm chiếc lược trong tay, bé Thu được sưởi ấm bởi tình cha, như có người cha ở bên.

Với ông Sáu, Chiếc lược ngà đã trở thành một vật quý giá, thiêng liêng với ông Sáu. Nó chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến, nhớ thương mong đợi của người cha và làm dịu đi nỗi ân hận đã đánh con của ông. Trao cây lược cho con, ông Sáu như đã nói với được với con gái yêu tình cảm của mình.

Chiếc lược ngà không chỉ nói lên tình cha con thắm thiết, sâu nặng mà còn gợi cho người đọc thấm thía những mất mát, éo le đau thương do chiến tranh gây ra cho bao gia đình.

Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Chiếc lược ngà – Mẫu 2

Chiếc lược ngà trong tác phẩm là kỷ vật cuối cùng người cha gửi tặng cho con trước lúc hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ.

Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Chiếc lược ngà – Mẫu 3

Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng ra đời năm 1966 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra ác liệt ở chiến trường Nam bộ, truyện ca ngợi tình cảm cha con sâu nặng trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh, qua nhân vật chính anh Sáu và bé Thu, trong đó chi tiết hình ảnh “chiếc lược ngà” rất quan trọng, là hình ảnh trở đi trở lại trong tác phẩm, chiếc lược ngà là kỉ vật cuối cùng mà anh Sáu dành cho con, là chứng minh cho tình cảm hai cha con, không chỉ vậy, chiếc lược ngà còn là biểu tượng cho sự hy vọng, niềm tin, là quà tặng của người đã khuất, là kỷ vật thiêng liêng. Hơn cả nó là biểu tượng độc đáo cho tình phụ tử. Vì vậy mà nhan đề “chiếc lược ngà” vô cùng ý nghĩa, Giải thích nhan đề truyện ngắn “chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng.

Ý nghĩa nhan đề tác phẩm Chiếc lược ngà – Mẫu 4

Tóm Tắt Tác Phẩm Chiếc Lược Ngà Lớp 9 Và Nêu Ý Nghĩa Tác Phẩm

(Văn mẫu lớp 9) – Anh chị hãy tóm tắt tác phẩm “Chiếc Lược Ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng và nêu ý nghĩa của tác phẩm – Bài làm văn của học sinh lớp 9B trường THCS Trần Phú

Đề bài: Tóm Tắt Tác Phẩm Chiếc Lược Ngà Lớp 9 Và Nêu Ý Nghĩa Tác Phẩm Chiếc Lược Ngà Của Nguyễn Quang Sáng

“Chiếc lược ngà” là được trích từ tập truyện cùng tên của nhà văn Nguyễn Quang Sáng viết vào năm 1966 khi tác giả đang hoạt động kháng chiến chồng Mỹ ở chiến trường Nam Bộ. Truyện ngắn xoay quanh câu chuyện của Ông Sáu và bé Thu sau 8 năm xa cách. Và chiếc lược ngà chính là cầu nối yêu thương cho tình cha con, là kỉ vật cuối cùng mà ông Sáu muốn gửi đến tận tay đứa con nhỏ của mình trước lúc hi sinh.

Chiến tranh miền Nam diễn ra, ông Sáu phải xa vợ con nhiều năm. Khi anh đi đứa con gái bé bỏng của ông vẫn còn nhỏ. Nên khi được cơ hội về nghỉ phép 3 ngày, bé Thu – con gái ông không nhận ra cha mình do trên mặt ông Sáu có một vết sẹo mới không còn giống như trong tấm ảnh bé được nhìn. Trong thời gian ở nhà, ông luôn kè kè bên cạnh con, mong muốn được vỗ về và cho con cảm giác có cha bên cạnh. Nhưng bé Thu không chịu nhận cha, càng ngày càng trở nên ương bướng hơn, hôm ông Sáu gắp cho bé một miếng trứng cá nhưng bé lại hất ra khiến ông vô cùng tức giận đã đánh cho.

Bé Thu buồn, khóc chạy sang nhà bà, kể lại hết mọi chuyện cho bà nghe. Bà đã giải thích cho bé hiểu nhưng đến khi Thu nhận ra cha, lúc tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em cũng là những giây phút cuối cùng trước khi ông Sáu trở lại chiến trường. Mọi người ai nấy đều thấy xúc động khi nhìn cảnh bé nhận cha. Khi ông Sáu đi bé Thu vòi cha mình mua tặng một chiếc lược.

Ông Sáu luôn nhớ mãi lời dặn của con gái mình. Trong một lần tình cờ, tiểu đội của ông săn được con voi, ông cưa lấy một khúc ngà,ngày ngày ông tỉ mẩn mài để làm cho con gái một cây lược. Lúc nào ông cũng đem chiếc lược ra ngắm để đỡ nhớ con gái nhỏ. Trong một trận chiến, ông Sau trúng đạn, trước lúc hy sinh ông giao lại cây lược cho một người đồng đội là ông Ba nhờ chuyển đến bé Thu món quà thiêng liêng này.

Ông Ba đã thực hiện ước nguyện của bạn mình khi đã hứa, trao lại chiếc lược ngà một cách cẩn thận cho bé Thu khi cô đã là cô giáo giao liên giỏi giang, dũng cảm. Kỉ vật của cha luôn được Thu mang theo bên mình như một báu vật.

Hình ảnh chiếc lược ngà được nhắc đến xuyên suốt toàn bộ câu chuyện. Nó vốn là một vật dụng tầm thường, để dùng chải tóc. Nhưng với cha con ông Sáu nó thật sự đáng trân quý, một kỉ vật thiêng liêng duy nhất còn lại của người cha yêu thương con gái vô cùng để lại trước lúc hi sinh,

Chiếc lược ngà chính là cầu nối giữa cái mất mát và cái tồn tại, kết tinh của tình phụ tử đơn sơ, kì diệu, một tình cảm bất tử giữa ông Sáu và bé Thu. Và nó cũng chính là một nhân chứng cho nổi đau, sự mất mát, thương vong mà chiến tranh gây ra cho dân tộc ta.

Ý Nghĩa Nhan Đề Các Tác Phẩm Văn Học Nổi Tiếng

Đời sống văn học luôn phong phú không chỉ ở nội dung cốt lõi của nó mà còn ở ý nghĩa nhan đề. Các tác giả luôn cân nhắc để cho ra một tác phẩm mang đậm dấu ấn ngay từ chính cái tên tác phẩm. Trong bài viết lời giải hay chúng ta cùng xem tổng hợp về ý nghĩa nhan đề của các tác phẩm văn học tiêu biểu chúng ta được học trong chương trình văn học.

Tổng hợp ý nghĩa nhan đề

Ý nghĩa nhan đề Vợ nhặt

“Vợ nhặt” là một cái tên mang đậm sự tò mò đối với người đọc. Thường thì người ta “nhặt” những thứ là đồ bỏ đi, “nhặt” những thứ rơi, thứ vãi. Nhưng ở đây lại là nhặt “vợ” – một con người bằng da bằng thịt, có hình có khối, có tâm tư và tình cảm. Người vợ nhặt như hạt rơi hạt vãi ở giữa dòng đời vịn vào câu nói đùa của Tràng để về làm vợ. Một mặt là để chạy trốn cái đói, cái chết đồng thời vừa là khao khát mong muốn có được một mái ấm gia đình.

“Vợ nhặt” vừa là cái tên đầy lý thú, hài hước vừa thể hiện nỗi xót xa cho tình cảnh và số phận của những con người trong nghèo đói. Tác phẩm được viết về nạn đói năm 1945 nên đặt tên nhan đề tác phẩm là  “Vợ nhặt” cũng rất hợp tình, hợp lý. Người ta cưới vợ, hỏi vợ và gả chồng thì Kim Lân lại mang một làn gió mới về cách nên duyên vợ chồng vừa hài hước vừa xót xa nhưng cũng là sự cảm thông cho số phận người nông dân trong nạn đói 1945.

Ý nghĩa nhan đề Đồng chí

Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ, con người ta không thể có những thứ tình cảm bên lề. Vì vậy tình “đồng chí” là một thứ tình cảm thiêng liêng và sâu đậm nhất. Nó giúp người lính vượt qua mọi gian nan, thử thách, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho các anh chiến đấu và tồn tại.

Ý nghĩa nhan đề Tức nước vỡ bờ

Mượn lời câu tục ngữ “tức nước vỡ bờ” tác giả đã đặt tên cho đoạn trích của Ngô Tất Tố trong tác phẩm “Tắt đèn”. “Tức nước vỡ bờ” chia làm hai vế rất rõ ràng. “Tức nước” là hình ảnh nước quá nhiều, không chứa nổi nữa; “vỡ bờ” là kết quả của việc “tức nước”. Ý nghĩa của nó là con người ta khi bị dồn đến bước đường cùng thì hậu quả của nó sẽ xảy ra rất nghiêm trọng.

Đặt vào hoàn cảnh nội dung của đoạn trích, chị Dậu là một người nông dân nghèo, hiền lành nhưng khi bị đẩy đến đỉnh điểm thì hành động của chị Dậu là kết quả tất yếu của sự nhẫn nhịn. Nhan đề thể hiện một quy luật khách quan của nhân loại “có áp bức có đấu tranh”. Con người trước cách mạng tháng Tám 1945 rất hiền lành, chân phác nhưng khi bị dồn đến bước đường cùng thì họ sẽ vùng lên đấu tranh, kháng cự.

Ý nghĩa nhan đề thuế máu

“Thuế máu” là tên đoạn trích nằm trong tác phẩm “Bản án chế độ Thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc. Thuế là tiền mà nhà nước, chính quyền thu để duy trì ngân sách nhà nước. Thời đại nào từ xa xưa cho đến ngày nay thì đều phải có thuế. Có các loại thuế mà mọi người thường nghe là thuế đường, thuế đất,.. nhưng ở đây lại là “thuế máu” – một thứ thuế gây ám ảnh cho biết bao con người trong thời đại lúc bấy giờ.

Thực dân Pháp chúng rất tàn bạo và hung ác, thứ thuế chúng nó đặt ra là “thuế máu” – thứ thuế như rút cạn kiệt sức lực của con người. Nhan đề là tiếng lòng của nhân dân, là bản án tố cáo tội ác vô cùng hung bạo của thực dân Pháp. Từ đó kêu gọi người dân hãy thức tỉnh, vùng dậy đấu tranh vì một thế giới hòa bình.

Ý nghĩa nhan đề Hoàng Lê Nhất Thống Chí

“Hoàng Lê Nhất Thống Chí” được hiểu là tác phẩm viết về sự thống nhất của vương triều nhà Lê. Tuy nhiên,  toàn bộ tác phẩm lại kể về công lao và sự khen ngợi đối với vị vua anh hùng Quang Trung. Đây là tác phẩm viết bằng chữ hán, ngoài sự thống nhất của vương triều nhà Lê thì nó còn ghi chép lại giai đoạn lịch sử vô cùng biến động của xã hội phong kiến Việt Nam những năm 30 thế kỉ XVIII.

Ý nghĩa nhan đề Sống chết mặc bay

Sống chết mặc bay thể hiện sự thờ ơ, vô trách nhiệm của quan phụ mẫu – người được coi là cha mẹ của dân. Trong tác phẩm “Sống chết mặc bay” Nguyễn Duy Tốn đã đưa ra rất nhiều hình ảnh cho thấy sự đối nghịch giữa một bên là cảnh dân khốn khổ chống đê vỡ với một bên là hình ảnh quan lại đương thời thờ ơ chơi bài mặc sự sống chết của dân.

Nhan đề thể hiện tội ác tày trời của quan phụ mẫu đương thời đồng thời còn là sự cảm thông chia sẻ của tác giả đối với sự lầm than của dân chúng. Nhan đề Sống chết mặc bay góp phần làm sáng tỏ giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm.

Ý nghĩa nhan đề Sang thu

“Sang thu” là nhan đề Hữu Thỉnh đặt thể hiện những tín hiệu chuyển mình rất tinh tế của mùa thu đồng bằng Bắc Bộ. Từ đó tác giả bày tỏ những rung cảm của mình về tình yêu thiên nhiên, tạo hóa tươi đẹp.

“Sang thu” chứ không phải “thu sang” nhằm nhấn mạnh vào hành động, kết quả là mùa thu đã sang, thể hiện những đặc trưng của đất trời trong khoảnh khắc giao mùa, làm cho người đọc có cảm giác tươi mới và tràn trề sức sống. Từ đó không chỉ thấy cái đẹp của thiên nhiên mà còn là cảm nhận tinh tế của con người về cuộc sống.

Thuật Ngữ –

Ý Nghĩa Nhan Đề Chiếc Thuyền Ngoài Xa

“Chiếc thuyền ngoài xa” là nhan đề một truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu, trước in trong tập Bến quê (1985), sau được dùng đặt tên cho cả tập truyện ngắn gồm 15 truyện do nhà xuất bản Tác phẩm mới ấn hành năm 1987. Thiên truyện được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học lớp 12 phổ thông, cả ban khoa học xã hội – nhân văn lẫn ban cơ bản.

Đặt vấn đề tìm hiểu ý nghĩa nhan đề một truyện ngắn hoàn toàn không phải là một cái gì mới mẻ bởi lẽ sự hoàn chỉnh về nội dung được thể hiện ngay trong ý nghĩa mà đầu đề văn bản chỉ ra, đặc biệt là với các văn bản nghệ thuật vốn thường mang những nhan đề hàm ẩn. Vậy nhan đề ấy – Chiếc thuyền ngoài xa- có ý nghĩa như thế nào?

Ý nghĩa nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa

Những nhan đề loại này đòi hỏi người tiếp nhận phải suy nghĩ, liên tưởng mới có thể hiểu được ý nghĩa của chúng. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người cho rằng nhan đề là nội dung cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản.

Trong văn học Việt Nam hiện đại, Nguyễn Minh Châu có vinh dự là người ” thuộc trong số những nhà văn mở đường tinh anh và tài năng nhất” ( Nguyên Ngọc) cho công cuộc đổi mới văn học sau 1975. Trong nhà trường, hai tác phẩm của Nguyễn Minh Châu đã được đưa bộ sách cải cách trước đây ( Bức tranh ở cấp trung học cơ sở và Mảnh trăng cuối rừng ở cấp trung học phổ thông) và lần thay sách này, giáo viên và học sinh lại được tiếp cận hai tác phẩm khác- Bến quê ở cấp trung học cơ sở và Chiếc thuyền ngoài xa ở trung học phổ thông.

Hầu như các truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Minh Châu trong chương trình trung học phổ thông đều mang những nhan đề vừa cụ thể lại vừa có ý nghĩa biểu tượng. Nếu như Mảnh trăng cuối rừng vừa là một hình ảnh thực được miêu tả trong truyện và trở đi trở lại nhiều lần, thành hình ảnh nổi bật và bao trùm toàn bộ khung cảnh của câu chuyện, vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho nữ nhân vật chính- Nguyệt thì ” Chiếc thuyền ngoài xa” cũng có phần giống như thế

1- Chiếc thuyền ngoài xa là chiếc thuyền thực hay chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật?

Phần vào chuyện kể trọn vẹn sự cần thiết phải có bức ảnh. Nguyên là người trưởng phòng của nhân vật ” tôi” ( tên là Phùng – nhân vật người kể chuyện) “là người sâu sắc, lại cũng lắm sáng kiến”, anh ta đã đề xuất yêu cầu ” Phải có một bộ sưu tập chuyên đề. 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển. Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật”. Suốt năm tháng ròng làm việc khá thông đồng bén giọt, tổ nhiếp ảnh nghệ thuật đã mang về không biết cơ man nào là ảnh nhưng cũng chỉ có 11 bức được lọt vào cặp mắt xanh của viên trưởng phòng ” sâu sắc nước đời”. Một bức ảnh thiếu hụt oái oăm kia được trưởng phòng tin cẩn giao cho ” tôi” phải săn tìm cho được. Mà là tấm ảnh chụp có ” sương biển” giữa mùa tháng bảy – dường như thường ” chỉ có bão táp với biển động”. Thật là một vụ gieo trồng trái thời vụ vì “tôi” quá biết ” Muốn lấy sương thì phải nghĩ đến từ tháng ba cơ!”.

Nhưng rồi ” khi nên trời cũng chiều người”, ” tôi” đã trở lại vùng biển chiến trường xưa, cách Hà Nội sáu trăm cây số” và vác máy nằm “phục kích” ở chính cái nơi mà ” dường như trong suốt dải bờ biển khắp cả nước, chỉ ở đây vào giữa tháng bảy là còn sương mù”. Đây cũng còn là quê của một đồng đội cũ của ” tôi”, giờ đang là Chánh án toàn án huyện. Thật là gồm đủ thiên thời, địa lợi, nhân hoà”. Và ” tôi” đã bỏ qua nhiều cảnh có ‘ không khí vui nhộn hơi thô lỗ và thật hùng tráng” để chớp lấy cái khoảnh khắc ” đắt” trời cho”. Đó là cảnh ” trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ loè nhoè vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn và trẻ con ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ…”. Nhà nghệ sĩ dạt dào một cảm hứng nghệ thuật, trải qua một khoảnh khắc yên-sĩ -phi -lí thuần tuyệt diệu: ” toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hoà và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và tòan bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào? (…). Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn.”. Và tuyệt tác đã ra đời trong sự hưng phấn nghệ thuật – ” cái khoảnh khắc hạnh phúc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”. Rất cần chú ý thành phần phụ chú ” do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại” trong lời kể chuyện. Niềm hạnh phúc của người nghệ sĩ chính là cái hạnh phúc của khám phá và sáng tạo, của cảm nhận cái đẹp tuyệt diệu. Dường như trong hình ảnh chiếc thuyền giữa biển mờ sương, anh đã bắt gặp cái tận Thiện, tận Mĩ, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên thật trong trẻo, tinh khôi bởi cái đẹp hài hoà, lãng mạn của cuộc đời

Như thế, xét riêng về công vụ, nhiệm vụ của “tôi” lúc này đã hoàn thành. “Tôi” đã có cảnh thuyền và biển trong sương đúng như đặt hàng của trưởng phòng, mặc dù giữa mùa tháng bảy! Và ‘ tôi” đã có thể ung dung ” nhảy lên tàu hoả trở về”. Nếu khéo liên hệ một tí, ta dễ thấy nếu như ” tôi” về ngay lúc đó khác nào cô Nguyệt ( trong Mảnh trăng cuối rừng) xuống xe ở cầu Đá Xanh.

Phần đầu truyện như thế đủ cho người đọc biết xuất xứ của bức ảnh nghệ thuật đặc sắc trên cuốn lịch năm mới kia ra đời thế nào. Và nếu nghĩ sâu xa hơn thì cũng cần bấy nhiêu ấy cũng đủ cho bộ môn lí luận nghệ thuật khái quát về công phu lao động của nghệ sĩ.

Phần kết truyện cho biết người trưởng phòng rất hài lòng với bức ảnh và bức ảnh không chỉ có tuổi thọ ngang với một cuốn lịch năm mà “mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp vẫn còn được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật”. Mở và kết truyện như vậy cho thấy, chiếc thuyền trong ” chiếc thuyền ngoài xa” là chiếc thuyền vừa có thực trong đời, vừa là chiếc thuyền trong bức ảnh nghệ thuật và nó cũng chính là một chi tiết nghệ thuật đắt, không dễ trong đời cầm máy ” tôi” đã có được may mắn thứ hai.

2- Tại sao lại là “chiếc thuyền ngoài xa”?

Theo dòng kể của ‘ tôi” rõ ràng chiếc thuyền được chụp trong một cự li tương đối gần – ” một chiếc thuyền lưới vó…đang chèo thẳng vào trước mặt tôi”- nhà nghệ sĩ nhìn rõ cả “những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó”. Người thưởng thức bức ảnh thông thường chắc không ai không cảm nhận chiếc thuyền đang được chụp trong một cự li gần như thế. Thế nhưng vì sao tác giả lại đặt nhan đề truyện là ” chiếc thuyền ngoài xa”?

Trở lại luận điểm ban đầu về đầu đề văn bản: Nhan đề là nội dung cô đọng, hàm súc, phản ánh trung thành nội dung văn bản. Có khi nhan đề phản ánh các đối tượng trình bày, có khi phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng, có khi lại là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố nhưng dù trong bất kì trường hợp nào, tất cả các nhan đề đều phải được rút ra, được khái quát từ chính nội dung văn bản. Nếu như nhan đề chỉ đơn thuần phản ánh các đối tượng thì hẳn chiếc thuyền trong ảnh không phải là ngoài xa! Phải chăng nhan đề đó phản ánh cách nhìn của tác giả đối với đối tượng.

Thật vậy, theo yêu cầu của trưởng phòng, bức ảnh phải săn tìm lần này “Không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật” nhưng bức ảnh chụp được lại có ‘ vài bóng người lớn lẫn trẻ con”. Như không sao, dù có người thì người cũng chỉ ” ngồi im phăng phắc như tượng”!

Điều đáng nói là bức ảnh như thế đã ghi nhận được cái gì? Quả là một bức ảnh đẹp được chụp từ một cự li khá gần nhưng cái cách tiếp cận ” thực tế”, tiếp cận ” nguyên mẫu” như thế là cách tiếp cận từ xa vì nhà nghệ sĩ chỉ thu được cái hình hài bên ngoài, cái thơ mộng bên ngoài của cảnh và người. Bởi vì ngay sau khi nhà nghệ sĩ ” săn tìm” được cái đẹp trong cuộc đời để sáng tạo ra cái đẹp nghệ thuật kia, thì anh ta đã phải chứng kiến một cảnh đời cay cực, ngang trái mà không một người bình thường nào có thể ngoảnh mặt làm ngơ, nói chi đến nghệ sĩ vốn được coi là những con người đa cảm, đa mang!

Là nghệ sĩ và đã từng là một người lính, chứng kiến cảnh thằng con – Phác- vì thương mẹ mà đánh lại cha, khi thì bằng chính chiếc thắt lưng của lính nguỵ mà người cha của nó dùng để đánh mẹ nó, khi thì định dùng cả “ám khí” là một con dao găm lận ‘ trong cạp quần đùi”, ” tôi” đã không khoanh tay ngồi nhìn vì ” bất luận trong hoàn cảnh nào, tôi cũng không cho phép hắn đánh một người đàn bà, cho dù đó là vợ và tự nguyện rúc vào trong xó bãi xe tăng kín đáo chio hắn đánh”. Và hậu quả là ‘ tôi” đã bị thương vì người chồng kia chống trả quyết liệt để tự vệ. Vậy cái cảnh thơ mộng đẹp đẽ mà ” tôi” thu được vào ống kính Pratica và cái cái cảnh đời ngang trái mà trong tư cách cựu chiến binh ” tôi” đã chứng kiến và tham dự cái nào cận nhân tình hơn? Do đó ảnh chụp chiếc thuyền thơ mộng kia chẳng phải là kết quả của lối tiếp cận hiện thực từ xa ư? Chiếc thuyền ngoài xa được chụp trong cự li gần là với ý nghĩa như vậy đó!

Chưa hết, do dưỡng thương và nể bạn nên ” tôi” nán lại thêm mấy hôm và chính lần này ” tôi” mới vỡ ra mọi lẽ. Chứng kiến buổi làm việc giữa Đẩu – người đồng đội cũ của ” tôi”, giờ là Chánh án toàn án huyện- và người phụ nữ khốn khổ kia, ‘ tôi mới vỡ ra nhiều lẽ. Thì ra nếu chiếc thuyền chụp được là ” từ xa” thì cái cảnh ” tôi” chứng kiến cũng chỉ là bề nổi của cuộc đời gia đình nhà chài nọ. Vì sao người phụ nữ phải cam chịu một bề, không chống trả những trận “đòn chồng” và cũng không chịu li dị, hiểu theo nghĩa nào đó là không chịu ” giải phóng” mình. Cái lí do chị đưa ra đã đưa hai người cựu chiến binh tốt bụng – một là một nghệ sĩ, một được mệnh danh là một Bao công- đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác:

-” Chị cảm ơn các chú! Đây là chị nói thành thực, chị cảm ơn các chú. Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc…”

– ” Bất kể lúc nào thấy khổ quá là lão ách tôi ra đánh, cũng như đàn ông thuyền khác uống rượu. giá mà lão uống rượu …thì tôi còn đỡ khổ…Sau này con cái lớn lên, tôi mới xin được với lão…đưa tôi lên bờ mà đánh”

– ” Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông …Cũng có khi biển động sóng gió chứ?”.

– ‘ Mong các chú lượng tình cho cái sự lạc hậu. Các chú đừng bắt tôi bỏ nó- vả lại, ở trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận vui vẻ”.

Cái vòng luẩn quẩn của những kiếp người cần lao quả thật đầy bất ngờ đối với ” tôi”, vốn đã trải qua mấy năm chiến đấu tại mảnh đất này, đã giải phóng mảnh đất này và hiện đang là nhà báo từng dong ruổi nhiều nơi! Và ” tôi” cũng nhận ra rằng vì sao ông lão ( cha người phụ nữ) làm nghề sơn tràng ” ở tận trên miền rừng A So” và thằng cháú ngoại lại hay xuất hiện ở miệt biển này và tại sao trong buổi sáng chia tay ” tôi” ông lão luôn “đặt hai con mắt đầy vẻ lo lắng ra ngoài mặt phá, nơi có chiếc thuyền”. Vậy, với tất cả những điều ấy, “chiếc thuyền nghệ thuật” của “tôi” nói được cái gì cận nhân tình chưa hay cũng chỉ là ” chiếc thuyền ngoài xa”? Nhan đề ấy phản ánh quan niệm, cách nhìn của tác giả đối với đối tượng.

Tóm lại, qua thiên truyện và cách đặt tên nhan đề, ta thấy nhân vật ” tôi” vẫn chưa hoàn toàn thoả mãn với những gì ống kính của mình đã thu được. Đằng sau bức ảnh chiếc thuyền thơ mộng ấy còn là những cuộc đời, những con người lầm lụi, khốn khổ đến quẫn trí và giải toả cái quẫn trí ấy bằng những giải pháp hết sức kì quặc. Bức ảnh “thuyền và biển” kia đã nói được gì đâu. Và đó là cách để nhà văn Nguyễn Minh Châu bộc lộ thiên hướng muốn nắm bắt hiện thực ở bề sâu ẩn kín chứa đầy những nghịch lí, mâu thuẫn của đời sống hậu chiến tranh và đó cũng là đặc điểm nổi bật mới mẻ của phong cách Nguyễn Minh Châu, người tiên phong tinh tường và tài ba trên hành trình đổi mới văn học nước nhà. Có thể hiểu ” Con thuyền ngoài xa” là những suy nghĩ da diết về chân lí nghệ thuật và đời sống. Chính khát vọng muốn tìm đến cái đẹp, cái hài hoà, muốn làm cho con người hạnh phúc nhiều khi đã đưa người ta đến chỗ giản đơn hoá không nhận ra cái thực tế khắc nghiệt thì suy cho cùng cũng chỉ là một kiểu ” lướt nhẹ trên bề mặt cuộc sống” chứ đâu đã là thứ nghệ thuật ” là tiếng đau khổ…thoát ra từ những kiếp lầm than” ( Nam Cao- Trăng sáng).

Từ đó, có thể phát hiện ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa: Khi con thuyền là đối tượng của nghệ thuật thì có thể được chiếm lĩnh từ xa, một khoảng cách đủ để tạo nên vẻ đẹp huyền ảo, nhưng sự thực cuộc đời cần phải được chiếm lĩnh ở cự li gần. Đừng vì nghệ thuật thuần tuý mà bỏ quên cuộc đời, bởi lẽ nghệ thuật chân chính luôn là cuộc đời và vì cuộc đời. Trước khi là một nghệ sĩ biết rung động trước cái đẹp, hãy là một con người biết yêu ghét, vui buồn trước cuộc đời, biết hành động để có một cuộc sống xứng đáng với con người. Với ý nghĩa ấy, phần nào gợi ra những liên tưởng tương đồng với truyện ” Trăng sáng” của nhà văn Nam Cao.

Bạn đang xem bài viết Ý Nghĩa Nhan Đề Tác Phẩm Chiếc Lược Ngà trên website Uplusgold.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!